Chương 47: Chu Phu Tử
Mùi trà bích loa xuân nghi ngút khói, hương thơm thanh khiết thoang thoảng lan tỏa khắp gian hậu đường nha môn huyện Thanh Hà. Lưu huyện lệnh khẽ nâng chén sứ men lam, nhấp một ngụm trà ấm rồi đặt nhẹ xuống mặt bàn gỗ tử đàn, phát ra một tiếng cách giòn tan. Ánh mắt vị quan phụ mẫu thoáng chùng xuống; vẻ mặt hân hoan vừa rồi khi bàn về chuyện giữ nguyên thuế khóa ba phần mười dần nhường chỗ cho một tiếng thở dài thảng thốt. Ông đưa tay vuốt nhẹ chòm râu dài trước ngực, ánh mắt đăm chiêu nhìn qua khung cửa sổ bằng lụa mỏng, nơi những rặng liễu xanh đang khẽ lay động trong làn gió trưa.
Diệp Lạc Hân ngồi bên bàn trà đối diện, khẽ nâng mi mắt nhìn vị quan tri huyện. Nàng đặt chén trà trong tay xuống đĩa, giọng trong trẻo mà điềm đạm cất lên thăm dò: "Đại nhân vừa bảo ngoài chuyện thuế má ba năm cố định, ngài vẫn còn một tin tốt lành thứ hai muốn dành cho thôn Thanh Sơn chúng dân phụ; chẳng hay tin tốt này có liên quan đến việc nông trang hay sinh kế của thôn chăng?"
Lưu huyện lệnh nghe hỏi liền thu lại ánh nhìn xa xăm, mỉm cười nhìn thẳng vào ba người nhà họ Tiêu, giọng ông trầm ấm pha chút xúc động: "Lần trước khi đến thôn Thanh Sơn các ngươi khảo sát tình hình ruộng đồng, bổn quan có nghe các ngươi và Lý chính thở vắn than dài; bảo rằng lão tiên sinh trong thôn tuổi tác đã cao, lại vừa ngã bệnh nặng liệt giường, khiến việc học hành của lũ trẻ có nguy cơ đứt gánh giữa đường. Mấy hôm trước, khi bổn quan đến phủ An Xương dâng nộp bản vẽ máy tách hạt, tình cờ gặp lại một người bạn học cũ thuở hàn vi. Vị này sau khi nghe ta giãi bày tình cảnh khốn khó của học đường chốn sơn cước, đã bằng lòng theo ta về huyện Thanh Hà, chịu hạ mình đến tận thôn Thanh Sơn nghèo nàn để đứng lớp dạy học."
Nghe đến đây, Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc và Tiêu Tùng đều đưa mắt nhìn nhau, trong lòng không khỏi bất ngờ tột độ. Tìm được một vị phu tử chịu về chốn thôn quê dạy học vốn khó như lên trời; người đọc sách thời nay chỉ cần có chút danh phận là đã chen chân vào các thư viện lớn nơi huyện thành hoặc làm gia sư cho các nhà quyền quý. Diệp Lạc Hân khẽ nghiêng đầu, cất lời thắc mắc: "Bằng hữu của đại nhân ư? Người có thể làm bạn đồng môn với quan phụ mẫu chắc hẳn phải là bậc danh sĩ đỗ đạt cao minh; hà cớ gì lại bằng lòng về một chốn thôn quê nghèo xơ xác, đường sá xa xôi để làm một chân phu tử dạy vỡ lòng cho lũ trẻ chăn trâu cắt cỏ?"
Tiêu Tùng bên cạnh cũng gãi đầu gãi tai, vẻ mặt chất phác bộc trực, không kìm được liền chen vào một câu: "Phải đấy đại nhân! Thôn chúng con nghèo rớt mồng tơi, lũ trẻ thì nghịch ngợm như quỷ sứ; người đọc sách có công danh ai nấy đều coi trọng thanh danh, vị tiên sinh này chịu về làng con, e rằng... ngay cả tú tài cũng chưa đỗ chăng?"
Lưu huyện lệnh nghe vậy liền xua xua tay lia lịa, nét mặt lộ rõ vẻ chua xót lẫn tiếc nuối vô ngần. Ông thở hắt ra một hơi dài, giọng đượm vẻ bi phẫn: "Không phải, hoàn toàn không phải! Người này họ Chu tên Chính, chính là bạn học cùng lớp thuở thiếu thời của bổn quan năm xưa. Trong kỳ thi viện thí năm đó, Chu Chính là người tài hoa xuất chúng nhất, đỗ đầu toàn bảng, danh chấn cả một vùng Quân Châu rộng lớn. Chỉ tiếc thay... tạo hóa trớ trêu, lòng người độc địa!"
Tiêu Tùng nghe đến hai chữ đỗ đầu bảng thì hai mắt mở to tròn xoe, lồng ngực đập thình thịch vì kinh ngạc, vội vã gặng hỏi dồn dập: "Đỗ đầu viện thí thì tiền đồ rộng mở thênh thang, rạng danh tổ tông, sao bây giờ lại lưu lạc đến nông nỗi này? Rốt cuộc năm xưa đã xảy ra chuyện dữ gì vậy đại nhân?"
Lưu huyện lệnh siết chặt chén trà men lam trong lòng bàn tay, ánh mắt đanh lại khi hồi tưởng về biến cố đẫm máu năm nào, giọng ông chùng xuống nghẹn ngào: "Năm đó Chu Chính vừa tròn mười bảy tuổi, tài danh vang dội khắp chốn sĩ lâm. Có một vị thiếu gia con nhà quyền quý cậy thế lắm tiền nhiều của nhưng học dốt như bò, muốn đem cả ngàn lượng bạc trắng ép Chu Chính phải làm bài thi hộ trong kỳ hương thí sắp tới. Chu Chính tính tình cương trực như cây tùng trên vách đá, thà chết chứ không chịu cúi đầu đồng lõa với phường gian lận, dứt khoát hất đổ chén rượu từ chối ngay trước mặt bao người. Lúc bấy giờ chúng ta đều nghĩ bụng chuyện trôi qua là xong, nào ngờ đâu tai họa ngập đầu cũng từ đó ập xuống."
Diệp Lạc Hân khẽ cau mày lại, nàng vốn là người thấu hiểu lòng dạ hiểm độc chốn nhân gian, lập tức đoán được đoạn sau bi thảm, giọng trầm lắng xuống: "Kẻ tiểu nhân ắt hẳn thẹn quá hóa giận, tìm cách trả thù hèn hạ sau lưng?"
Lưu huyện lệnh gật đầu thật mạnh, ánh mắt ánh lên ngọn lửa giận dữ ngùn ngụt: "Đúng vậy! Tròn nửa tháng sau khi y cự tuyệt kẻ gian, vào một đêm mưa gió dầm dề buốt giá, Chu Chính một thân một mình đi qua con ngõ vắng ở thành Quân Châu. Bỗng nhiên có năm sáu tên bịt mặt từ bóng tối lao ra, tay lăm lăm gậy gộc sắt thép xông vào vây đánh tàn nhẫn. Một thư sinh trói gà không chặt như y làm sao chống đỡ nổi? Tiếng gậy nện vào da thịt bì bọp; tiếng xương chân gãy răng rắc rợn người vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Bọn ác nhân đánh xong liền tháo chạy vào ngõ hẹp, bỏ mặc y nằm thoi thóp giữa vũng bùn lầy buốt giá. Quan huyện sở tại phái nha sai tra xét nửa tháng trời, rồi qua quýt kết luận là thổ phỉ trong núi thấy tiền nổi lòng tham, đánh người cướp của. Nhưng Chu Chính sau khi tỉnh lại đã nói với chúng ta; đêm hôm đó trên người y chỉ vỏn vẹn đúng mười đồng tiền rách rưới trong túi áo!"
Tiêu Tùng nghe đến đây liền đập mạnh tay xuống đầu gối kêu cái chát, nghiến răng ken két quát lên phẫn nộ: "Khốn nạn thật! Rõ ràng là lũ quyền quý thuê côn đồ đánh què chân người ta, thế mà quan lại địa phương lại trơ trẽn bao che như vậy! Đúng là lũ cướp ngày!"
Tiêu Mộc ngồi bên cạnh vẫn giữ vẻ trầm ngâm, đôi mắt sâu thẳm nhìn Lưu huyện lệnh, giọng điềm tĩnh cất lên phân tích: "Gãy một chân tuy tàn phế thân thể, nhưng với học vấn uyên thâm, Chu tiên sinh vẫn có thể tiếp tục lều chõng ứng thí, dùng ngòi bút rửa hận kia mà? Chẳng lẽ bọn chúng vẫn chưa chịu buông tha cho y?"
Lưu huyện lệnh thở dài sườn sượt, hai tay ôm lấy trán, lắc đầu não nề: "Ổ thổ phỉ đó sau này bị triều đình tiêu diệt sạch sẽ, nhưng kẻ chủ mưu thực sự thì vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Chu Chính nằm liệt giường dưỡng thương suốt một năm trời, đành ngậm ngùi bỏ lỡ kỳ thi hội năm sau. Đến ba năm sau đó, vết thương nơi chân đã lành lặn đôi phần, y chống gậy trúc, mang theo bao kỳ vọng của mẹ già gom góp tiền bạc lên đường đi thi lại. Nào ngờ vào đúng ngày vào trường thi, cổng trường vừa mở ra thì có kẻ nặc danh chỉ điểm tố cáo Chu Chính giấu tài liệu gian lận trong người. Quân lính khám xét lập tức ập tới xé tung đãy sách, bẻ đôi những chiếc bánh rán do chính tay người mẹ mù lòa thức trắng đêm chiên cho con mang theo. Hỡi ôi... bên trong lớp bột chiên giòn rụm ấy, người ta lôi ra những mảnh giấy dầu chép kín chữ nhỏ li ti!"
Tiêu Tùng há hốc mồm kinh hãi, giật nảy mình kêu lên một tiếng thất thanh: "Trời đất quỷ thần ơi! Lại là trò vu oan giá họa đê hèn! Bánh rán do mẹ già thức đêm làm, làm sao có thể giấu tài liệu gian lận được chứ?"
Lưu huyện lệnh chua xót tiếp lời, giọng nghẹn ứ nơi cổ họng: "Ai cũng hiểu là có kẻ gài bẫy, nhưng nhân chứng vật chứng rành rành trước mắt bàn dân thiên hạ! Chu Chính kêu gào đứt ruột đứt gan, gõ trống kêu oan đến tóe máu đầu ngón tay nhưng nào ai thèm đoái hoài? Y lập tức bị tước đoạt toàn bộ công danh Cử nhân, bị lột áo mũ nho sinh, bị nha sai dùng gậy xua đuổi khỏi trường thi như đuổi một con chuột cống bẩn thỉu. Từ một bậc Giải thủ viện thí tiền đồ vô lượng, Chu Chính phút chốc biến thành kẻ đê tiện mang tội danh gian lận thi cử bị muôn người phỉ nhổ. Khắp đất Quân Châu, từ phủ đường cho đến học quán thôn quê, không một nơi nào dám mở cửa dung nạp một kẻ mang án nhơ như y."
Diệp Lạc Hân nghe xong lồng ngực khẽ thắt lại, ánh mắt tràn đầy vẻ thương cảm sâu sắc: "Một người tài hoa ngút trời lại bị dìm xuống bùn đen nhơ nhuốc suốt ngần ấy năm trời; thế gian này quả thực có những nỗi oan khuất thấu tận trời xanh. Người thanh cao như Chu tiên sinh, làm sao có thể chịu nổi nỗi nhục nhã ê chề ấy suốt bao năm qua?"
Lưu huyện lệnh gật đầu, giọng đượm vẻ xót xa vô cùng: "Chu Chính lúc đó còn có một người mẹ già ngoài sáu mươi tuổi đau ốm liên miên. Để kiếm chén cơm manh áo nuôi mẹ, y phải cắn răng nuốt nhục, ngày ngày ngồi nép mình nơi góc chợ huyện chép sách thuê, viết thư thuê cho kẻ qua đường, kiếm từng đồng tiền còm cõi. Suốt hai mươi năm ròng rã chịu đựng lời gièm pha cay nghiệt, y vẫn một lòng chăm sóc mẹ già trọn đạo hiếu. Ba năm trước mẹ y qua đời, Chu Chính giữ tròn ba năm tang chế bên nấm mồ đất. Mới tháng trước, sau khi mãn tang, y gói ghém chiếc đãy sách cũ kỹ rời khỏi đất Quân Châu đau thương, lưu lạc đến phủ An Xương; đúng lúc bổn quan gặp lại."
Lưu huyện lệnh nhìn chăm chú vào Diệp Lạc Hân, ngập ngừng một lát rồi nói tiếp với vẻ áy náy: "Năm mười bảy tuổi đỗ Giải thủ, nay đã gần bốn mươi tuổi đầu; hai mươi năm dãi dầu sương gió, công danh tiêu tán, thân thể tàn tật, Chu Chính chẳng còn lại gì ngoài bụng đầy kinh luân và nét chữ phượng múa rồng bay. Bổn quan biết thôn Thanh Sơn các ngươi đang thiếu người dạy chữ, liền ngỏ lời mời y. Nhưng công danh của y đã bị triều đình tước đoạt, thân phận chỉ là một kẻ áo vải tật nguyền; không biết Tiêu gia và dân làng các ngươi có chê bai, có chịu mở rộng cửa tiếp nhận y hay không?"
Diệp Lạc Hân không hề do dự nửa khắc, nàng đứng dậy, giọng dứt khoát rành rọt từng lời: "Đại nhân nói vậy là quá coi thường người thôn quê chúng dân phụ rồi! Bậc tài hoa chính trực, thà gãy chân chứ không chịu gian dối, hiếu thảo vẹn toàn như Chu tiên sinh, chính là tấm gương sáng ngời cho con em noi theo. Trẻ con thôn Thanh Sơn nếu được một bậc danh sĩ như ngài ấy chỉ dạy, đó là đại phúc của cả thôn làng!"
Tiêu Tùng cũng đứng phắt dậy, vỗ ngực bồm bộp hưởng ứng nhiệt tình: "Tam đệ muội nói chí phải! Thôn chúng con mong còn chẳng được, làm sao dám chê bai nửa lời? Kẻ tiểu nhân hại người mới đáng khinh bỉ, còn bậc quân tử chịu oan như Chu tiên sinh, thôn Thanh Sơn chúng con tình nguyện rước về phụng dưỡng chu đáo!"
Lưu huyện lệnh nghe vậy mừng rỡ ra mặt, cười vang một tràng sảng khoái: "Tốt! Tốt lắm! Bổn quan quả nhiên không nhìn lầm người nhà họ Tiêu các ngươi! Các ngươi đợi một lát, bổn quan lập tức mời y vào đây diện kiến!"
Nói đoạn, quan tri huyện rảo bước đi ra sảnh sau. Chỉ một lát sau, tiếng bước chân khập khiễng nện từng nhịp cộc... cộc... khô khốc của chiếc gậy trúc trên thềm gạch hoa vang lên nhịp nhàng.
Một bóng người bước qua ngưỡng cửa hậu đường.
Diệp Lạc Hân chăm chú dõi mắt nhìn từng cử chỉ của người bước vào. Trước mắt nàng là một người đàn ông trung niên ngót nghét bốn mươi tuổi. Thân hình ông gầy guộc như cành lau mùa đông, hai hốc má hóp sâu, làn da mang màu sương gió dãi dầu. Ông khoác trên mình bộ y phục bằng vải thô màu lam nhạt, vạt áo đã giặt đến bạc trắng mép chỉ, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một nếp nhăn hay hạt bụi bẩn bám dính. Mái tóc hoa râm được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc; chòm râu dê dưới cằm được cắt tỉa đoan chính, thẳng thớm.
Điều khiến Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc phải thầm kinh ngạc chính là đôi mắt của ông. Trải qua hai mươi năm hàm oan, chịu đủ lăng nhục và khốn khó của cõi nhân gian, nhưng trong đôi mắt ấy không hề vương một tia oán hận, cay độc hay ti tiện. Ngược lại, ánh nhìn của Chu Chính tĩnh lặng như giếng cổ ngàn năm, sâu thẳm, sáng ngời và ngập tràn khí phách thanh cao của bậc túc nho chân chính.
Lưu huyện lệnh mỉm cười bước đến bên cạnh, khẽ giới thiệu: "Trọng Khiêm huynh, đây chính là Diệp nương tử cùng Tiêu nhị ca và Tiêu tam ca của thôn Thanh Sơn mà đệ đã kể với huynh lúc sáng."
Chu Chính dừng chân, khẽ tựa người vào chiếc gậy trúc, hai tay chắp lại trước ngực, cúi người hành một lễ nho gia vô cùng đoan trang, giọng ông trầm ấm, dõng dạc mà khiêm cung: "Tại hạ Chu Chính, hữu duyên được diện kiến chư vị nông gia. Nghe Lưu huynh kể về phong thổ thôn Thanh Sơn thuần hậu chất phác, tại hạ vô cùng hướng vọng. Chỉ sợ thân tàn học thiển, làm lỡ dở việc học của con em trong làng."
Diệp Lạc Hân vội vàng bước sang một bên, cùng Tiêu Mộc và Tiêu Tùng khom mình hoàn lễ đáp từ, giọng nàng cung kính: "Chu phu tử quá lời rồi! Tiên sinh học vấn uyên thâm, đức độ cao dày, chịu hạ cố về chốn thôn dã dạy bảo lũ trẻ con, đó là ân huệ to lớn của thôn làng chúng dân phụ. Có điều, thôn quê nghèo khó, đường sá gập ghềnh, điều kiện ăn ở nơi học đường còn nhiều thiếu thốn; mong tiên sinh lượng thứ cho."
Chu Chính khẽ mỉm cười, nụ cười đượm vẻ an nhiên tự tại: "Người đọc sách lấy đạo làm trọng, lấy đức làm nhà; rau dưa đạm bạc qua ngày, mái tranh che mưa che nắng là đủ, hà tất phải bận lòng chuyện giàu nghèo sang hèn? Nếu chư vị không chê bai kẻ tàn phế này, Chu mỗ xin nguyện cùng ba vị lên đường ngay bây giờ."
Nắng chiều bắt đầu ngả vàng rực rỡ trên những rặng cây dọc hai bên đường cái quan. Chiếc xe bò của Tiêu gia chở theo bốn người lộc cộc lăn bánh rời khỏi cổng huyện thành Thanh Hà.
Tiếng bánh xe gỗ nghiến trên nền đá sỏi phát ra những âm thanh lạo xạo; tiếng roi tre vung lên xé gió vun vút kèm theo tiếng giục bò trầm đục của Tiêu Tùng vang vọng khắp nẻo đường quê. Tiêu Mộc ngồi bên mép xe, cẩn thận đỡ lấy chiếc đãy sách cũ kỹ và bọc hành lý đơn sơ của Chu phu tử để tránh bị xóc nảy. Chu Chính ngồi thẳng lưng giữa thùng xe, ánh mắt đăm chiêu ngắm nhìn những cánh đồng lúa xanh mơn mởn trải dài tít tắp đến tận chân trời xa.
Gió chiều thổi lồng lộng qua vạt áo vải thô bay phần phật, mang theo mùi ngai ngái của bùn đất, hương thơm ngọt ngào của lúa non và cỏ dại. Diệp Lạc Hân ngồi đối diện, khẽ mở lời phá tan bầu không khí tĩnh lặng: "Thưa Chu phu tử, trong thôn chúng con hiện tại có hơn sáu mươi đứa trẻ đang theo học tại học đường. Nhưng vì nông gia bận rộn, vào mùa gieo cấy hay gặt hái, lũ trẻ thường phải ở nhà phụ giúp cha mẹ bốc thóc, chăn trâu; bởi thế học phí cũng chỉ có thể thu góp theo từng tháng đỗ đạt. Mong tiên sinh đừng vì thế mà phiền lòng."
Chu Chính quay đầu lại, khẽ gật đầu mỉm cười ôn hòa: "Diệp nương tử chớ lo. Trẻ con chốn thôn quê lấy hiếu đễ làm đầu, biết đỡ đần cha mẹ việc đồng áng chính là cái gốc của đạo làm người. Cổ nhân có câu: Hữu giáo vô loại; dạy học không cốt ở việc ép buộc chúng phải thi đỗ làm quan, mà cốt ở việc dạy chúng biết phân biệt phải trái đúng sai, biết đọc một lá thư, biết tính một món nợ, không để người đời lừa gạt. Chờ khi đến nơi, Chu mỗ sẽ đích thân khảo sát tư chất và học lực của từng đứa trẻ, từ đó mới định ra phương pháp dạy dỗ cho thích hợp."
Nghe những lời tâm huyết và thấu tình đạt lý ấy, Tiêu Mộc vốn ít nói cũng khẽ gật đầu tán thưởng, trong lòng dâng lên niềm kính trọng sâu sắc đối với vị tân phu tử.
Chiếc xe bò cứ thế lộc cộc đi qua những con dốc thoai thoải, vượt qua cây cầu gỗ bắc ngang con suối róc rách nước chảy, rồi chầm chậm tiến vào đầu làng thôn Thanh Sơn. Khói lam chiều từ những chái bếp rơm rạ bắt đầu bốc lên lượn lờ, quyện vào ráng chiều đỏ ối nơi sườn núi phía xa.
Lúc đi xe bò chỉ có ba người nhà họ Tiêu; lúc trở về trên xe lại có thêm một vị phu tử lạ mặt, áo dài khăn đóng chỉnh tề, khí độ nghiêm trang. Đám người làng đang gánh củi, dắt trâu hay nhóm phụ nhân ngồi giặt giũ bên bờ mương liền tròn xoe mắt tò mò. Tiếng bàn tán xôn xao, tiếng bước chân rậm rịch kéo theo sau đuôi xe bò mỗi lúc một đông, thẳng tiến về phía nhà Lý chính ở giữa làng.
Chiếc xe bò dừng lại kẽo kẹt trước cổng sân nhà Lý chính. Nghe tiếng ồn ào ngoài cổng, Lý chính vội vàng buông bát nước chè tươi, bước vội ra sân ngó nghiêng.
Vừa nhìn thấy Diệp Lạc Hân và anh em Tiêu gia dìu một người trung niên tay chống gậy trúc bước xuống xe, Lý chính liền ngẩn người ra hỏi lớn: "Tam nương tử, Mộc ca nhi, Tùng ca nhi; các ngươi lên huyện trở về sao lại đưa theo vị khách quý này?"
Diệp Lạc Hân bước lên trước một bước, mỉm cười dõng dạc giới thiệu cho cả sân cùng nghe: "Thưa Lý chính bá bá, thưa bà con lối xóm! Đây là Chu Chính, Chu phu tử; bạn học cũ của Lưu huyện lệnh đại nhân. Huyện lệnh đại nhân biết tin Khổng phu tử trong thôn chúng ta tuổi già sức yếu, học đường có nguy cơ gián đoạn, nên đã đích thân giới thiệu Chu phu tử về thôn Thanh Sơn chúng ta để tiếp quản việc dạy dỗ cho con em trong làng!"
Lời vừa dứt, cả khoảng sân nhà Lý chính như vỡ òa trong tiếng xuýt xoa kinh ngạc! Người người nhìn nhau bàn tán sôi nổi: "Trời đất ơi! Là bạn học của quan huyện lệnh đấy!" Một người khác chêm vào: "Người do đích thân huyện lệnh đại nhân gửi gắm về làng ta, thảo nào khí chất phi phàm đến thế!"
Dân làng đứng vây quanh không ngớt lời xì xào trầm trồ nể phục. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Chu Chính. Tuy thân hình ông gầy gò, một chân hơi khập khiễng phải tựa vào gậy trúc, nhưng dáng đứng thẳng tắp như cây thông trên vách đá; râu tóc ngay ngắn, phong thái toát lên vẻ tiên phong đạo cốt, khí khái ngời ngời khác xa những kẻ học đòi chữ nghĩa tầm thường nơi chợ búa.
Lý chính mừng rỡ đến mức hai bàn tay run lên bần bật, vội vàng chắp tay vái dài một cái: "Ôi chao! Thật là phúc đức lớn lao cho thôn Thanh Sơn chúng tôi! Chu tiên sinh không chê chốn đồng hoang cỏ cháy này mà quang lâm tới đây, lão hủ xin thay mặt toàn thể dân làng tạ ơn tiên sinh, tạ ơn huyện lệnh đại nhân!"
Chu Chính vội buông một tay vịn gậy, nghiêng mình đáp lễ: "Lý chính đại thúc chớ quá đa lễ. Chu mỗ hữu duyên về đây, chỉ mong góp chút sức mọn mở mang trí tuệ cho lũ trẻ, mong được bá tánh giúp đỡ nhiều hơn."
Nhìn thấy phong thái nhã nhặn, khiêm nhường mà đĩnh đạc của Chu Chính, Lý chính cùng toàn thể dân làng càng thêm bội phần nể phục kính trọng. Lý chính ngẩng đầu nhìn trời, thấy mặt trời đã bắt đầu khuất sau ngọn núi phía tây, liền vội vã cất lời: "Nhân lúc trời còn chưa tối hẳn, lão hủ xin phép dẫn tiên sinh đến học đường xem qua nơi ăn chốn ở trước. Học đường nằm ở mạn đông của thôn, yên tĩnh thoáng đãng lắm!"
Nói đoạn, Lý chính hăm hở dẫn đường, Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc, Tiêu Tùng và Chu Chính rảo bước theo sau. Đi trên con đường làng rải đá dăm, Lý chính vừa đi vừa hào hứng kể tường tận: "Học đường thôn ta trước đây có hơn sáu mươi đứa trẻ theo học. Nhưng Khổng phu tử tuổi già nhiều bệnh, dạo gần đây bệnh tình trở nặng liệt giường, lũ trẻ đành phải tạm thời nghỉ học ở nhà chăn trâu. Trong số đó có mười mấy đứa sáng dạ lắm, Khổng phu tử khen mãi; nay có Chu tiên sinh về đây tiếp quản, thật không còn gì may mắn hơn!"
Chu Chính vừa chống gậy bước đi từng bước vững chãi, vừa lắng nghe chăm chú, thỉnh thoảng khẽ gật đầu ghi nhận lời nói của người trưởng thôn.
Con đường đất nhỏ uốn lượn men theo rặng tre xào xạc trong gió chiều, dẫn lối đến một khoảng sân đất rộng rãi rợp bóng cây bàng cổ thụ. Đó chính là học đường thôn Thanh Sơn. Gian nhà học phía trước gồm ba gian lợp ngói âm dương đã nhuốm màu rêu phong cổ kính; bên trong kê những dãy bàn ghế gỗ mộc mạc, mặt bàn nhẵn bóng vì mồ hôi của bao thế hệ học trò. Giờ phút này không có tiếng ê a đọc sách, cả khu học đường chìm trong vẻ tĩnh mịch đến nao lòng.
Từ gian chái nhà phía sau học đường - nơi ở của Khổng phu tử - một làn khói lam mỏng manh lượn lờ bốc lên không trung, mang theo mùi thuốc bắc ngai ngái nồng nặc lan tỏa khắp không gian.
Cả đoàn người bước qua cổng rào tre tiến vào sân sau. Tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi làm kinh động một bóng người đang ngồi lom khom bên hiên nhà. Đó là một gã sai vặt câm, khoảng ngoài ba mươi tuổi, mặt mũi lem luốc vệt than đen, đang ngồi quạt lò đất sắc thuốc. Chiếc siêu đất trên bếp lò đang sôi ùng ục ùng ục, nắp vung nhảy lạch cạch, phì phì nhả ra từng luồng hơi thuốc nóng hổi đắng ngắt.
Thấy một đoàn người đông đúc đột ngột bước vào sân, người hầu câm giật mình đánh thót, vội vàng buông chiếc quạt nan rách, đứng bật dậy với vẻ mặt đầy cảnh giác và lúng túng.
Lý chính xua xua tay, cất giọng ôn tồn trấn an: "A Câm, đừng sợ! Không có chuyện gì xấu đâu! Lão hủ đưa vị tân phu tử do huyện lệnh đại nhân giới thiệu đến thăm học đường. Khổng phu tử trong phòng hôm nay sức khỏe thế nào rồi? Đã đỡ chút nào chưa?"
Người câm nghe vậy liền thở phào nhẹ nhõm, vội vàng chắp hai tay trước ngực cúi đầu chào, rồi huơ huơ đôi bàn tay gầy guộc ra hiệu chỉ về phía gian phòng ngủ đóng kín cửa liếp nứa, miệng ú ớ phát ra những âm thanh nghẹn ngào trong cổ họng, ý mời mọi người cùng vào trong thăm bệnh.
Từ bên trong gian phòng u tối, bỗng truyền ra vài tiếng ho húng hắng yếu ớt, ngắt quãng; nghe khô khốc và mệt mỏi khôn xiết. Lý chính khẽ thở dài, rón rén bước lên thềm đất, nhẹ nhàng đẩy cánh cửa liếp kêu một tiếng kẽo kẹt rợn người, rồi quay đầu ra hiệu cho mọi người cùng bước vào bên trong.
Gian phòng ngủ của Khổng phu tử bày biện vô cùng đơn sơ, bốn bề tường đất trát vôi đã bong tróc từng mảng lớn. Trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ chất đầy những chồng sách thẻ tre và sách giấy đóng gáy chỉ đã ố vàng theo năm tháng; một chiếc nghiên mực đá mài lõm sâu và vài ngọn bút lông cùn treo trên giá tre mộc mạc. Không khí trong phòng nồng nặc mùi thuốc bắc pha lẫn mùi ẩm mốc của người già lâm bệnh lâu ngày.
Trên chiếc giường gỗ trải chiếu manh mộc mạc, một ông lão râu tóc bạc phơ như cước đang nằm đắp chiếc chăn bông sờn rách. Khuôn mặt Khổng phu tử gầy rộc hốc hác, hai mắt nhắm nghiền, đôi môi khô nứt nẻ, lồng ngực phập phồng yếu ớt theo từng nhịp thở dốc nhọc nhằn.
Lý chính khẽ khàng bước đến bên mép giường, cẩn thận kéo lại góc chăn bị xộc xệch, rồi cất giọng trầm ấm, dịu dàng gọi khẽ: "Khổng phu tử... Phu tử ơi, người đã tỉnh chưa? Hôm nay người cảm thấy trong mình thế nào rồi? Lão hủ đưa khách quý đến thăm người đây."
Nghe tiếng gọi quen thuộc, mí mắt của Khổng phu tử khẽ động đậy. Ông lão từ từ mở cặp mắt đục ngầu, mệt mỏi nhìn về phía Lý chính, khẽ gật đầu một cái xem như đáp lời. Sau đó, ánh mắt đờ đẫn của lão phu tử chầm chậm dời sang phía sau Lý chính, quét qua gương mặt của Diệp Lạc Hân, Tiêu Mộc, Tiêu Tùng...
Và rồi, ánh mắt ấy dừng lại sững sờ trên bóng hình người đàn ông trung niên mặc áo vải thô màu lam nhạt đang đứng tựa vào chiếc gậy trúc nơi cửa phòng.
Khoảnh khắc hai ánh mắt giao nhau giữa khoảng không mờ ảo của gian phòng tối, dường như cả đất trời đều ngưng đọng lại!
Khổng phu tử cả người bỗng nhiên run rẩy kịch liệt, đôi mắt đục ngầu đột ngột mở trừng trừng, tròng mắt ánh lên tia chấn động kinh hoàng như không dám tin vào những gì mình đang nhìn thấy!
Mà ở phía đối diện, Chu Chính cũng chết lặng toàn thân.
Đôi bàn tay gầy guộc của Chu Chính run lên bần bật đến mức không còn giữ nổi chiếc gậy trúc.
Cộp!
Chiếc gậy trúc khô khốc rơi tuột khỏi tay, đập mạnh xuống nền đất nện phát ra một tiếng vang chát chúa!
Gương mặt phong trần sương gió của Chu Chính trong chớp mắt biến đổi vặn vẹo vì xúc động tột cùng. Đôi môi ông run rẩy dữ dội, lồng ngực phập phồng như muốn nổ tung, hai dòng nước mắt nóng hổi bỗng chốc trào ra từ khóe mắt sâu hoắm, lăn dài trên đôi gò má hốc hác.
Trước sự sững sờ chết lặng của Lý chính, Diệp Lạc Hân và anh em Tiêu gia, Chu Chính không màng đến chiếc chân tàn tật đau nhức, ông lảo đảo bước nhào tới ba bước, rồi quỳ sụp cả hai đầu gối xuống nền đất lạnh buốt ngay bên cạnh giường bệnh!
Bịch một tiếng nặng nề vang lên!
Chu Chính vươn hai bàn tay gầy gò run rẩy nắm chặt lấy bàn tay khô héo gầy trơ xương của Khổng phu tử đang run lên trên mép chăn. Ông dập đầu một cái thật mạnh, trán chạm sát mép giường gỗ, rồi ngẩng lên, bật ra tiếng khóc nghẹn ngào xé ruột xé gan: "Tiên sinh!... Trời cao có mắt... Học trò... học trò cuối cùng cũng tìm được người rồi! Tiên sinh ơi!..."
Tiếng kêu xé lòng của Chu Chính vang vọng khắp gian phòng nhỏ, khiến tất cả những người có mặt đều bàng hoàng chết lặng!
Lý chính đứng chôn chân tại chỗ, hai mắt mở to trừng trừng, miệng há hốc không thốt nên lời. Tiêu Tùng ngây dại người ra, ngơ ngác nhìn Diệp Lạc Hân và Tiêu Mộc. Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc đưa mắt nhìn nhau, trong lòng dấy lên những đợt sóng cuộn trào kinh ngạc. Chu Chính là người gốc Quân Châu, từng đỗ Giải thủ viện thí; còn Khổng phu tử đã đến thôn Thanh Sơn dạy học ẩn dật gần hai mươi năm ròng rã, chưa từng một lần nhắc về gốc tích hay quá khứ của mình với bất kỳ ai trong thôn. Sao một vị phu tử từ An Xương xa xôi vừa bước chân vào cửa, lại có thể quỳ lạy gọi Khổng phu tử là Tiên sinh một cách tha thiết và bi thương đến nhường này?
Mối quan hệ sâu kín giữa hai con người này rốt cuộc là gì?
Căn phòng chìm vào một khoảng lặng chết chóc, tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng củi nổ lách tách ngoài lò đất và tiếng lá tre xào xạc cọ vào mái ngói sau vườn.
Trên giường bệnh, Khổng phu tử run rẩy thở dốc. Đôi bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi của lão phu tử khẽ siết chặt lấy những ngón tay của Chu Chính. Ánh mắt ông lão đục ngầu ngân ngấn nước, vừa xót xa đau đớn, vừa ngập tràn nỗi bàng hoàng lo sợ khôn nguôi.
Khổng phu tử cố gắng gượng dậy, nhưng thân thể suy kiệt khiến ông lại ngã quỵ xuống gối. Đôi môi khô nứt nẻ của ông mấp máy hồi lâu, rồi cất lên một giọng nói thều thào, yếu ớt nhưng run rẩy đến tận cùng tâm can: "Chu Chính... Ngươi... Sao ngươi... lại đến nơi này?..."
Mùi trà bích loa xuân nghi ngút khói, hương thơm thanh khiết thoang thoảng lan tỏa khắp gian hậu đường nha môn huyện Thanh Hà. Lưu huyện lệnh khẽ nâng chén sứ men lam, nhấp một ngụm trà ấm rồi đặt nhẹ xuống mặt bàn gỗ tử đàn, phát ra một tiếng cách giòn tan. Ánh mắt vị quan phụ mẫu thoáng chùng xuống; vẻ mặt hân hoan vừa rồi khi bàn về chuyện giữ nguyên thuế khóa ba phần mười dần nhường chỗ cho một tiếng thở dài thảng thốt. Ông đưa tay vuốt nhẹ chòm râu dài trước ngực, ánh mắt đăm chiêu nhìn qua khung cửa sổ bằng lụa mỏng, nơi những rặng liễu xanh đang khẽ lay động trong làn gió trưa.
Diệp Lạc Hân ngồi bên bàn trà đối diện, khẽ nâng mi mắt nhìn vị quan tri huyện. Nàng đặt chén trà trong tay xuống đĩa, giọng trong trẻo mà điềm đạm cất lên thăm dò: "Đại nhân vừa bảo ngoài chuyện thuế má ba năm cố định, ngài vẫn còn một tin tốt lành thứ hai muốn dành cho thôn Thanh Sơn chúng dân phụ; chẳng hay tin tốt này có liên quan đến việc nông trang hay sinh kế của thôn chăng?"
Lưu huyện lệnh nghe hỏi liền thu lại ánh nhìn xa xăm, mỉm cười nhìn thẳng vào ba người nhà họ Tiêu, giọng ông trầm ấm pha chút xúc động: "Lần trước khi đến thôn Thanh Sơn các ngươi khảo sát tình hình ruộng đồng, bổn quan có nghe các ngươi và Lý chính thở vắn than dài; bảo rằng lão tiên sinh trong thôn tuổi tác đã cao, lại vừa ngã bệnh nặng liệt giường, khiến việc học hành của lũ trẻ có nguy cơ đứt gánh giữa đường. Mấy hôm trước, khi bổn quan đến phủ An Xương dâng nộp bản vẽ máy tách hạt, tình cờ gặp lại một người bạn học cũ thuở hàn vi. Vị này sau khi nghe ta giãi bày tình cảnh khốn khó của học đường chốn sơn cước, đã bằng lòng theo ta về huyện Thanh Hà, chịu hạ mình đến tận thôn Thanh Sơn nghèo nàn để đứng lớp dạy học."
Nghe đến đây, Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc và Tiêu Tùng đều đưa mắt nhìn nhau, trong lòng không khỏi bất ngờ tột độ. Tìm được một vị phu tử chịu về chốn thôn quê dạy học vốn khó như lên trời; người đọc sách thời nay chỉ cần có chút danh phận là đã chen chân vào các thư viện lớn nơi huyện thành hoặc làm gia sư cho các nhà quyền quý. Diệp Lạc Hân khẽ nghiêng đầu, cất lời thắc mắc: "Bằng hữu của đại nhân ư? Người có thể làm bạn đồng môn với quan phụ mẫu chắc hẳn phải là bậc danh sĩ đỗ đạt cao minh; hà cớ gì lại bằng lòng về một chốn thôn quê nghèo xơ xác, đường sá xa xôi để làm một chân phu tử dạy vỡ lòng cho lũ trẻ chăn trâu cắt cỏ?"
Tiêu Tùng bên cạnh cũng gãi đầu gãi tai, vẻ mặt chất phác bộc trực, không kìm được liền chen vào một câu: "Phải đấy đại nhân! Thôn chúng con nghèo rớt mồng tơi, lũ trẻ thì nghịch ngợm như quỷ sứ; người đọc sách có công danh ai nấy đều coi trọng thanh danh, vị tiên sinh này chịu về làng con, e rằng... ngay cả tú tài cũng chưa đỗ chăng?"
Lưu huyện lệnh nghe vậy liền xua xua tay lia lịa, nét mặt lộ rõ vẻ chua xót lẫn tiếc nuối vô ngần. Ông thở hắt ra một hơi dài, giọng đượm vẻ bi phẫn: "Không phải, hoàn toàn không phải! Người này họ Chu tên Chính, chính là bạn học cùng lớp thuở thiếu thời của bổn quan năm xưa. Trong kỳ thi viện thí năm đó, Chu Chính là người tài hoa xuất chúng nhất, đỗ đầu toàn bảng, danh chấn cả một vùng Quân Châu rộng lớn. Chỉ tiếc thay... tạo hóa trớ trêu, lòng người độc địa!"
Tiêu Tùng nghe đến hai chữ đỗ đầu bảng thì hai mắt mở to tròn xoe, lồng ngực đập thình thịch vì kinh ngạc, vội vã gặng hỏi dồn dập: "Đỗ đầu viện thí thì tiền đồ rộng mở thênh thang, rạng danh tổ tông, sao bây giờ lại lưu lạc đến nông nỗi này? Rốt cuộc năm xưa đã xảy ra chuyện dữ gì vậy đại nhân?"
Lưu huyện lệnh siết chặt chén trà men lam trong lòng bàn tay, ánh mắt đanh lại khi hồi tưởng về biến cố đẫm máu năm nào, giọng ông chùng xuống nghẹn ngào: "Năm đó Chu Chính vừa tròn mười bảy tuổi, tài danh vang dội khắp chốn sĩ lâm. Có một vị thiếu gia con nhà quyền quý cậy thế lắm tiền nhiều của nhưng học dốt như bò, muốn đem cả ngàn lượng bạc trắng ép Chu Chính phải làm bài thi hộ trong kỳ hương thí sắp tới. Chu Chính tính tình cương trực như cây tùng trên vách đá, thà chết chứ không chịu cúi đầu đồng lõa với phường gian lận, dứt khoát hất đổ chén rượu từ chối ngay trước mặt bao người. Lúc bấy giờ chúng ta đều nghĩ bụng chuyện trôi qua là xong, nào ngờ đâu tai họa ngập đầu cũng từ đó ập xuống."
Diệp Lạc Hân khẽ cau mày lại, nàng vốn là người thấu hiểu lòng dạ hiểm độc chốn nhân gian, lập tức đoán được đoạn sau bi thảm, giọng trầm lắng xuống: "Kẻ tiểu nhân ắt hẳn thẹn quá hóa giận, tìm cách trả thù hèn hạ sau lưng?"
Lưu huyện lệnh gật đầu thật mạnh, ánh mắt ánh lên ngọn lửa giận dữ ngùn ngụt: "Đúng vậy! Tròn nửa tháng sau khi y cự tuyệt kẻ gian, vào một đêm mưa gió dầm dề buốt giá, Chu Chính một thân một mình đi qua con ngõ vắng ở thành Quân Châu. Bỗng nhiên có năm sáu tên bịt mặt từ bóng tối lao ra, tay lăm lăm gậy gộc sắt thép xông vào vây đánh tàn nhẫn. Một thư sinh trói gà không chặt như y làm sao chống đỡ nổi? Tiếng gậy nện vào da thịt bì bọp; tiếng xương chân gãy răng rắc rợn người vang lên xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Bọn ác nhân đánh xong liền tháo chạy vào ngõ hẹp, bỏ mặc y nằm thoi thóp giữa vũng bùn lầy buốt giá. Quan huyện sở tại phái nha sai tra xét nửa tháng trời, rồi qua quýt kết luận là thổ phỉ trong núi thấy tiền nổi lòng tham, đánh người cướp của. Nhưng Chu Chính sau khi tỉnh lại đã nói với chúng ta; đêm hôm đó trên người y chỉ vỏn vẹn đúng mười đồng tiền rách rưới trong túi áo!"
Tiêu Tùng nghe đến đây liền đập mạnh tay xuống đầu gối kêu cái chát, nghiến răng ken két quát lên phẫn nộ: "Khốn nạn thật! Rõ ràng là lũ quyền quý thuê côn đồ đánh què chân người ta, thế mà quan lại địa phương lại trơ trẽn bao che như vậy! Đúng là lũ cướp ngày!"
Tiêu Mộc ngồi bên cạnh vẫn giữ vẻ trầm ngâm, đôi mắt sâu thẳm nhìn Lưu huyện lệnh, giọng điềm tĩnh cất lên phân tích: "Gãy một chân tuy tàn phế thân thể, nhưng với học vấn uyên thâm, Chu tiên sinh vẫn có thể tiếp tục lều chõng ứng thí, dùng ngòi bút rửa hận kia mà? Chẳng lẽ bọn chúng vẫn chưa chịu buông tha cho y?"
Lưu huyện lệnh thở dài sườn sượt, hai tay ôm lấy trán, lắc đầu não nề: "Ổ thổ phỉ đó sau này bị triều đình tiêu diệt sạch sẽ, nhưng kẻ chủ mưu thực sự thì vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Chu Chính nằm liệt giường dưỡng thương suốt một năm trời, đành ngậm ngùi bỏ lỡ kỳ thi hội năm sau. Đến ba năm sau đó, vết thương nơi chân đã lành lặn đôi phần, y chống gậy trúc, mang theo bao kỳ vọng của mẹ già gom góp tiền bạc lên đường đi thi lại. Nào ngờ vào đúng ngày vào trường thi, cổng trường vừa mở ra thì có kẻ nặc danh chỉ điểm tố cáo Chu Chính giấu tài liệu gian lận trong người. Quân lính khám xét lập tức ập tới xé tung đãy sách, bẻ đôi những chiếc bánh rán do chính tay người mẹ mù lòa thức trắng đêm chiên cho con mang theo. Hỡi ôi... bên trong lớp bột chiên giòn rụm ấy, người ta lôi ra những mảnh giấy dầu chép kín chữ nhỏ li ti!"
Tiêu Tùng há hốc mồm kinh hãi, giật nảy mình kêu lên một tiếng thất thanh: "Trời đất quỷ thần ơi! Lại là trò vu oan giá họa đê hèn! Bánh rán do mẹ già thức đêm làm, làm sao có thể giấu tài liệu gian lận được chứ?"
Lưu huyện lệnh chua xót tiếp lời, giọng nghẹn ứ nơi cổ họng: "Ai cũng hiểu là có kẻ gài bẫy, nhưng nhân chứng vật chứng rành rành trước mắt bàn dân thiên hạ! Chu Chính kêu gào đứt ruột đứt gan, gõ trống kêu oan đến tóe máu đầu ngón tay nhưng nào ai thèm đoái hoài? Y lập tức bị tước đoạt toàn bộ công danh Cử nhân, bị lột áo mũ nho sinh, bị nha sai dùng gậy xua đuổi khỏi trường thi như đuổi một con chuột cống bẩn thỉu. Từ một bậc Giải thủ viện thí tiền đồ vô lượng, Chu Chính phút chốc biến thành kẻ đê tiện mang tội danh gian lận thi cử bị muôn người phỉ nhổ. Khắp đất Quân Châu, từ phủ đường cho đến học quán thôn quê, không một nơi nào dám mở cửa dung nạp một kẻ mang án nhơ như y."
Diệp Lạc Hân nghe xong lồng ngực khẽ thắt lại, ánh mắt tràn đầy vẻ thương cảm sâu sắc: "Một người tài hoa ngút trời lại bị dìm xuống bùn đen nhơ nhuốc suốt ngần ấy năm trời; thế gian này quả thực có những nỗi oan khuất thấu tận trời xanh. Người thanh cao như Chu tiên sinh, làm sao có thể chịu nổi nỗi nhục nhã ê chề ấy suốt bao năm qua?"
Lưu huyện lệnh gật đầu, giọng đượm vẻ xót xa vô cùng: "Chu Chính lúc đó còn có một người mẹ già ngoài sáu mươi tuổi đau ốm liên miên. Để kiếm chén cơm manh áo nuôi mẹ, y phải cắn răng nuốt nhục, ngày ngày ngồi nép mình nơi góc chợ huyện chép sách thuê, viết thư thuê cho kẻ qua đường, kiếm từng đồng tiền còm cõi. Suốt hai mươi năm ròng rã chịu đựng lời gièm pha cay nghiệt, y vẫn một lòng chăm sóc mẹ già trọn đạo hiếu. Ba năm trước mẹ y qua đời, Chu Chính giữ tròn ba năm tang chế bên nấm mồ đất. Mới tháng trước, sau khi mãn tang, y gói ghém chiếc đãy sách cũ kỹ rời khỏi đất Quân Châu đau thương, lưu lạc đến phủ An Xương; đúng lúc bổn quan gặp lại."
Lưu huyện lệnh nhìn chăm chú vào Diệp Lạc Hân, ngập ngừng một lát rồi nói tiếp với vẻ áy náy: "Năm mười bảy tuổi đỗ Giải thủ, nay đã gần bốn mươi tuổi đầu; hai mươi năm dãi dầu sương gió, công danh tiêu tán, thân thể tàn tật, Chu Chính chẳng còn lại gì ngoài bụng đầy kinh luân và nét chữ phượng múa rồng bay. Bổn quan biết thôn Thanh Sơn các ngươi đang thiếu người dạy chữ, liền ngỏ lời mời y. Nhưng công danh của y đã bị triều đình tước đoạt, thân phận chỉ là một kẻ áo vải tật nguyền; không biết Tiêu gia và dân làng các ngươi có chê bai, có chịu mở rộng cửa tiếp nhận y hay không?"
Diệp Lạc Hân không hề do dự nửa khắc, nàng đứng dậy, giọng dứt khoát rành rọt từng lời: "Đại nhân nói vậy là quá coi thường người thôn quê chúng dân phụ rồi! Bậc tài hoa chính trực, thà gãy chân chứ không chịu gian dối, hiếu thảo vẹn toàn như Chu tiên sinh, chính là tấm gương sáng ngời cho con em noi theo. Trẻ con thôn Thanh Sơn nếu được một bậc danh sĩ như ngài ấy chỉ dạy, đó là đại phúc của cả thôn làng!"
Tiêu Tùng cũng đứng phắt dậy, vỗ ngực bồm bộp hưởng ứng nhiệt tình: "Tam đệ muội nói chí phải! Thôn chúng con mong còn chẳng được, làm sao dám chê bai nửa lời? Kẻ tiểu nhân hại người mới đáng khinh bỉ, còn bậc quân tử chịu oan như Chu tiên sinh, thôn Thanh Sơn chúng con tình nguyện rước về phụng dưỡng chu đáo!"
Lưu huyện lệnh nghe vậy mừng rỡ ra mặt, cười vang một tràng sảng khoái: "Tốt! Tốt lắm! Bổn quan quả nhiên không nhìn lầm người nhà họ Tiêu các ngươi! Các ngươi đợi một lát, bổn quan lập tức mời y vào đây diện kiến!"
Nói đoạn, quan tri huyện rảo bước đi ra sảnh sau. Chỉ một lát sau, tiếng bước chân khập khiễng nện từng nhịp cộc... cộc... khô khốc của chiếc gậy trúc trên thềm gạch hoa vang lên nhịp nhàng.
Một bóng người bước qua ngưỡng cửa hậu đường.
Diệp Lạc Hân chăm chú dõi mắt nhìn từng cử chỉ của người bước vào. Trước mắt nàng là một người đàn ông trung niên ngót nghét bốn mươi tuổi. Thân hình ông gầy guộc như cành lau mùa đông, hai hốc má hóp sâu, làn da mang màu sương gió dãi dầu. Ông khoác trên mình bộ y phục bằng vải thô màu lam nhạt, vạt áo đã giặt đến bạc trắng mép chỉ, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một nếp nhăn hay hạt bụi bẩn bám dính. Mái tóc hoa râm được búi cao gọn gàng bằng một chiếc trâm gỗ đào mộc mạc; chòm râu dê dưới cằm được cắt tỉa đoan chính, thẳng thớm.
Điều khiến Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc phải thầm kinh ngạc chính là đôi mắt của ông. Trải qua hai mươi năm hàm oan, chịu đủ lăng nhục và khốn khó của cõi nhân gian, nhưng trong đôi mắt ấy không hề vương một tia oán hận, cay độc hay ti tiện. Ngược lại, ánh nhìn của Chu Chính tĩnh lặng như giếng cổ ngàn năm, sâu thẳm, sáng ngời và ngập tràn khí phách thanh cao của bậc túc nho chân chính.
Lưu huyện lệnh mỉm cười bước đến bên cạnh, khẽ giới thiệu: "Trọng Khiêm huynh, đây chính là Diệp nương tử cùng Tiêu nhị ca và Tiêu tam ca của thôn Thanh Sơn mà đệ đã kể với huynh lúc sáng."
Chu Chính dừng chân, khẽ tựa người vào chiếc gậy trúc, hai tay chắp lại trước ngực, cúi người hành một lễ nho gia vô cùng đoan trang, giọng ông trầm ấm, dõng dạc mà khiêm cung: "Tại hạ Chu Chính, hữu duyên được diện kiến chư vị nông gia. Nghe Lưu huynh kể về phong thổ thôn Thanh Sơn thuần hậu chất phác, tại hạ vô cùng hướng vọng. Chỉ sợ thân tàn học thiển, làm lỡ dở việc học của con em trong làng."
Diệp Lạc Hân vội vàng bước sang một bên, cùng Tiêu Mộc và Tiêu Tùng khom mình hoàn lễ đáp từ, giọng nàng cung kính: "Chu phu tử quá lời rồi! Tiên sinh học vấn uyên thâm, đức độ cao dày, chịu hạ cố về chốn thôn dã dạy bảo lũ trẻ con, đó là ân huệ to lớn của thôn làng chúng dân phụ. Có điều, thôn quê nghèo khó, đường sá gập ghềnh, điều kiện ăn ở nơi học đường còn nhiều thiếu thốn; mong tiên sinh lượng thứ cho."
Chu Chính khẽ mỉm cười, nụ cười đượm vẻ an nhiên tự tại: "Người đọc sách lấy đạo làm trọng, lấy đức làm nhà; rau dưa đạm bạc qua ngày, mái tranh che mưa che nắng là đủ, hà tất phải bận lòng chuyện giàu nghèo sang hèn? Nếu chư vị không chê bai kẻ tàn phế này, Chu mỗ xin nguyện cùng ba vị lên đường ngay bây giờ."
Nắng chiều bắt đầu ngả vàng rực rỡ trên những rặng cây dọc hai bên đường cái quan. Chiếc xe bò của Tiêu gia chở theo bốn người lộc cộc lăn bánh rời khỏi cổng huyện thành Thanh Hà.
Tiếng bánh xe gỗ nghiến trên nền đá sỏi phát ra những âm thanh lạo xạo; tiếng roi tre vung lên xé gió vun vút kèm theo tiếng giục bò trầm đục của Tiêu Tùng vang vọng khắp nẻo đường quê. Tiêu Mộc ngồi bên mép xe, cẩn thận đỡ lấy chiếc đãy sách cũ kỹ và bọc hành lý đơn sơ của Chu phu tử để tránh bị xóc nảy. Chu Chính ngồi thẳng lưng giữa thùng xe, ánh mắt đăm chiêu ngắm nhìn những cánh đồng lúa xanh mơn mởn trải dài tít tắp đến tận chân trời xa.
Gió chiều thổi lồng lộng qua vạt áo vải thô bay phần phật, mang theo mùi ngai ngái của bùn đất, hương thơm ngọt ngào của lúa non và cỏ dại. Diệp Lạc Hân ngồi đối diện, khẽ mở lời phá tan bầu không khí tĩnh lặng: "Thưa Chu phu tử, trong thôn chúng con hiện tại có hơn sáu mươi đứa trẻ đang theo học tại học đường. Nhưng vì nông gia bận rộn, vào mùa gieo cấy hay gặt hái, lũ trẻ thường phải ở nhà phụ giúp cha mẹ bốc thóc, chăn trâu; bởi thế học phí cũng chỉ có thể thu góp theo từng tháng đỗ đạt. Mong tiên sinh đừng vì thế mà phiền lòng."
Chu Chính quay đầu lại, khẽ gật đầu mỉm cười ôn hòa: "Diệp nương tử chớ lo. Trẻ con chốn thôn quê lấy hiếu đễ làm đầu, biết đỡ đần cha mẹ việc đồng áng chính là cái gốc của đạo làm người. Cổ nhân có câu: Hữu giáo vô loại; dạy học không cốt ở việc ép buộc chúng phải thi đỗ làm quan, mà cốt ở việc dạy chúng biết phân biệt phải trái đúng sai, biết đọc một lá thư, biết tính một món nợ, không để người đời lừa gạt. Chờ khi đến nơi, Chu mỗ sẽ đích thân khảo sát tư chất và học lực của từng đứa trẻ, từ đó mới định ra phương pháp dạy dỗ cho thích hợp."
Nghe những lời tâm huyết và thấu tình đạt lý ấy, Tiêu Mộc vốn ít nói cũng khẽ gật đầu tán thưởng, trong lòng dâng lên niềm kính trọng sâu sắc đối với vị tân phu tử.
Chiếc xe bò cứ thế lộc cộc đi qua những con dốc thoai thoải, vượt qua cây cầu gỗ bắc ngang con suối róc rách nước chảy, rồi chầm chậm tiến vào đầu làng thôn Thanh Sơn. Khói lam chiều từ những chái bếp rơm rạ bắt đầu bốc lên lượn lờ, quyện vào ráng chiều đỏ ối nơi sườn núi phía xa.
Lúc đi xe bò chỉ có ba người nhà họ Tiêu; lúc trở về trên xe lại có thêm một vị phu tử lạ mặt, áo dài khăn đóng chỉnh tề, khí độ nghiêm trang. Đám người làng đang gánh củi, dắt trâu hay nhóm phụ nhân ngồi giặt giũ bên bờ mương liền tròn xoe mắt tò mò. Tiếng bàn tán xôn xao, tiếng bước chân rậm rịch kéo theo sau đuôi xe bò mỗi lúc một đông, thẳng tiến về phía nhà Lý chính ở giữa làng.
Chiếc xe bò dừng lại kẽo kẹt trước cổng sân nhà Lý chính. Nghe tiếng ồn ào ngoài cổng, Lý chính vội vàng buông bát nước chè tươi, bước vội ra sân ngó nghiêng.
Vừa nhìn thấy Diệp Lạc Hân và anh em Tiêu gia dìu một người trung niên tay chống gậy trúc bước xuống xe, Lý chính liền ngẩn người ra hỏi lớn: "Tam nương tử, Mộc ca nhi, Tùng ca nhi; các ngươi lên huyện trở về sao lại đưa theo vị khách quý này?"
Diệp Lạc Hân bước lên trước một bước, mỉm cười dõng dạc giới thiệu cho cả sân cùng nghe: "Thưa Lý chính bá bá, thưa bà con lối xóm! Đây là Chu Chính, Chu phu tử; bạn học cũ của Lưu huyện lệnh đại nhân. Huyện lệnh đại nhân biết tin Khổng phu tử trong thôn chúng ta tuổi già sức yếu, học đường có nguy cơ gián đoạn, nên đã đích thân giới thiệu Chu phu tử về thôn Thanh Sơn chúng ta để tiếp quản việc dạy dỗ cho con em trong làng!"
Lời vừa dứt, cả khoảng sân nhà Lý chính như vỡ òa trong tiếng xuýt xoa kinh ngạc! Người người nhìn nhau bàn tán sôi nổi: "Trời đất ơi! Là bạn học của quan huyện lệnh đấy!" Một người khác chêm vào: "Người do đích thân huyện lệnh đại nhân gửi gắm về làng ta, thảo nào khí chất phi phàm đến thế!"
Dân làng đứng vây quanh không ngớt lời xì xào trầm trồ nể phục. Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía Chu Chính. Tuy thân hình ông gầy gò, một chân hơi khập khiễng phải tựa vào gậy trúc, nhưng dáng đứng thẳng tắp như cây thông trên vách đá; râu tóc ngay ngắn, phong thái toát lên vẻ tiên phong đạo cốt, khí khái ngời ngời khác xa những kẻ học đòi chữ nghĩa tầm thường nơi chợ búa.
Lý chính mừng rỡ đến mức hai bàn tay run lên bần bật, vội vàng chắp tay vái dài một cái: "Ôi chao! Thật là phúc đức lớn lao cho thôn Thanh Sơn chúng tôi! Chu tiên sinh không chê chốn đồng hoang cỏ cháy này mà quang lâm tới đây, lão hủ xin thay mặt toàn thể dân làng tạ ơn tiên sinh, tạ ơn huyện lệnh đại nhân!"
Chu Chính vội buông một tay vịn gậy, nghiêng mình đáp lễ: "Lý chính đại thúc chớ quá đa lễ. Chu mỗ hữu duyên về đây, chỉ mong góp chút sức mọn mở mang trí tuệ cho lũ trẻ, mong được bá tánh giúp đỡ nhiều hơn."
Nhìn thấy phong thái nhã nhặn, khiêm nhường mà đĩnh đạc của Chu Chính, Lý chính cùng toàn thể dân làng càng thêm bội phần nể phục kính trọng. Lý chính ngẩng đầu nhìn trời, thấy mặt trời đã bắt đầu khuất sau ngọn núi phía tây, liền vội vã cất lời: "Nhân lúc trời còn chưa tối hẳn, lão hủ xin phép dẫn tiên sinh đến học đường xem qua nơi ăn chốn ở trước. Học đường nằm ở mạn đông của thôn, yên tĩnh thoáng đãng lắm!"
Nói đoạn, Lý chính hăm hở dẫn đường, Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc, Tiêu Tùng và Chu Chính rảo bước theo sau. Đi trên con đường làng rải đá dăm, Lý chính vừa đi vừa hào hứng kể tường tận: "Học đường thôn ta trước đây có hơn sáu mươi đứa trẻ theo học. Nhưng Khổng phu tử tuổi già nhiều bệnh, dạo gần đây bệnh tình trở nặng liệt giường, lũ trẻ đành phải tạm thời nghỉ học ở nhà chăn trâu. Trong số đó có mười mấy đứa sáng dạ lắm, Khổng phu tử khen mãi; nay có Chu tiên sinh về đây tiếp quản, thật không còn gì may mắn hơn!"
Chu Chính vừa chống gậy bước đi từng bước vững chãi, vừa lắng nghe chăm chú, thỉnh thoảng khẽ gật đầu ghi nhận lời nói của người trưởng thôn.
Con đường đất nhỏ uốn lượn men theo rặng tre xào xạc trong gió chiều, dẫn lối đến một khoảng sân đất rộng rãi rợp bóng cây bàng cổ thụ. Đó chính là học đường thôn Thanh Sơn. Gian nhà học phía trước gồm ba gian lợp ngói âm dương đã nhuốm màu rêu phong cổ kính; bên trong kê những dãy bàn ghế gỗ mộc mạc, mặt bàn nhẵn bóng vì mồ hôi của bao thế hệ học trò. Giờ phút này không có tiếng ê a đọc sách, cả khu học đường chìm trong vẻ tĩnh mịch đến nao lòng.
Từ gian chái nhà phía sau học đường - nơi ở của Khổng phu tử - một làn khói lam mỏng manh lượn lờ bốc lên không trung, mang theo mùi thuốc bắc ngai ngái nồng nặc lan tỏa khắp không gian.
Cả đoàn người bước qua cổng rào tre tiến vào sân sau. Tiếng bước chân lạo xạo trên sỏi làm kinh động một bóng người đang ngồi lom khom bên hiên nhà. Đó là một gã sai vặt câm, khoảng ngoài ba mươi tuổi, mặt mũi lem luốc vệt than đen, đang ngồi quạt lò đất sắc thuốc. Chiếc siêu đất trên bếp lò đang sôi ùng ục ùng ục, nắp vung nhảy lạch cạch, phì phì nhả ra từng luồng hơi thuốc nóng hổi đắng ngắt.
Thấy một đoàn người đông đúc đột ngột bước vào sân, người hầu câm giật mình đánh thót, vội vàng buông chiếc quạt nan rách, đứng bật dậy với vẻ mặt đầy cảnh giác và lúng túng.
Lý chính xua xua tay, cất giọng ôn tồn trấn an: "A Câm, đừng sợ! Không có chuyện gì xấu đâu! Lão hủ đưa vị tân phu tử do huyện lệnh đại nhân giới thiệu đến thăm học đường. Khổng phu tử trong phòng hôm nay sức khỏe thế nào rồi? Đã đỡ chút nào chưa?"
Người câm nghe vậy liền thở phào nhẹ nhõm, vội vàng chắp hai tay trước ngực cúi đầu chào, rồi huơ huơ đôi bàn tay gầy guộc ra hiệu chỉ về phía gian phòng ngủ đóng kín cửa liếp nứa, miệng ú ớ phát ra những âm thanh nghẹn ngào trong cổ họng, ý mời mọi người cùng vào trong thăm bệnh.
Từ bên trong gian phòng u tối, bỗng truyền ra vài tiếng ho húng hắng yếu ớt, ngắt quãng; nghe khô khốc và mệt mỏi khôn xiết. Lý chính khẽ thở dài, rón rén bước lên thềm đất, nhẹ nhàng đẩy cánh cửa liếp kêu một tiếng kẽo kẹt rợn người, rồi quay đầu ra hiệu cho mọi người cùng bước vào bên trong.
Gian phòng ngủ của Khổng phu tử bày biện vô cùng đơn sơ, bốn bề tường đất trát vôi đã bong tróc từng mảng lớn. Trên chiếc bàn gỗ cũ kỹ chất đầy những chồng sách thẻ tre và sách giấy đóng gáy chỉ đã ố vàng theo năm tháng; một chiếc nghiên mực đá mài lõm sâu và vài ngọn bút lông cùn treo trên giá tre mộc mạc. Không khí trong phòng nồng nặc mùi thuốc bắc pha lẫn mùi ẩm mốc của người già lâm bệnh lâu ngày.
Trên chiếc giường gỗ trải chiếu manh mộc mạc, một ông lão râu tóc bạc phơ như cước đang nằm đắp chiếc chăn bông sờn rách. Khuôn mặt Khổng phu tử gầy rộc hốc hác, hai mắt nhắm nghiền, đôi môi khô nứt nẻ, lồng ngực phập phồng yếu ớt theo từng nhịp thở dốc nhọc nhằn.
Lý chính khẽ khàng bước đến bên mép giường, cẩn thận kéo lại góc chăn bị xộc xệch, rồi cất giọng trầm ấm, dịu dàng gọi khẽ: "Khổng phu tử... Phu tử ơi, người đã tỉnh chưa? Hôm nay người cảm thấy trong mình thế nào rồi? Lão hủ đưa khách quý đến thăm người đây."
Nghe tiếng gọi quen thuộc, mí mắt của Khổng phu tử khẽ động đậy. Ông lão từ từ mở cặp mắt đục ngầu, mệt mỏi nhìn về phía Lý chính, khẽ gật đầu một cái xem như đáp lời. Sau đó, ánh mắt đờ đẫn của lão phu tử chầm chậm dời sang phía sau Lý chính, quét qua gương mặt của Diệp Lạc Hân, Tiêu Mộc, Tiêu Tùng...
Và rồi, ánh mắt ấy dừng lại sững sờ trên bóng hình người đàn ông trung niên mặc áo vải thô màu lam nhạt đang đứng tựa vào chiếc gậy trúc nơi cửa phòng.
Khoảnh khắc hai ánh mắt giao nhau giữa khoảng không mờ ảo của gian phòng tối, dường như cả đất trời đều ngưng đọng lại!
Khổng phu tử cả người bỗng nhiên run rẩy kịch liệt, đôi mắt đục ngầu đột ngột mở trừng trừng, tròng mắt ánh lên tia chấn động kinh hoàng như không dám tin vào những gì mình đang nhìn thấy!
Mà ở phía đối diện, Chu Chính cũng chết lặng toàn thân.
Đôi bàn tay gầy guộc của Chu Chính run lên bần bật đến mức không còn giữ nổi chiếc gậy trúc.
Cộp!
Chiếc gậy trúc khô khốc rơi tuột khỏi tay, đập mạnh xuống nền đất nện phát ra một tiếng vang chát chúa!
Gương mặt phong trần sương gió của Chu Chính trong chớp mắt biến đổi vặn vẹo vì xúc động tột cùng. Đôi môi ông run rẩy dữ dội, lồng ngực phập phồng như muốn nổ tung, hai dòng nước mắt nóng hổi bỗng chốc trào ra từ khóe mắt sâu hoắm, lăn dài trên đôi gò má hốc hác.
Trước sự sững sờ chết lặng của Lý chính, Diệp Lạc Hân và anh em Tiêu gia, Chu Chính không màng đến chiếc chân tàn tật đau nhức, ông lảo đảo bước nhào tới ba bước, rồi quỳ sụp cả hai đầu gối xuống nền đất lạnh buốt ngay bên cạnh giường bệnh!
Bịch một tiếng nặng nề vang lên!
Chu Chính vươn hai bàn tay gầy gò run rẩy nắm chặt lấy bàn tay khô héo gầy trơ xương của Khổng phu tử đang run lên trên mép chăn. Ông dập đầu một cái thật mạnh, trán chạm sát mép giường gỗ, rồi ngẩng lên, bật ra tiếng khóc nghẹn ngào xé ruột xé gan: "Tiên sinh!... Trời cao có mắt... Học trò... học trò cuối cùng cũng tìm được người rồi! Tiên sinh ơi!..."
Tiếng kêu xé lòng của Chu Chính vang vọng khắp gian phòng nhỏ, khiến tất cả những người có mặt đều bàng hoàng chết lặng!
Lý chính đứng chôn chân tại chỗ, hai mắt mở to trừng trừng, miệng há hốc không thốt nên lời. Tiêu Tùng ngây dại người ra, ngơ ngác nhìn Diệp Lạc Hân và Tiêu Mộc. Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc đưa mắt nhìn nhau, trong lòng dấy lên những đợt sóng cuộn trào kinh ngạc. Chu Chính là người gốc Quân Châu, từng đỗ Giải thủ viện thí; còn Khổng phu tử đã đến thôn Thanh Sơn dạy học ẩn dật gần hai mươi năm ròng rã, chưa từng một lần nhắc về gốc tích hay quá khứ của mình với bất kỳ ai trong thôn. Sao một vị phu tử từ An Xương xa xôi vừa bước chân vào cửa, lại có thể quỳ lạy gọi Khổng phu tử là Tiên sinh một cách tha thiết và bi thương đến nhường này?
Mối quan hệ sâu kín giữa hai con người này rốt cuộc là gì?
Căn phòng chìm vào một khoảng lặng chết chóc, tĩnh mịch đến mức nghe rõ cả tiếng củi nổ lách tách ngoài lò đất và tiếng lá tre xào xạc cọ vào mái ngói sau vườn.
Trên giường bệnh, Khổng phu tử run rẩy thở dốc. Đôi bàn tay gầy guộc đầy đồi mồi của lão phu tử khẽ siết chặt lấy những ngón tay của Chu Chính. Ánh mắt ông lão đục ngầu ngân ngấn nước, vừa xót xa đau đớn, vừa ngập tràn nỗi bàng hoàng lo sợ khôn nguôi.
Khổng phu tử cố gắng gượng dậy, nhưng thân thể suy kiệt khiến ông lại ngã quỵ xuống gối. Đôi môi khô nứt nẻ của ông mấp máy hồi lâu, rồi cất lên một giọng nói thều thào, yếu ớt nhưng run rẩy đến tận cùng tâm can: "Chu Chính... Ngươi... Sao ngươi... lại đến nơi này?..."