Chương 36: Giò Heo Kho Tương Thơm Lừng
Lời phân tích thấu đáo của Diệp Lạc Hân vừa dứt, cả gian nhà chính bỗng chìm vào một khoảng lặng trầm ngâm; những ngọn đèn dầu bấc tim bắt đầu le lói khi ráng chiều đỏ quạch dần buông xuống sau rặng tre già. Dương Phượng ngồi bên cạnh khẽ buông một tiếng thở dài thườn thượt, hai bàn tay thô ráp vân vê mép tạp dề dính bụi tro, cất giọng đầy vẻ băn khoăn: "Đệ muội tính toán thì sâu xa thật đấy, nhưng mà thịt thà đắt đỏ thế này, chỉ có những nhà giàu sang quyền quý ngoài trấn mới đủ tiền ăn thường xuyên. Phận nông dân nghèo như chúng ta, chẳng lẽ lại gánh giỏ thịt đi gõ cửa từng căn nhà quyền quý mà chào mời hay sao? Cửa lớn hào môn cao vút, gia đinh hung dữ, người ta đâu dễ dàng mở cửa tiếp đón bọn mình..."
Tiêu Mộc ngồi bên cạnh Diệp Lạc Hân khẽ lắc đầu, bàn tay chàng đặt lên mặt bàn gỗ phát ra một tiếng cộp trầm đục; chàng đưa mắt nhìn chị dâu, cất giọng khẳng định chắc nịch: "Tẩu tử nói rất đúng, cửa nhà quyền quý tuyệt đối không thể tùy tiện gõ được. Kẻ có tiền ăn uống vốn dĩ cực kỳ kén chọn, xuất thân thức ăn không rõ ràng thì họ quyết chẳng dám nuốt vào bụng; nếu chúng ta đường đột mang tới gõ cửa, chẳng những người ta không mua mà còn xua đuổi chó ra cắn, chuốc lấy nhục nhã vào thân."
Chàng khựng lại một nhịp thở, ánh mắt sâu thẳm thoáng nhìn sang thê tử rồi cất lời hiến kế: "Hay là thế này, thay vì gõ cửa từng nhà giàu, ngày mai ta mang một ít thịt kho tương đến mấy tửu lầu lớn ngoài trấn hỏi thử xem sao. Nếu các chưởng quầy nếm thử thấy hợp miệng, chịu nhận nguồn hàng cố định của nhà mình mỗi ngày, thì công việc làm ăn mới có đầu ra vững vàng, chúng ta cũng không phải dãi nắng dầm mưa đi rao bán dạo từng lạng thịt."
Nghe con trai thứ ba nói có lý có tình, Từ Chính Hương vội vàng gật đầu tán thưởng, vẻ mặt rạng rỡ hẳn lên: "Nhị ca con nói chí phải đấy! Cứ tìm mối tửu lầu lớn mà bỏ mối là chắc ăn nhất; tuy tiền lời mỗi cân có thể bớt đi vài ba đồng cắc, nhưng gom gió thành bão, ngày nào cũng có tiền tươi thóc thật mang về."
Giữa lúc người lớn trong nhà còn đang mải mê tính toán chuyện bỏ mối cho tửu lầu, thì ở góc bàn, Tiêu Cảnh đã gặm xong chiếc móng giò heo thứ hai sạch trơn đến tận cuống xương. Cậu thiếu niên đưa ngón tay cái lên miệng mút chùn chụt một tiếng thật giòn, hai con mắt tròn xoe bỗng nhiên sáng rực lên như sao sa; cậu nuốt ực một ngụm nước miếng thơm nồng, hắng giọng một cái thật to rồi cất tiếng reo vui: "Thực ra trong đầu con vừa nảy ra một cách này hay lắm, bảo đảm kiếm được bạc trắng mà chẳng cần phải nhìn sắc mặt của bọn chưởng quầy tửu lầu!"
Cả bàn ăn lập tức đổ dồn mọi ánh mắt về phía cậu con út; Từ Chính Hương trừng mắt liếc con một cái, nửa đùa nửa mắng: "Cái thằng quỷ này, ăn xong lau miệng chưa sạch mà đã học đòi bàn chuyện làm ăn lớn; con thì có diệu kế gì giấu trong bụng nào?"
Tiêu Cảnh không hề nao núng, cậu vội vàng dùng mu bàn tay lau sạch vệt mỡ lợn bóng nhẫy quanh khóe miệng, rồi hào hứng quay sang nhìn Diệp Lạc Hân mà nói: "Tỷ tỷ dâu làm món chân giò kho tương này thơm ngon tuyệt đỉnh, nếu đem bán cho người bình thường thì quả thật quá đắt; nhưng nếu đến đầu tháng sau, chúng ta gánh giò heo này đến bày bán ngay trước cổng thư viện Trường Đình ngoài trấn thì chắc chắn sẽ đắt như tôm tươi!"
Nghe đến thư viện Trường Đình - nơi tụ hội của hàng trăm văn nhân học sĩ khắp cả phủ huyện, Dương Phượng liền chớp chớp mắt kinh ngạc, không nhịn được buột miệng hỏi dồn: "Ủa kìa, mấy cậu tú tài với học trò sĩ tử quanh năm chỉ biết đọc sách thánh hiền, chẳng lẽ lại thích ăn giò heo béo ngậy như thế này sao? Xưa nay ta chỉ nghe nói người đọc sách thích thanh đạm, chứ chưa từng nghe chuyện sĩ tử thèm thịt mỡ bao giờ!"
Tiêu Cảnh nghe chị dâu hỏi vậy liền ưỡn ngực đắc ý, ra chiều một kẻ am hiểu thế sự chốn trường thi; cậu chậm rãi giải thích rành rọt từng lời: "Tẩu tử không đi học nên đâu có biết, đây là một phong tục ngầm vô cùng thịnh hành của giới sĩ tử! Tháng tới chính là kỳ thi mùa thu; trước ngày các thí sinh bước vào trường thi, người thân, bạn bè đồng môn đều có tục lệ mua tặng nhau một chiếc chân giò heo kho đỏ au để cầu mong sự may mắn. Chữ ‘đề’ trong chân giò heo đồng âm với chữ ‘đề’ trong đề danh bảng vàng; màu thịt kho tương đỏ thắm tượng trưng cho màu chu sa son đỏ ghi tên trên bảng vàng, người ta gọi đó là ‘Chu thư đề danh’. Mỗi mùa thi cử đến, số lượng học trò tìm mua chân giò heo béo tốt tặng nhau nhiều không đếm xuể; giò heo của tỷ tỷ dâu vừa thơm ngậy, nước sốt lại đỏ au óng ả như gấm vóc, nếu mang đến cổng thư viện bày bán đúng dịp này thì học trò người ta tranh nhau mua lấy khước may, bán bao nhiêu cũng hết sạch!"
Lời giải thích rành mạch của cậu con trai út khiến Tiêu Trường Hà ngồi ở đầu bàn cũng phải vuốt chòm râu điểm bạc, gật đầu liên hồi tán đồng: "Thằng tư nói rất đúng; chuyện này ta cũng từng nghe Khổng tiên sinh trong thôn nhắc tới từ nhiều năm trước. Thi cử là việc trọng đại cả đời của kẻ sĩ; để cầu mong một quẻ may mắn ghi tên bảng vàng, đừng nói là vài chục văn tiền, ngay cả nửa lạng bạc hay một lạng bạc thì gia đình người ta cũng chẳng tiếc tay chi trả. Món chân giò kho tương này nếu gắn liền với điềm lành thi cử, quả thực là danh chính ngôn thuận, mở ra một đường làm ăn vô cùng sáng sủa."
Đôi mắt Diệp Lạc Hân lóe lên một tia sáng thông tuệ; trong lòng nàng thầm cảm phục sự nhạy bén của cậu em chồng lanh lợi. Đây chính là nghệ thuật bán hàng nhắm trúng tâm lý người mua; bán một món ăn không chỉ đơn thuần là lấp đầy cái bụng đói, mà là bán điềm lành, bán sự kỳ vọng và niềm tin vào tương lai tươi sáng của cả một gia đình sĩ tử.
Nàng khẽ mỉm cười, đôi môi đỏ hồng hé mở, giọng nói trong trẻo cất lên đầy dứt khoát: "Kế sách của tiểu thúc quả thực vô cùng xuất sắc! Đối với chuyện thi cử đỗ đạt, người ta tuyệt đối không bao giờ so đo đắt rẻ; chúng ta sẽ tập trung làm những chiếc chân giò kho tương nguyên chiếc thật đẹp mắt, nước sốt sánh mịn đỏ thắm, buộc dây rơm điều cẩn thận để sĩ tử mang đi biếu tặng. Tính ra từ nay đến ngày thư viện Trường Đình khai khoa chỉ còn chừng nửa tháng; thời gian không còn nhiều, chúng ta phải bắt tay vào chuẩn bị mọi thứ ngay từ ngày mai."
Bầu không khí bàn ăn bỗng chốc trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường; nỗi lo ế ẩm ban nãy hoàn toàn bị thổi bay, thay vào đó là sự phấn khởi hừng hực của cả gia đình khi tìm ra một hướng đi rõ ràng. Diệp Lạc Hân bắt đầu ngồi nhẩm tính trong đầu những nguyên liệu cần thiết; muốn có được nồi nước sốt kho tương thượng hạng thơm nồng mùi thảo mộc, nàng cần phải thu gom thật nhiều quế chi phơi khô, hoa hồi cánh dày, hạt tiêu rừng thơm cay, sơn thù du cùng các loại rễ cây rừng có vị ngọt thanh mà nàng đã từng bắt gặp trên vách núi đá.
Nàng quay sang dặn dò Dương Phượng: "Tỷ tỷ dâu, ngày mai sau khi xong việc nhà, tỷ cùng muội lên sườn núi phía nam hái thêm thảo mộc về phơi khô; còn huynh và thúc thì giúp chúng ta tìm mua vài chiếc lu sành thật dày cùng củi gộc chắc để om than nhỏ lửa suốt đêm."
Dương Phượng sốt sắng gật đầu lia lịa: "Được, việc này muội cứ để tỷ lo; lên núi hái thuốc hay bổ củi chụm lò, tỷ làm quen tay rồi, bảo đảm không làm trễ nải công việc của đệ muội đâu!"
Bữa cơm tối kết thúc trong tiếng cười nói râm ran của cả nhà họ Tiêu; tiếng bát đũa va chạm lách cách hòa cùng tiếng nước rửa ráy ngoài thềm giếng tạo nên một bức tranh sinh hoạt thôn quê đầm ấm.
Đêm dần buông xuống sâu thẳm nơi thôn dã; ánh trăng rằm tháng bảy vằng vặc treo lơ lửng giữa trời cao, rọi những vệt sáng bàng bạc xuyên qua tán lá bưởi rậm rạp, in hằn những bóng đen lay động lên bức vách đất của gian nhà nhỏ. Tiếng côn trùng rả rích rù rì kêu vang trong các bụi cỏ quanh chân tường; thỉnh thoảng lại có một cơn gió thu lành lạnh thổi qua rặng tre đầu ngõ, làm phát ra những âm thanh xào xạc, thì thào như lời tự tình của màn đêm.
Sau khi tắm rửa gội đầu bằng nước bồ kết ấm nóng, Diệp Lạc Hân dùng một tấm khăn vải thô mềm nhẹ nhàng lau khô mái tóc đen nhánh dài mượt đang buông xõa ngang lưng. Nàng khẽ đẩy cánh cửa gỗ bước vào gian buồng trong; một mùi hương hoa lê thanh khiết tự nhiên phả ra từ làn da nõn nà của nàng, quyện chặt cùng mùi bồ kết thơm dịu làm ngào ngạt cả khoảng không gian nhỏ hẹp.
Nàng ngước mắt nhìn lên, bỗng nhiên bước chân khẽ khựng lại vì ngạc nhiên. Dưới ánh đèn dầu lạc le lói đặt trên chiếc bàn gỗ mộc, Tiêu Mộc đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu, thân hình cao lớn vạm vỡ của chàng in một bóng đen vững chãi lên vách đất. Trên tay chàng lúc này đang cầm một cuốn sách thẻ tre cũ kỹ được đóng bằng chỉ gai chắc chắn - thứ đồ vật mà từ ngày nàng bước chân về làm dâu họ Tiêu đến nay, chưa từng thấy chàng chạm tay vào một lần nào.
Trước đây Diệp Lạc Hân vẫn luôn cảm thấy kỳ lạ; trong một gian buồng thợ săn thô sơ ở chốn thôn quê nghèo khó, tại sao góc phòng lại có một giá sách gỗ nhỏ và chiếc bàn viết vuông vức gọn gàng đến thế. Nàng từng nghĩ đó là đồ đạc thừa thãi của Tiêu Cảnh để lại; nhưng theo thời gian chung sống, nàng dần nhận ra người trượng phu thâm trầm này của mình không hề mù chữ, chàng biết chữ, thậm chí nét chữ viết ra còn vô cùng rắn rỏi, cứng cáp như mũi tên bắn trúng hồng tâm.
Nàng rón rén bước lại gần, tà áo thô khẽ lay động mang theo làn hương thơm mát rượi; Diệp Lạc Hân cúi đầu nhìn lướt qua những dòng chữ Hán cổ mực son nẹp giữa những thanh tre mỏng, rồi cất giọng nhỏ nhẹ thì thào bên tai chàng: "Hôm nay sao phu quân lại nổi hứng ngồi đọc sách khuya thế này?"
Hơi thở ấm nóng cùng mùi hương hoa lê dịu ngọt bất ngờ ập tới khiến bờ vai rộng của Tiêu Mộc khẽ rung lên một nhịp; chàng không ngẩng đầu ngay mà thong thả lật qua một thẻ tre, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nửa kín nửa hở: "Đọc chơi cho khuây khỏa thôi; đêm dài thanh vắng, chưa buồn ngủ thì xem qua vài trang sách cũ."
Vừa dứt lời, bàn tay to lớn đầy những vết chai sạn của người thợ săn liền vươn ra rất tự nhiên, nắm chặt lấy cổ tay mềm mại của Diệp Lạc Hân rồi kéo nhẹ một cái; nàng mất đà, cả thân hình mảnh mai khẽ nghiêng đi rồi ngồi lọt thỏm ngay ngắn vào giữa lòng chàng.
Diệp Lạc Hân khẽ giật mình, nhưng khi nàng cúi mắt nhìn kỹ vào từng dòng chữ đang mở ra trên bàn, sự chú ý của nàng lập tức bị cuốn chặt lấy; đó tuyệt đối không phải là những cuốn sách vỡ lòng Tam Tự Kinh hay Thiên Tự Văn dành cho con trẻ tập đọc, mà là một cuốn lược luận thâm sâu bàn về đạo an dân, mưu lược điều binh và thế trận quyền mưu của bậc vương giả. Từng câu chữ gãy gọn, hàm súc, tư tưởng khoáng đạt và sắc bén đến mức khiến người đọc phải lạnh cả sống lưng; đây là loại sách chỉ có trong phủ đệ của các bậc vương tôn quý tộc hoặc đại nho danh tiếng chốn kinh kỳ mới có thể lưu giữ.
Trái tim Diệp Lạc Hân đập thình thịch từng nhịp hoang mang; nàng ngước nhìn góc nghiêng cương nghị của người đàn ông bên cạnh, nhận ra mình dường như vẫn chưa bao giờ nhìn thấu được người trượng phu này. Chàng rốt cuộc là ai? Một thợ săn tài ba ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc, hay là một dòng dõi quyền quý sa cơ lỡ vận đang lẩn tránh phong ba bão táp của chốn triều đình?
Nàng khẽ chớp mắt, cố nén sự chấn động trong lồng ngực rồi cất giọng thăm dò: "Sao phu quân lại đọc loại sách lược luận thâm sâu này? Sách này... đâu phải thứ mà người bình thường có thể đọc hiểu được."
Tiêu Mộc khẽ bật cười trầm thấp, tiếng cười rung rinh nơi lồng ngực dày dặn truyền thẳng sang lưng nàng; bàn tay chàng bắt đầu trượt từ eo nàng lên phía trên, siết nhẹ lấy vòng eo thon thả rồi cất giọng trêu ghẹo đầy vẻ cưng chiều: "Nương tử của ta vừa biết chữa bệnh cứu người, lại vừa biết chế tạo nông cụ kỳ diệu, nay còn tính toán kinh doanh buôn bán giỏi giang đến thế; làm trượng phu như ta nếu không chịu đọc thêm vài cuốn sách cho mở mang đầu óc, há chẳng phải sau này sẽ mang tiếng là kẻ bất tài ăn bám vợ hay sao?"
Thấy chàng buông lời cợt nhả, lại cảm nhận được bàn tay to lớn nóng hổi kia đang bắt đầu luồn lách qua lớp áo mỏng không chịu an phận, gò má Diệp Lạc Hân lập tức đỏ ửng lên như ráng chiều; nàng thẹn thùng chống hai tay lên vai chàng toan vùng vẫy đứng dậy: "Chàng chỉ toàn nói hươu nói vượn, mau buông thiếp ra để thiếp đi ngủ..."
Thế nhưng, sức lực mảnh mai của nàng làm sao đọ lại được một thợ săn từng tay không hạ gục lợn lòi nơi rừng rậm; Tiêu Mộc chẳng những không buông mà cánh tay sắt ghì chặt lấy hông nàng, kéo ghì cả thân hình mềm mại của nàng dán chặt vào lồng ngực rắn rỏi của mình.
"Phu quân..." Diệp Lạc Hân hoảng hốt thốt lên một tiếng khe khẽ; ở khoảng cách sát sạt không một kẽ hở này, nàng đã cảm nhận vô cùng rõ rệt sự biến chuyển nóng bỏng, cương cứng đầy nam tính từ một bộ phận nào đó trên cơ thể chàng đang áp sát vào người nàng.
Lồng ngực nàng phập phồng gấp gáp, hơi thở bắt đầu trở nên dồn dập; nàng vừa thẹn vừa cuống, nhỏ giọng nài nỉ: "Mau buông thiếp ra đi... trong sân nhà còn có cha nương và cả huynh tẩu nữa; đêm hôm thanh vắng thế này, một chút động tĩnh nhỏ người ta cũng nghe thấy hết, chàng đừng làm càn mà..."
"Ta không buông." Giọng nói của Tiêu Mộc bỗng chốc trở nên trầm khàn, khàn đục như men rượu ủ lâu năm; chàng vùi đầu vào hõm cổ trắng ngần thơm ngát mùi hoa lê của nàng, tham lam hít hà một hơi thật sâu, rồi bờ môi ấm nóng khẽ hé mở, nhẹ nhàng cắn lên làn da mịn màng nơi xương quai xanh của thê tử.
Một luồng điện tê dại chạy dọc sống lưng khiến Diệp Lạc Hân run bắn cả người; nàng cắn chặt môi dưới để ngăn không cho tiếng rên rỉ bật ra khỏi cổ họng. Trong lúc bối rối đưa mắt nhìn quanh tìm cớ thoái thác, ánh mắt nàng bỗng nhiên bắt gặp một bóng trắng nhỏ xíu đang ngồi chồm hổm ngay trước ngưỡng cửa buồng.
Đó chính là tiểu bạch hổ Nguyên Bảo; con thú nhỏ với cái chân sau quấn băng trắng tinh đang nghiêng đầu tò mò, đôi mắt tròn xoe màu lam biếc mở to hết cỡ, chăm chú nhìn từng hành động của hai người chủ nhân với vẻ mặt ngơ ngác vô cùng.
Diệp Lạc Hân như vớ được chiếc phao cứu sinh, vội vàng đưa tay đẩy nhẹ vào cằm Tiêu Mộc, lắp bắp nhắc nhở: "Kìa phu quân... Nguyên Bảo đang nhìn kìa! Nó... nó thấy hết cả rồi!"
Những lần ân ái trước kia của hai người phần lớn đều diễn ra nơi hang đá hoang vu trên đỉnh núi cao, giữa trời đất bao la tĩnh mịch không bóng người qua lại; nay ở trong căn nhà gỗ vách đất chật chội, người nhà chỉ cách nhau một tấm liếp mỏng manh, lại bị một con thú nhỏ nhìn chằm chằm như thế, nàng xấu hổ đến mức chỉ muốn độn thổ xuống đất cho xong.
Tiêu Mộc đang lúc men tình dâng trào, bỗng nhiên bị thê tử cắt ngang liền nhíu mày bực bội; chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lẹm như dao cạo phóng thẳng về phía ngạch cửa buồng. Nhìn thấy con hổ con vẫn đang dán mắt vào thê tử mình mà không chịu chớp, đáy mắt chàng bỗng lóe lên một tia sáng lạnh lẽo; chàng gằn giọng quát trầm một tiếng, thanh âm mang theo sát khí sắc lạnh của loài thú săn mồi: "Cút xa ra ngoài!"
Nguyên Bảo vốn dĩ mỗi đêm đều nằm ở ngạch cửa này để canh gác, cuộc sống vẫn trôi qua vô cùng êm đềm ấm no; nào ngờ hôm nay cái tên đàn ông hung dữ này lại đột nhiên phát điên, ánh mắt trừng trừng như muốn lột da xẻ thịt nó ra làm thức ăn. Con thú nhỏ tuy chưa trưởng thành nhưng bản năng sinh tồn vô cùng nhạy bén; nó rùng mình một cái, cụp chặt hai chiếc tai tròn xoe xuống đầu, rồi không dám chậm trễ nửa chớp mắt, vội vàng kéo lê cái chân sau bị thương ba chân bốn cẳng lủi thủi trốn tót ra ngoài khoảng sân râm mát.
Căn phòng lại trở về với sự tĩnh mịch vốn có; tiếng then cài cửa bằng gỗ vang lên một tiếng cạch dứt khoát khi Tiêu Mộc vươn tay đóng chặt cửa buồng lại.
Trước khi thành thân với Diệp Lạc Hân, Tiêu Mộc vốn là kẻ lạnh lùng lãnh đạm như tảng băng trôi ngàn năm; chàng xem thường chuyện nữ sắc, coi việc lấy vợ sinh con chỉ là gánh nặng trần tục. Cha chàng là Tiêu Trường Hà đã dăm lần bảy lượt tìm mối mai dạm hỏi, chàng đều cương quyết chối từ không một chút đắn đo; mãi cho đến khi gia cảnh bế tắc, nàng bước vào cuộc đời chàng như một định mệnh không thể chối từ, chàng mới miễn cưỡng gật đầu chấp thuận.
Thế nhưng giờ đây, người đàn ông sắt đá ấy dường như đã hoàn toàn đắm chìm, nghiện ngập trong từng nụ cười, từng ánh mắt và hương thơm thanh khiết của người phụ nữ mảnh mai trước mắt này; chỉ cần nàng khẽ nhíu mày, cả tâm can chàng liền thắt lại, chỉ cần chạm vào làn da mịn màng của nàng, mọi lý trí và sự kiềm chế của chàng đều tan biến thành tro bụi.
Ngọn đèn dầu trên bàn khẽ chao đảo rồi phụt tắt; ánh trăng rọi qua khe liếp mờ ảo, phủ lên chiếc giường tre ọp ẹp một lớp voan mỏng lung linh. Tiếng vải thô cọ xát sột soạt hòa cùng tiếng thở dốc nồng nàn dồn dập; đôi lông mày lá liễu của Diệp Lạc Hân lúc thì cau lại vì đau đớn ngọt ngào, lúc lại giãn ra trong sự đê mê say đắm. Mảnh trăng trên cao dường như cũng cảm thấy ngượng ngùng trước cảnh ân ái mặn nồng của đôi lứa, liền kéo một đám mây đen mỏng che khuất nửa vành gương; căn buồng nhỏ hoàn toàn chìm vào bóng tối thăm thẳm, chỉ còn lại những tiếng nỉ non âu yếm, tiếng nhịp tim đập thình thịch hòa lẫn trong tiếng rên rỉ nghẹn ngào kéo dài mãi cho đến tận canh tư mới chịu lắng dịu.
Trong khi thôn Thanh Sơn đang chìm sâu vào giấc ngủ yên bình của đêm thu, thì tại huyện nha Thanh Hà cách đó hơn hai mươi dặm đường, một gian phòng công đường vẫn còn sáng rực ánh nến lung linh.
Thanh Hà là một huyện nghèo nàn nằm nép mình bên dãy núi phía bắc; đất đai khô cằn, nguồn nước tưới tiêu phụ thuộc hoàn toàn vào mưa trời, dân cư thưa thớt quanh năm chỉ trông chờ vào hai vụ lúa nước bấp bênh. Huyện lệnh Lưu - vị quan phụ mẫu đương nhiệm của cả vùng - đang ngồi tựa lưng vào chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ, hai hàng lông mày nhăn tít lại thành một chữ xuyên sâu hoắm trên trán.
Ông năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi, thân hình gầy gò mảnh khảnh, vầng trán cao lộ rõ vẻ cần cù của một nho sinh xuất thân từ tầng lớp bần hàn. Huyện lệnh Lưu đã nhậm chức tri huyện ở cái vùng đất hẻo lánh này ròng rã suốt bảy tám năm trời; bảy tám năm qua, ngày nào ông cũng thức khuya dậy sớm, giải quyết công văn án quyển cần mẫn như một con tằm ăn rỗi, ăn không dám ăn ngon, mặc không dám mặc lụa là xa xỉ.
Thế nhưng, đạo làm quan ở chốn phong kiến vốn dĩ vô cùng khắc nghiệt; kẻ không có gia thế hiển hách chống lưng, lại không có bạc vàng đút lót cho các quan lớn ở phủ thành và lục bộ trên kinh kỳ, thì chỉ có thể chôn chân cả đời ở những vùng rừng thiêng nước độc. Suốt gần một thập kỷ cai trị, ông chỉ giữ cho huyện hạt được yên ổn thái bình, không có giặc cướp hoành hành, không có dân đói làm loạn; nhưng về mặt chính tích nổi bật - những thành tích chói lọi để triều đình ghi nhận và thăng quan tiến chức - thì hoàn toàn là một con số không tròn trĩnh.
Thấy việc thăng quan lên tri phủ hay điều chuyển về kinh thành ngày càng trở nên vô vọng, Huyện lệnh Lưu dần dần cũng nguội bớt nhiệt huyết thanh vân; ông chỉ cầu mong giữ tròn bổn phận, không có công thì cũng đừng để xảy ra lỗi lầm, hàng năm đốc thúc dân chúng cấy cày đúng vụ, thu đủ số thuế lương thực nộp lên kho bạc triều đình để giữ lấy cái mũ ô sa trên đầu.
Lúc này đang là cuối tháng bảy âm lịch - thời điểm then chốt nhất trong năm khi nông dân các thôn làng phải khẩn trương gặt sạch lúa sớm vụ chiêm để kịp thời lấy nước làm đất cấy lúa mùa vụ hai. Nếu thôn nào chậm trễ thời vụ, lúa giống cấy muộn gặp phải gió heo may và sương muối cuối thu sẽ bị nghẹn đòng, dẫn đến mất mùa đói kém; khi ấy, người chịu trách nhiệm đầu tiên trước quan trên không ai khác chính là vị quan phụ mẫu như ông.
Bởi vậy, mấy ngày qua Huyện lệnh Lưu ăn ngủ không yên, liên tục phái các toán nha dịch và bộ khoái tỏa đi khắp các thôn làng trong huyện để đốc thúc, giám sát tiến độ gặt lúa cấy mạ.
Một tiếng bước chân dồn dập vang lên từ ngoài hành lang lát gạch; cánh cửa phòng công đường khẽ đẩy ra, một tên nha dịch mặc áo giáp da, thắt lưng đeo đao, phong trần mệt mỏi bước nhanh vào trong, quỳ một gối xuống sàn đất hành lễ: "Khởi bẩm đại nhân, tiểu nhân vừa từ thôn Thanh Sơn trở về để báo cáo tình hình vụ mùa!"
Huyện lệnh Lưu khẽ xoa hai bên thái dương đang căng nhức vì mỏi mệt, mệt mỏi ngẩng đầu lên khỏi đống sổ sách dày cộp, cất giọng trầm thấp hỏi: "Tình hình bên đó thế nào rồi? Thôn Thanh Sơn địa thế hiểm trở, ruộng bậc thang lại nhiều sỏi đá; năm ngoái vào thời điểm này họ vẫn còn đang oằn lưng gặt dở ngoài đồng, năm nay tiến độ đã hoàn thành được năm phần mười hay chưa?"
Tên nha dịch ngẩng đầu lên, vẻ mặt lộ rõ sự kinh ngạc chưa tan, cất giọng dõng dạc bẩm báo: "Bẩm đại nhân, chuyện lạ lùng vô cùng! Thôn Thanh Sơn năm nay không những không chậm trễ, mà toàn bộ lúa sớm của cả thôn đã được thu hoạch xong xuôi sạch sẽ từ ba ngày trước rồi ạ; hiện tại dân làng họ đã lấy nước vào ruộng, đang đồng loạt cấy lúa vụ hai rất khẩn trương!"
"Ngươi nói cái gì?" Huyện lệnh Lưu giật nảy mình, đánh rơi cả cây bút lông đang cầm trên tay xuống mặt bàn làm bắn ra những giọt mực đen nhánh; ông bật phắt người đứng dậy, đôi mắt mở to hết cỡ nhìn chằm chằm vào tên nha dịch, giọng nói bỗng chốc trở nên gay gắt và hoảng hốt: "Thu hoạch xong toàn bộ lúa sớm rồi sao? Chuyện này làm sao có thể xảy ra được! Lẽ nào năm nay thôn Thanh Sơn bị hạn hán hoặc sâu bệnh tàn phá làm lúa lép hạt, sản lượng lương thực bị sụt giảm thê thảm đến mức không có lúa để gặt hay sao? Mau nói thật cho bản quan biết!"
Trong đầu vị huyện lệnh lập tức hiện lên viễn cảnh đen tối của một trận thiên tai mất mùa; nếu thôn Thanh Sơn bị sụt giảm sản lượng, số thuế lương thực thiếu hụt sẽ là một đòn giáng nặng nề vào bảng đánh giá quan lại cuối năm của ông.
Tên nha dịch thấy quan huyện hiểu lầm liền vội vàng xua tay đính chính: "Đại nhân bớt giận, tuyệt đối không phải mất mùa đâu ạ! Tiểu nhân đã đích thân đến tận bờ ruộng kiểm tra và gặng hỏi Lý chính Tiêu Đại Sinh; năm nay thôn Thanh Sơn mưa thuận gió hòa, hạt thóc mẩy tròn đều tăm tắp, sản lượng còn cao hơn năm ngoái gần hai phần! Sở dĩ họ gặt hái nhanh như thần tốc là vì trong thôn có người tài ba sáng chế ra một cỗ máy kỳ diệu, gọi là cỗ máy tuốt lúa bằng gỗ đạp chân!"
"Máy tuốt lúa bằng gỗ đạp chân?" Huyện lệnh Lưu ngẩn người ra, lặp lại từng từ một cách vô cùng ngỡ ngàng; bao năm làm quan phụ mẫu, ông chỉ từng nghe nói đến cối đá xay lúa, cối giã gạo đạp chân hay bồ đập lúa bằng tre đan, chứ chưa từng nghe thấy trên đời này lại có một thứ gọi là máy tuốt lúa.
Tên nha dịch hào hứng kể tiếp, giọng điệu đầy vẻ thán phục: "Dạ bẩm đại nhân, đúng là thần kỳ trăm phần trăm! Chiếc máy đó làm hoàn toàn bằng gỗ, bên trong có một trục lăn gắn đầy những hàng răng sắt uốn cong; chỉ cần một người đứng đạp bàn đạp phía dưới, trục lăn sẽ quay tít thò lò phát ra tiếng vù vù như xé gió. Người ta chỉ việc cầm từng bó lúa đưa sát vào trục răng, trong chớp mắt hạt thóc đã rụng rào rào xuống lòng thùng gỗ, sạch bong kin kít không sót lại một hạt nào; rơm rạ sau khi tuốt vẫn thẳng thớm nguyên vẹn chứ không hề bị dập nát như đập vào bồ tre! Nhờ có cỗ máy đó, một nhà bốn người chỉ mất nửa ngày là tuốt xong số lúa mà trước đây phải đập còng lưng suốt ba ngày ròng rã!"
Lời bẩm báo chi tiết và sống động của tên nha dịch như một tia sét rạch ngang bầu trời đêm tăm tối, giáng thẳng vào tâm trí của Huyện lệnh Lưu. Trái tim già nua của vị quan huyện bỗng nhiên đập thình thịch, thình thịch từng nhịp dồn dập đến nghẹt thở; hai bàn tay ông bất giác run rẩy bấu chặt lấy mép bàn gỗ tếch.
Thiên tài! Đây quả thực là một sáng chế vĩ đại của bậc kỳ nhân dị sĩ nơi thôn dã!
Là một vị quan phụ mẫu cai quản nông nghiệp suốt bảy tám năm qua, Huyện lệnh Lưu hiểu rõ hơn bất kỳ ai giá trị kinh thiên động địa của cỗ máy này. Trong sản xuất nông nghiệp thời cổ đại, thời vụ chính là sinh mệnh; gặt lúa sớm một ngày là tránh được một ngày nguy cơ mưa bão lụt lội làm thối róc hạt thóc ngoài đồng, gặt nhanh bao nhiêu thì kịp thời gian cấy lúa vụ sau bấy nhiêu. Nếu cỗ máy tuốt lúa này thực sự có công năng thần tốc như lời đồn, bản quan chỉ việc dâng bản vẽ và cỗ máy lên tri phủ, tri phủ dâng lên Tuần phủ đại nhân, rồi tấu trình lên Công bộ triều đình...
Nghĩ đến đó, toàn thân Huyện lệnh Lưu bỗng nóng bừng lên như có ngọn lửa thiêu đốt; đôi mắt ông rực sáng lên những tia hy vọng mãnh liệt. Đây không chỉ là một chiếc máy nông cụ bình thường, mà đây chính là chiếc chìa khóa vàng mở toang cánh cửa thăng quan tiến chức mà ông hằng mơ ước bấy lâu nay! Một kỳ công chính tích to lớn đủ để chấn động cả một góc trời!
"Cái tên Tiêu Đại Sinh này, trong thôn có bảo vật nông nghiệp thần kỳ như thế mà lại dám giấu giếm không chịu báo cáo lên huyện nha!" Huyện lệnh Lưu vừa mừng vừa giận, đập mạnh tay xuống bàn quát lớn: "Mau, ngươi lập tức đi triệu Tiêu Đại Sinh đến huyện nha diện kiến bản quan ngay trong đêm nay!"
Tên nha dịch vội vàng nhận lệnh toan quay người bước đi, nhưng Huyện lệnh Lưu bỗng nhiên ngẩng đầu nhìn qua khung cửa sổ; vầng trăng đã ngả về tây, bóng đêm mịt mùng bao phủ khắp núi đồi, đường rừng hiểm trở thú dữ rình rập, đi lại trong đêm vô cùng nguy hiểm. Hơn nữa, việc trọng đại liên quan đến tiền đồ vận mệnh cả đời của mình thế này, nếu chỉ nghe lời kể lại của thuộc hạ thì làm sao có thể hoàn toàn yên tâm cho được?
"Khoan đã, dừng lại!" Huyện lệnh Lưu vội vàng cất tiếng gọi giật ngược; ông đứng thẳng người dậy, chỉnh lại vạt áo lụa xộc xệch, ánh mắt lộ rõ vẻ quả quyết chưa từng có: "Trời đã khuya rồi, đường sá xa xôi cách trở; ngươi đi truyền lệnh xuống chuồng ngựa, chuẩn bị sẵn cỗ xe ngựa tốt nhất cùng bốn tên nha dịch tinh nhuệ; sáng sớm ngày mai, ngay khi cổng thành vừa mở, bản quan sẽ đích thân vi hành về thôn Thanh Sơn một chuyến để tận mắt mục sở thị cỗ máy tuốt lúa thần kỳ kia!"
Tên nha dịch chấn động trong lòng, vội vàng chắp tay cúi rạp người: "Tiểu nhân tuân lệnh đại nhân!"
Sáng sớm ngày hôm sau, khi những giọt sương mai còn đọng long lanh trên từng ngọn cỏ ven đường và làn sương mù mỏng manh vẫn còn lãng đãng bao phủ quanh các sườn đồi, con đường đất nhỏ dẫn vào thôn Thanh Sơn bỗng nhiên bị khuấy động bởi những âm thanh ồn ã khác thường.
Tiếng vó ngựa nện xuống nền đất cằn cỗi phát ra những chuỗi âm thanh lộc cộc, lộc cộc giòn giã và dồn dập; tiếng trục bánh xe gỗ nghiến rào rào trên sỏi đá, cuốn theo từng làn bụi đất mù mịt bốc lên cuồn cuộn trong gió sớm.
Dân làng thôn Thanh Sơn người thì vác cuốc chuẩn bị ra đồng cấy lúa, người thì gánh nước quét sân, vừa nghe thấy tiếng động ầm ĩ từ đầu làng liền đồng loạt dừng tay lại; ai nấy đều ngơ ngác, kéo nhau túa ra hai bên con đường cái để ngó nghiêng xem có chuyện gì lạ.
Ở chốn thôn quê hẻo lánh này, quanh năm suốt tháng dân làng chỉ thấy xe bò kéo kẽo kẹt hay lừa thồ hàng chậm chạp; xe ngựa đối với họ là thứ xa xỉ chỉ có những phú hộ giàu nứt đố đổ vách ngoài trấn mới có thể ngồi lên. Thế nhưng cỗ xe ngựa đang tiến vào làng lúc này lại đồ sộ và uy nghiêm hơn gấp bội; thùng xe làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, bốn góc rủ những dải lụa đỏ thắm phất phơ trong gió, phía trước là hai con tuấn mã lông đen nhánh bóng mượt đang thở phì phò từng luồng hơi trắng.
Chưa dừng lại ở đó, đi kèm hai bên cỗ xe ngựa là bốn tên nha dịch vạm vỡ, mặc áo giáp da màu đen viền đỏ, đầu đội nón nỉ, thắt lưng thắt dải lụa bản to đeo những thanh yêu đao vỏ đồng sáng loáng; bộ dạng đằng đằng sát khí khiến bất kỳ người nông dân chân lấm tay bùn nào nhìn thấy cũng phải bủn rủn cả tay chân.
Cỗ xe ngựa lộc cộc chạy chậm dần rồi dừng lại ngay dưới gốc cây đa cổ thụ ở đầu làng; tiếng vó ngựa dậm chân thình thịch trên mặt đất bụi bặm.
Một tên nha dịch nhanh nhẹn tiến lên phía trước, đặt chiếc ghế gỗ nhỏ xuống đất rồi cung kính vén tấm rèm lụa thêu hoa văn nhã nhặn của thùng xe lên; từ bên trong, một người đàn ông trung niên thân hình gầy gò, râu tóc chải chuốt gọn gàng, khuôn mặt chữ điền mang vẻ ôn nhuận nho nhã chầm chậm bước xuống.
Người đàn ông ấy vận một bộ áo bào gấm màu đỏ thắm thêu hoa văn mây lượn rực rỡ dưới ánh ban mai; trên đầu ông đội chiếc mũ ô sa hai cánh chuồn màu đen nhánh - biểu tượng tối cao cho quyền lực của triều đình phong kiến nơi huyện hạt này.
Đám đông dân làng đang vây xem xung quanh vừa nhìn thấy bộ áo bào đỏ cùng chiếc mũ ô sa thì cả trăm con người bỗng chốc rúng động kinh hoàng; tiếng bàn tán xôn xao lập tức tắt ngấm, thay vào đó là sự sợ hãi tột độ ăn sâu vào tiềm thức của những kẻ bần nông cả đời chưa từng thấy quan lớn bao giờ.
"Trời đất ơi... Quan huyện lệnh đại nhân giáng trần rồi!"
Một tiếng hô thất thanh vang lên, và ngay giây tiếp theo, già trẻ gái trai trong thôn Thanh Sơn đều vội vã quỳ rạp hết xuống hai bên vệ đường; trán dán chặt xuống nền đất lạnh, toàn thân run như cầy sấy, không một ai dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào dung mạo của quan phụ mẫu.
Huyện lệnh Lưu đưa mắt nhìn quanh khoảng sân đầu làng một lượt; thấy bách tính thuần phác nhưng sợ hãi uy quyền đến mức co rúm người lại, ông khẽ mỉm cười xua tay, cất giọng ôn hòa mang theo khẩu khí của bậc cha mẹ dân: "Bách tính thôn Thanh Sơn bình thân cả đi; bản quan hôm nay vi hành về đây là để thăm hỏi vụ mùa, không phải đến bắt bớ hạch tội ai, mọi người không cần phải kinh hoảng như thế."
Nghe quan huyện lệnh nói lời nhân từ, dân làng mới lục tục dám ngẩng đầu bò dậy, nhưng hai chân ai nấy vẫn còn run lẩy bẩy, đứng nép sát vào nhau thì thào bàn tán xem rốt cuộc chuyện gì lớn đã xảy ra mà kinh động đến cả cỗ xe của quan phụ mẫu.
Huyện lệnh Lưu quay sang tên nha dịch dẫn đường bên cạnh, cất giọng trầm ổn ra lệnh: "Lý chính thôn này tên là Tiêu Đại Sinh đúng không? Mau phái người đi tìm hắn tới đây diện kiến bản quan ngay lập tức!"
Trong khi đó, ở khu ruộng trũng phía tây của thôn Thanh Sơn, không khí lao động cấy lúa vụ hai vẫn đang diễn ra vô cùng tất bật; tiếng lội bùn bì bõm, tiếng người gọi nhau í ới vang vọng khắp cánh đồng ngập tràn nước phù sa màu mỡ.
Lý chính Tiêu Đại Sinh lúc này đang xắn cao hai ống quần chàm lên tận bẹn, chân trần ngập sâu trong lớp bùn nhão nhoét; lưng ông còng rạp xuống, hai bàn tay thoăn thoắt cắm từng nhánh mạ non xanh mướt xuống mặt ruộng thẳng tắp. Mặt mũi, chân tay và vạt áo của ông đều lấm lem bùn đất, mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên trán nhỏ giọt tong tòng xuống mặt nước phù sa.
Đúng lúc đó, từ trên con đường đê bao quanh cánh đồng, một người nông dân trong thôn đang cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng; đôi chân trần của anh ta dẫm trên bờ cỏ phát ra những tiếng huỳnh huỵch dồn dập, vừa chạy vừa vung vẩy hai cánh tay, miệng thở không ra hơi gào thét thất thanh: "Lý chính ơi! Tiêu Đại Sinh thúc ơi! Nguy to rồi... nguy ngập đầu rồi thúc ơi!"
Tiếng gào thét hoảng loạn như xé toạc bầu không khí yên bình của cánh đồng lúa; Tiêu Đại Sinh giật mình ngẩng phắt đầu lên, đưa bàn tay đầy bùn quệt ngang trán, nhíu mày quát lớn: "Cái thằng chết tiệt kia, sáng sớm ngày ra chưa ăn cơm hay sao mà chạy như ma đuổi thế? Có chuyện gì thì nói từ từ, gào toáng lên như cháy nhà thế hả?"
Người nông dân thở hồng hộc, hai tay chống chặt vào đầu gối, lắp bắp mãi mới thành lời: "Quan... quan huyện lệnh đại nhân! Xe ngựa của quan phụ mẫu vừa vào đến đầu làng rồi! Có cả một đoàn nha dịch đeo yêu đao sáng loáng vây quanh, đích thân đại nhân hạ giá về làng, đang đứng ở gốc đa đầu thôn truyền lệnh đòi gặp thúc ngay lập tức kìa!"
Lời nói ấy vừa thốt ra khỏi miệng người nông dân chẳng khác nào một tiếng sét nổ ngang tai giữa trưa hè thanh vắng; cả cánh đồng bỗng chốc im bặt như tờ, hàng chục người nông dân đang cấy lúa gần đó đều sững sờ hóa đá, mở to hai mắt nhìn về phía Tiêu Đại Sinh.
Hai đầu gối của Tiêu Đại Sinh bỗng nhiên run rẩy dữ dội, lục phủ ngũ tạng như đảo lộn tùng phèo; cái cảm giác sợ hãi quan phủ đã ăn sâu vào máu thịt khiến toàn bộ sức lực trong người ông như bị rút cạn sạch trong chớp mắt. Đôi chân trần đang cắm dưới bùn bỗng mềm nhũn ra như hai cọng bún thiu; ông không còn đứng vững nổi nữa, cả thân hình to béo ngã ngửa ra sau, "ùm" một tiếng thật to, ngồi phịch cả mông xuống lòng ruộng nước bùn lầy!
Nước bùn bắn tung tóe lên mặt mũi, dính đầy chòm râu và tóc tai của vị trưởng thôn; thế nhưng Tiêu Đại Sinh chẳng còn tâm trí đâu mà lau chùi, mặt mày ông cắt không còn một giọt máu, trắng bệch như tờ giấy quyến.
Đôi môi ông run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng cành cạch rợn người; ông ôm lấy ngực, hoảng loạn lẩm bẩm trong cổ họng: "Trời đất quỷ thần ơi... Quan huyện lệnh đích thân về làng ta sao? Sao người lại đến đây? Lẽ nào... lẽ nào thằng nghịch tử Tiêu Hữu Tài ở ngoài huyện nha đã gây ra đại họa tày trời gì rồi?"
Nghĩ đến đứa con trai độc nhất đang làm thuê ở ngoài trấn huyện, Tiêu Đại Sinh càng thêm kinh hồn bạt vía; người nông dân cả đời chỉ biết cúi mặt xuống đất lưng quay lên trời, hễ thấy quan lại huyện nha xuất hiện là trong đầu chỉ nghĩ đến chuyện bắt giam, khảo đả, tù tội hoặc tịch thu gia sản. Ông sợ đến mức nước mắt chực trào ra, miệng lảm nhảm tuyệt vọng: "Phen này nhà ta tiêu rồi... tiêu thật rồi!"
Đứng ở bờ ruộng bên cạnh, vợ của Lý chính đang cắp chiếc rổ đựng mạ non, vừa thấy chồng mình sợ đến mức ngã ngồi bệt xuống bùn lầy như một đứa trẻ mất hồn liền tức giận vứt mạnh chiếc rổ xuống bờ cỏ; bà lội ào ào xuống bùn, túm lấy vạt áo chồng giật mạnh một cái, cất giọng the thé vừa mắng vừa trấn an: "Phỉ phỉ phỉ cái miệng quạ thối tha của ông! Ông suốt ngày chỉ biết rủa con mình gặp họa thôi sao? Hữu Tài nhà ta tính tình hiền lành chất phác như cục đất, đi làm thuê ngoài trấn ai cũng khen ngoan ngoãn chăm chỉ, há lại là kẻ dám trộm cắp giết người hay gây chuyện thị phi? Ông chưa hỏi rõ đầu đuôi ngọn ngành mà đã tự mình dọa chết mình thế này à!"
Bà vợ dùng sức kéo bổng Tiêu Đại Sinh đứng dậy khỏi vũng bùn, vỗ mạnh vào lưng ông mấy cái thình thịch để xua tan cơn hoảng loạn, rồi giục giã dồn dập: "Chẳng biết chừng quan lớn về làng là có chuyện ban thưởng đại sự tốt lành gì đó! Ông là Lý chính của cả một thôn, quan phụ mẫu cho gọi mà còn ngồi đây khóc lóc om sòm thì có ngày mất đầu thật đấy! Mau mau trèo lên bờ, múc nước rửa sạch chân tay mặt mũi rồi ba chân bốn cẳng chạy về tiếp giá cho tròn bổn phận đi!"
Những lời mắng té tát đầy uy lực của người vợ hiền như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt, kéo Tiêu Đại Sinh trở về với thực tại; ông nuốt khan một ngụm nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng, lập cập bám vào bờ cỏ trèo lên con đường đê.
Hai bàn chân ông vẫn còn run rẩy đến mức không nhấc nổi lên; ông phải đứng tựa lưng vào một thân cây sung bên bờ ruộng hồi lâu, hít thở sâu từng hơi dồn dập, đợi cho đến khi nhịp tim bớt đập thình thịch và hai đầu gối không còn nhũn ra nữa, mới vội vàng vốc mấy vốc nước mương rửa qua loa lớp bùn đất bám trên mặt mũi và hai bàn chân.
Chẳng kịp xỏ dép rơm, Tiêu Đại Sinh cứ thế để chân trần, vừa túm chặt lấy vạt áo chàm ướt sũng bùn đất vừa ba chân bốn cẳng cắm đầu chạy thục mạng về phía cổng làng; tiếng bước chân dẫm trên con đường đất lộc cộc, huỳnh huỵch rộn rã trong nắng sớm.
Vừa chạy, vị Lý chính già vừa chắp hai bàn tay run rẩy trước ngực, ngửa mặt lên trời thầm khấn vái lia lịa: "Phật Tổ từ bi phù hộ độ trì, Quan Âm Bồ Tát linh thiêng cứu vớt con cháu họ Tiêu... ngàn vạn lần đừng là tin dữ... trăm lạy ngàn lạy các đấng thần linh phù hộ cho thôn Thanh Sơn tai qua nạn khỏi!"
Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng ông vẫn dâng lên một nỗi hoang mang tột cùng; một vị quan phụ mẫu suốt bảy tám năm qua chưa từng đặt chân đến cái thôn nghèo heo hút này, nay lại đột ngột ngự giá vi hành đem theo cả một đoàn nha dịch uy nghiêm, rốt cuộc là vì đại sự kinh thiên động địa gì? Và cỗ máy tuốt lúa bằng gỗ đang nằm sừng sững trong sân nhà họ Tiêu kia, sẽ mang đến cho gia đình người thợ săn và cả cái thôn nhỏ này một phúc phần đổi đời rực rỡ, hay là một cơn giông bão quyền lực khôn lường sắp sửa ập xuống?
Lời phân tích thấu đáo của Diệp Lạc Hân vừa dứt, cả gian nhà chính bỗng chìm vào một khoảng lặng trầm ngâm; những ngọn đèn dầu bấc tim bắt đầu le lói khi ráng chiều đỏ quạch dần buông xuống sau rặng tre già. Dương Phượng ngồi bên cạnh khẽ buông một tiếng thở dài thườn thượt, hai bàn tay thô ráp vân vê mép tạp dề dính bụi tro, cất giọng đầy vẻ băn khoăn: "Đệ muội tính toán thì sâu xa thật đấy, nhưng mà thịt thà đắt đỏ thế này, chỉ có những nhà giàu sang quyền quý ngoài trấn mới đủ tiền ăn thường xuyên. Phận nông dân nghèo như chúng ta, chẳng lẽ lại gánh giỏ thịt đi gõ cửa từng căn nhà quyền quý mà chào mời hay sao? Cửa lớn hào môn cao vút, gia đinh hung dữ, người ta đâu dễ dàng mở cửa tiếp đón bọn mình..."
Tiêu Mộc ngồi bên cạnh Diệp Lạc Hân khẽ lắc đầu, bàn tay chàng đặt lên mặt bàn gỗ phát ra một tiếng cộp trầm đục; chàng đưa mắt nhìn chị dâu, cất giọng khẳng định chắc nịch: "Tẩu tử nói rất đúng, cửa nhà quyền quý tuyệt đối không thể tùy tiện gõ được. Kẻ có tiền ăn uống vốn dĩ cực kỳ kén chọn, xuất thân thức ăn không rõ ràng thì họ quyết chẳng dám nuốt vào bụng; nếu chúng ta đường đột mang tới gõ cửa, chẳng những người ta không mua mà còn xua đuổi chó ra cắn, chuốc lấy nhục nhã vào thân."
Chàng khựng lại một nhịp thở, ánh mắt sâu thẳm thoáng nhìn sang thê tử rồi cất lời hiến kế: "Hay là thế này, thay vì gõ cửa từng nhà giàu, ngày mai ta mang một ít thịt kho tương đến mấy tửu lầu lớn ngoài trấn hỏi thử xem sao. Nếu các chưởng quầy nếm thử thấy hợp miệng, chịu nhận nguồn hàng cố định của nhà mình mỗi ngày, thì công việc làm ăn mới có đầu ra vững vàng, chúng ta cũng không phải dãi nắng dầm mưa đi rao bán dạo từng lạng thịt."
Nghe con trai thứ ba nói có lý có tình, Từ Chính Hương vội vàng gật đầu tán thưởng, vẻ mặt rạng rỡ hẳn lên: "Nhị ca con nói chí phải đấy! Cứ tìm mối tửu lầu lớn mà bỏ mối là chắc ăn nhất; tuy tiền lời mỗi cân có thể bớt đi vài ba đồng cắc, nhưng gom gió thành bão, ngày nào cũng có tiền tươi thóc thật mang về."
Giữa lúc người lớn trong nhà còn đang mải mê tính toán chuyện bỏ mối cho tửu lầu, thì ở góc bàn, Tiêu Cảnh đã gặm xong chiếc móng giò heo thứ hai sạch trơn đến tận cuống xương. Cậu thiếu niên đưa ngón tay cái lên miệng mút chùn chụt một tiếng thật giòn, hai con mắt tròn xoe bỗng nhiên sáng rực lên như sao sa; cậu nuốt ực một ngụm nước miếng thơm nồng, hắng giọng một cái thật to rồi cất tiếng reo vui: "Thực ra trong đầu con vừa nảy ra một cách này hay lắm, bảo đảm kiếm được bạc trắng mà chẳng cần phải nhìn sắc mặt của bọn chưởng quầy tửu lầu!"
Cả bàn ăn lập tức đổ dồn mọi ánh mắt về phía cậu con út; Từ Chính Hương trừng mắt liếc con một cái, nửa đùa nửa mắng: "Cái thằng quỷ này, ăn xong lau miệng chưa sạch mà đã học đòi bàn chuyện làm ăn lớn; con thì có diệu kế gì giấu trong bụng nào?"
Tiêu Cảnh không hề nao núng, cậu vội vàng dùng mu bàn tay lau sạch vệt mỡ lợn bóng nhẫy quanh khóe miệng, rồi hào hứng quay sang nhìn Diệp Lạc Hân mà nói: "Tỷ tỷ dâu làm món chân giò kho tương này thơm ngon tuyệt đỉnh, nếu đem bán cho người bình thường thì quả thật quá đắt; nhưng nếu đến đầu tháng sau, chúng ta gánh giò heo này đến bày bán ngay trước cổng thư viện Trường Đình ngoài trấn thì chắc chắn sẽ đắt như tôm tươi!"
Nghe đến thư viện Trường Đình - nơi tụ hội của hàng trăm văn nhân học sĩ khắp cả phủ huyện, Dương Phượng liền chớp chớp mắt kinh ngạc, không nhịn được buột miệng hỏi dồn: "Ủa kìa, mấy cậu tú tài với học trò sĩ tử quanh năm chỉ biết đọc sách thánh hiền, chẳng lẽ lại thích ăn giò heo béo ngậy như thế này sao? Xưa nay ta chỉ nghe nói người đọc sách thích thanh đạm, chứ chưa từng nghe chuyện sĩ tử thèm thịt mỡ bao giờ!"
Tiêu Cảnh nghe chị dâu hỏi vậy liền ưỡn ngực đắc ý, ra chiều một kẻ am hiểu thế sự chốn trường thi; cậu chậm rãi giải thích rành rọt từng lời: "Tẩu tử không đi học nên đâu có biết, đây là một phong tục ngầm vô cùng thịnh hành của giới sĩ tử! Tháng tới chính là kỳ thi mùa thu; trước ngày các thí sinh bước vào trường thi, người thân, bạn bè đồng môn đều có tục lệ mua tặng nhau một chiếc chân giò heo kho đỏ au để cầu mong sự may mắn. Chữ ‘đề’ trong chân giò heo đồng âm với chữ ‘đề’ trong đề danh bảng vàng; màu thịt kho tương đỏ thắm tượng trưng cho màu chu sa son đỏ ghi tên trên bảng vàng, người ta gọi đó là ‘Chu thư đề danh’. Mỗi mùa thi cử đến, số lượng học trò tìm mua chân giò heo béo tốt tặng nhau nhiều không đếm xuể; giò heo của tỷ tỷ dâu vừa thơm ngậy, nước sốt lại đỏ au óng ả như gấm vóc, nếu mang đến cổng thư viện bày bán đúng dịp này thì học trò người ta tranh nhau mua lấy khước may, bán bao nhiêu cũng hết sạch!"
Lời giải thích rành mạch của cậu con trai út khiến Tiêu Trường Hà ngồi ở đầu bàn cũng phải vuốt chòm râu điểm bạc, gật đầu liên hồi tán đồng: "Thằng tư nói rất đúng; chuyện này ta cũng từng nghe Khổng tiên sinh trong thôn nhắc tới từ nhiều năm trước. Thi cử là việc trọng đại cả đời của kẻ sĩ; để cầu mong một quẻ may mắn ghi tên bảng vàng, đừng nói là vài chục văn tiền, ngay cả nửa lạng bạc hay một lạng bạc thì gia đình người ta cũng chẳng tiếc tay chi trả. Món chân giò kho tương này nếu gắn liền với điềm lành thi cử, quả thực là danh chính ngôn thuận, mở ra một đường làm ăn vô cùng sáng sủa."
Đôi mắt Diệp Lạc Hân lóe lên một tia sáng thông tuệ; trong lòng nàng thầm cảm phục sự nhạy bén của cậu em chồng lanh lợi. Đây chính là nghệ thuật bán hàng nhắm trúng tâm lý người mua; bán một món ăn không chỉ đơn thuần là lấp đầy cái bụng đói, mà là bán điềm lành, bán sự kỳ vọng và niềm tin vào tương lai tươi sáng của cả một gia đình sĩ tử.
Nàng khẽ mỉm cười, đôi môi đỏ hồng hé mở, giọng nói trong trẻo cất lên đầy dứt khoát: "Kế sách của tiểu thúc quả thực vô cùng xuất sắc! Đối với chuyện thi cử đỗ đạt, người ta tuyệt đối không bao giờ so đo đắt rẻ; chúng ta sẽ tập trung làm những chiếc chân giò kho tương nguyên chiếc thật đẹp mắt, nước sốt sánh mịn đỏ thắm, buộc dây rơm điều cẩn thận để sĩ tử mang đi biếu tặng. Tính ra từ nay đến ngày thư viện Trường Đình khai khoa chỉ còn chừng nửa tháng; thời gian không còn nhiều, chúng ta phải bắt tay vào chuẩn bị mọi thứ ngay từ ngày mai."
Bầu không khí bàn ăn bỗng chốc trở nên rộn ràng, ấm cúng lạ thường; nỗi lo ế ẩm ban nãy hoàn toàn bị thổi bay, thay vào đó là sự phấn khởi hừng hực của cả gia đình khi tìm ra một hướng đi rõ ràng. Diệp Lạc Hân bắt đầu ngồi nhẩm tính trong đầu những nguyên liệu cần thiết; muốn có được nồi nước sốt kho tương thượng hạng thơm nồng mùi thảo mộc, nàng cần phải thu gom thật nhiều quế chi phơi khô, hoa hồi cánh dày, hạt tiêu rừng thơm cay, sơn thù du cùng các loại rễ cây rừng có vị ngọt thanh mà nàng đã từng bắt gặp trên vách núi đá.
Nàng quay sang dặn dò Dương Phượng: "Tỷ tỷ dâu, ngày mai sau khi xong việc nhà, tỷ cùng muội lên sườn núi phía nam hái thêm thảo mộc về phơi khô; còn huynh và thúc thì giúp chúng ta tìm mua vài chiếc lu sành thật dày cùng củi gộc chắc để om than nhỏ lửa suốt đêm."
Dương Phượng sốt sắng gật đầu lia lịa: "Được, việc này muội cứ để tỷ lo; lên núi hái thuốc hay bổ củi chụm lò, tỷ làm quen tay rồi, bảo đảm không làm trễ nải công việc của đệ muội đâu!"
Bữa cơm tối kết thúc trong tiếng cười nói râm ran của cả nhà họ Tiêu; tiếng bát đũa va chạm lách cách hòa cùng tiếng nước rửa ráy ngoài thềm giếng tạo nên một bức tranh sinh hoạt thôn quê đầm ấm.
Đêm dần buông xuống sâu thẳm nơi thôn dã; ánh trăng rằm tháng bảy vằng vặc treo lơ lửng giữa trời cao, rọi những vệt sáng bàng bạc xuyên qua tán lá bưởi rậm rạp, in hằn những bóng đen lay động lên bức vách đất của gian nhà nhỏ. Tiếng côn trùng rả rích rù rì kêu vang trong các bụi cỏ quanh chân tường; thỉnh thoảng lại có một cơn gió thu lành lạnh thổi qua rặng tre đầu ngõ, làm phát ra những âm thanh xào xạc, thì thào như lời tự tình của màn đêm.
Sau khi tắm rửa gội đầu bằng nước bồ kết ấm nóng, Diệp Lạc Hân dùng một tấm khăn vải thô mềm nhẹ nhàng lau khô mái tóc đen nhánh dài mượt đang buông xõa ngang lưng. Nàng khẽ đẩy cánh cửa gỗ bước vào gian buồng trong; một mùi hương hoa lê thanh khiết tự nhiên phả ra từ làn da nõn nà của nàng, quyện chặt cùng mùi bồ kết thơm dịu làm ngào ngạt cả khoảng không gian nhỏ hẹp.
Nàng ngước mắt nhìn lên, bỗng nhiên bước chân khẽ khựng lại vì ngạc nhiên. Dưới ánh đèn dầu lạc le lói đặt trên chiếc bàn gỗ mộc, Tiêu Mộc đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế đẩu, thân hình cao lớn vạm vỡ của chàng in một bóng đen vững chãi lên vách đất. Trên tay chàng lúc này đang cầm một cuốn sách thẻ tre cũ kỹ được đóng bằng chỉ gai chắc chắn - thứ đồ vật mà từ ngày nàng bước chân về làm dâu họ Tiêu đến nay, chưa từng thấy chàng chạm tay vào một lần nào.
Trước đây Diệp Lạc Hân vẫn luôn cảm thấy kỳ lạ; trong một gian buồng thợ săn thô sơ ở chốn thôn quê nghèo khó, tại sao góc phòng lại có một giá sách gỗ nhỏ và chiếc bàn viết vuông vức gọn gàng đến thế. Nàng từng nghĩ đó là đồ đạc thừa thãi của Tiêu Cảnh để lại; nhưng theo thời gian chung sống, nàng dần nhận ra người trượng phu thâm trầm này của mình không hề mù chữ, chàng biết chữ, thậm chí nét chữ viết ra còn vô cùng rắn rỏi, cứng cáp như mũi tên bắn trúng hồng tâm.
Nàng rón rén bước lại gần, tà áo thô khẽ lay động mang theo làn hương thơm mát rượi; Diệp Lạc Hân cúi đầu nhìn lướt qua những dòng chữ Hán cổ mực son nẹp giữa những thanh tre mỏng, rồi cất giọng nhỏ nhẹ thì thào bên tai chàng: "Hôm nay sao phu quân lại nổi hứng ngồi đọc sách khuya thế này?"
Hơi thở ấm nóng cùng mùi hương hoa lê dịu ngọt bất ngờ ập tới khiến bờ vai rộng của Tiêu Mộc khẽ rung lên một nhịp; chàng không ngẩng đầu ngay mà thong thả lật qua một thẻ tre, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nửa kín nửa hở: "Đọc chơi cho khuây khỏa thôi; đêm dài thanh vắng, chưa buồn ngủ thì xem qua vài trang sách cũ."
Vừa dứt lời, bàn tay to lớn đầy những vết chai sạn của người thợ săn liền vươn ra rất tự nhiên, nắm chặt lấy cổ tay mềm mại của Diệp Lạc Hân rồi kéo nhẹ một cái; nàng mất đà, cả thân hình mảnh mai khẽ nghiêng đi rồi ngồi lọt thỏm ngay ngắn vào giữa lòng chàng.
Diệp Lạc Hân khẽ giật mình, nhưng khi nàng cúi mắt nhìn kỹ vào từng dòng chữ đang mở ra trên bàn, sự chú ý của nàng lập tức bị cuốn chặt lấy; đó tuyệt đối không phải là những cuốn sách vỡ lòng Tam Tự Kinh hay Thiên Tự Văn dành cho con trẻ tập đọc, mà là một cuốn lược luận thâm sâu bàn về đạo an dân, mưu lược điều binh và thế trận quyền mưu của bậc vương giả. Từng câu chữ gãy gọn, hàm súc, tư tưởng khoáng đạt và sắc bén đến mức khiến người đọc phải lạnh cả sống lưng; đây là loại sách chỉ có trong phủ đệ của các bậc vương tôn quý tộc hoặc đại nho danh tiếng chốn kinh kỳ mới có thể lưu giữ.
Trái tim Diệp Lạc Hân đập thình thịch từng nhịp hoang mang; nàng ngước nhìn góc nghiêng cương nghị của người đàn ông bên cạnh, nhận ra mình dường như vẫn chưa bao giờ nhìn thấu được người trượng phu này. Chàng rốt cuộc là ai? Một thợ săn tài ba ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc, hay là một dòng dõi quyền quý sa cơ lỡ vận đang lẩn tránh phong ba bão táp của chốn triều đình?
Nàng khẽ chớp mắt, cố nén sự chấn động trong lồng ngực rồi cất giọng thăm dò: "Sao phu quân lại đọc loại sách lược luận thâm sâu này? Sách này... đâu phải thứ mà người bình thường có thể đọc hiểu được."
Tiêu Mộc khẽ bật cười trầm thấp, tiếng cười rung rinh nơi lồng ngực dày dặn truyền thẳng sang lưng nàng; bàn tay chàng bắt đầu trượt từ eo nàng lên phía trên, siết nhẹ lấy vòng eo thon thả rồi cất giọng trêu ghẹo đầy vẻ cưng chiều: "Nương tử của ta vừa biết chữa bệnh cứu người, lại vừa biết chế tạo nông cụ kỳ diệu, nay còn tính toán kinh doanh buôn bán giỏi giang đến thế; làm trượng phu như ta nếu không chịu đọc thêm vài cuốn sách cho mở mang đầu óc, há chẳng phải sau này sẽ mang tiếng là kẻ bất tài ăn bám vợ hay sao?"
Thấy chàng buông lời cợt nhả, lại cảm nhận được bàn tay to lớn nóng hổi kia đang bắt đầu luồn lách qua lớp áo mỏng không chịu an phận, gò má Diệp Lạc Hân lập tức đỏ ửng lên như ráng chiều; nàng thẹn thùng chống hai tay lên vai chàng toan vùng vẫy đứng dậy: "Chàng chỉ toàn nói hươu nói vượn, mau buông thiếp ra để thiếp đi ngủ..."
Thế nhưng, sức lực mảnh mai của nàng làm sao đọ lại được một thợ săn từng tay không hạ gục lợn lòi nơi rừng rậm; Tiêu Mộc chẳng những không buông mà cánh tay sắt ghì chặt lấy hông nàng, kéo ghì cả thân hình mềm mại của nàng dán chặt vào lồng ngực rắn rỏi của mình.
"Phu quân..." Diệp Lạc Hân hoảng hốt thốt lên một tiếng khe khẽ; ở khoảng cách sát sạt không một kẽ hở này, nàng đã cảm nhận vô cùng rõ rệt sự biến chuyển nóng bỏng, cương cứng đầy nam tính từ một bộ phận nào đó trên cơ thể chàng đang áp sát vào người nàng.
Lồng ngực nàng phập phồng gấp gáp, hơi thở bắt đầu trở nên dồn dập; nàng vừa thẹn vừa cuống, nhỏ giọng nài nỉ: "Mau buông thiếp ra đi... trong sân nhà còn có cha nương và cả huynh tẩu nữa; đêm hôm thanh vắng thế này, một chút động tĩnh nhỏ người ta cũng nghe thấy hết, chàng đừng làm càn mà..."
"Ta không buông." Giọng nói của Tiêu Mộc bỗng chốc trở nên trầm khàn, khàn đục như men rượu ủ lâu năm; chàng vùi đầu vào hõm cổ trắng ngần thơm ngát mùi hoa lê của nàng, tham lam hít hà một hơi thật sâu, rồi bờ môi ấm nóng khẽ hé mở, nhẹ nhàng cắn lên làn da mịn màng nơi xương quai xanh của thê tử.
Một luồng điện tê dại chạy dọc sống lưng khiến Diệp Lạc Hân run bắn cả người; nàng cắn chặt môi dưới để ngăn không cho tiếng rên rỉ bật ra khỏi cổ họng. Trong lúc bối rối đưa mắt nhìn quanh tìm cớ thoái thác, ánh mắt nàng bỗng nhiên bắt gặp một bóng trắng nhỏ xíu đang ngồi chồm hổm ngay trước ngưỡng cửa buồng.
Đó chính là tiểu bạch hổ Nguyên Bảo; con thú nhỏ với cái chân sau quấn băng trắng tinh đang nghiêng đầu tò mò, đôi mắt tròn xoe màu lam biếc mở to hết cỡ, chăm chú nhìn từng hành động của hai người chủ nhân với vẻ mặt ngơ ngác vô cùng.
Diệp Lạc Hân như vớ được chiếc phao cứu sinh, vội vàng đưa tay đẩy nhẹ vào cằm Tiêu Mộc, lắp bắp nhắc nhở: "Kìa phu quân... Nguyên Bảo đang nhìn kìa! Nó... nó thấy hết cả rồi!"
Những lần ân ái trước kia của hai người phần lớn đều diễn ra nơi hang đá hoang vu trên đỉnh núi cao, giữa trời đất bao la tĩnh mịch không bóng người qua lại; nay ở trong căn nhà gỗ vách đất chật chội, người nhà chỉ cách nhau một tấm liếp mỏng manh, lại bị một con thú nhỏ nhìn chằm chằm như thế, nàng xấu hổ đến mức chỉ muốn độn thổ xuống đất cho xong.
Tiêu Mộc đang lúc men tình dâng trào, bỗng nhiên bị thê tử cắt ngang liền nhíu mày bực bội; chàng ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc lẹm như dao cạo phóng thẳng về phía ngạch cửa buồng. Nhìn thấy con hổ con vẫn đang dán mắt vào thê tử mình mà không chịu chớp, đáy mắt chàng bỗng lóe lên một tia sáng lạnh lẽo; chàng gằn giọng quát trầm một tiếng, thanh âm mang theo sát khí sắc lạnh của loài thú săn mồi: "Cút xa ra ngoài!"
Nguyên Bảo vốn dĩ mỗi đêm đều nằm ở ngạch cửa này để canh gác, cuộc sống vẫn trôi qua vô cùng êm đềm ấm no; nào ngờ hôm nay cái tên đàn ông hung dữ này lại đột nhiên phát điên, ánh mắt trừng trừng như muốn lột da xẻ thịt nó ra làm thức ăn. Con thú nhỏ tuy chưa trưởng thành nhưng bản năng sinh tồn vô cùng nhạy bén; nó rùng mình một cái, cụp chặt hai chiếc tai tròn xoe xuống đầu, rồi không dám chậm trễ nửa chớp mắt, vội vàng kéo lê cái chân sau bị thương ba chân bốn cẳng lủi thủi trốn tót ra ngoài khoảng sân râm mát.
Căn phòng lại trở về với sự tĩnh mịch vốn có; tiếng then cài cửa bằng gỗ vang lên một tiếng cạch dứt khoát khi Tiêu Mộc vươn tay đóng chặt cửa buồng lại.
Trước khi thành thân với Diệp Lạc Hân, Tiêu Mộc vốn là kẻ lạnh lùng lãnh đạm như tảng băng trôi ngàn năm; chàng xem thường chuyện nữ sắc, coi việc lấy vợ sinh con chỉ là gánh nặng trần tục. Cha chàng là Tiêu Trường Hà đã dăm lần bảy lượt tìm mối mai dạm hỏi, chàng đều cương quyết chối từ không một chút đắn đo; mãi cho đến khi gia cảnh bế tắc, nàng bước vào cuộc đời chàng như một định mệnh không thể chối từ, chàng mới miễn cưỡng gật đầu chấp thuận.
Thế nhưng giờ đây, người đàn ông sắt đá ấy dường như đã hoàn toàn đắm chìm, nghiện ngập trong từng nụ cười, từng ánh mắt và hương thơm thanh khiết của người phụ nữ mảnh mai trước mắt này; chỉ cần nàng khẽ nhíu mày, cả tâm can chàng liền thắt lại, chỉ cần chạm vào làn da mịn màng của nàng, mọi lý trí và sự kiềm chế của chàng đều tan biến thành tro bụi.
Ngọn đèn dầu trên bàn khẽ chao đảo rồi phụt tắt; ánh trăng rọi qua khe liếp mờ ảo, phủ lên chiếc giường tre ọp ẹp một lớp voan mỏng lung linh. Tiếng vải thô cọ xát sột soạt hòa cùng tiếng thở dốc nồng nàn dồn dập; đôi lông mày lá liễu của Diệp Lạc Hân lúc thì cau lại vì đau đớn ngọt ngào, lúc lại giãn ra trong sự đê mê say đắm. Mảnh trăng trên cao dường như cũng cảm thấy ngượng ngùng trước cảnh ân ái mặn nồng của đôi lứa, liền kéo một đám mây đen mỏng che khuất nửa vành gương; căn buồng nhỏ hoàn toàn chìm vào bóng tối thăm thẳm, chỉ còn lại những tiếng nỉ non âu yếm, tiếng nhịp tim đập thình thịch hòa lẫn trong tiếng rên rỉ nghẹn ngào kéo dài mãi cho đến tận canh tư mới chịu lắng dịu.
Trong khi thôn Thanh Sơn đang chìm sâu vào giấc ngủ yên bình của đêm thu, thì tại huyện nha Thanh Hà cách đó hơn hai mươi dặm đường, một gian phòng công đường vẫn còn sáng rực ánh nến lung linh.
Thanh Hà là một huyện nghèo nàn nằm nép mình bên dãy núi phía bắc; đất đai khô cằn, nguồn nước tưới tiêu phụ thuộc hoàn toàn vào mưa trời, dân cư thưa thớt quanh năm chỉ trông chờ vào hai vụ lúa nước bấp bênh. Huyện lệnh Lưu - vị quan phụ mẫu đương nhiệm của cả vùng - đang ngồi tựa lưng vào chiếc ghế bành bọc da cũ kỹ, hai hàng lông mày nhăn tít lại thành một chữ xuyên sâu hoắm trên trán.
Ông năm nay đã ngoài bốn mươi tuổi, thân hình gầy gò mảnh khảnh, vầng trán cao lộ rõ vẻ cần cù của một nho sinh xuất thân từ tầng lớp bần hàn. Huyện lệnh Lưu đã nhậm chức tri huyện ở cái vùng đất hẻo lánh này ròng rã suốt bảy tám năm trời; bảy tám năm qua, ngày nào ông cũng thức khuya dậy sớm, giải quyết công văn án quyển cần mẫn như một con tằm ăn rỗi, ăn không dám ăn ngon, mặc không dám mặc lụa là xa xỉ.
Thế nhưng, đạo làm quan ở chốn phong kiến vốn dĩ vô cùng khắc nghiệt; kẻ không có gia thế hiển hách chống lưng, lại không có bạc vàng đút lót cho các quan lớn ở phủ thành và lục bộ trên kinh kỳ, thì chỉ có thể chôn chân cả đời ở những vùng rừng thiêng nước độc. Suốt gần một thập kỷ cai trị, ông chỉ giữ cho huyện hạt được yên ổn thái bình, không có giặc cướp hoành hành, không có dân đói làm loạn; nhưng về mặt chính tích nổi bật - những thành tích chói lọi để triều đình ghi nhận và thăng quan tiến chức - thì hoàn toàn là một con số không tròn trĩnh.
Thấy việc thăng quan lên tri phủ hay điều chuyển về kinh thành ngày càng trở nên vô vọng, Huyện lệnh Lưu dần dần cũng nguội bớt nhiệt huyết thanh vân; ông chỉ cầu mong giữ tròn bổn phận, không có công thì cũng đừng để xảy ra lỗi lầm, hàng năm đốc thúc dân chúng cấy cày đúng vụ, thu đủ số thuế lương thực nộp lên kho bạc triều đình để giữ lấy cái mũ ô sa trên đầu.
Lúc này đang là cuối tháng bảy âm lịch - thời điểm then chốt nhất trong năm khi nông dân các thôn làng phải khẩn trương gặt sạch lúa sớm vụ chiêm để kịp thời lấy nước làm đất cấy lúa mùa vụ hai. Nếu thôn nào chậm trễ thời vụ, lúa giống cấy muộn gặp phải gió heo may và sương muối cuối thu sẽ bị nghẹn đòng, dẫn đến mất mùa đói kém; khi ấy, người chịu trách nhiệm đầu tiên trước quan trên không ai khác chính là vị quan phụ mẫu như ông.
Bởi vậy, mấy ngày qua Huyện lệnh Lưu ăn ngủ không yên, liên tục phái các toán nha dịch và bộ khoái tỏa đi khắp các thôn làng trong huyện để đốc thúc, giám sát tiến độ gặt lúa cấy mạ.
Một tiếng bước chân dồn dập vang lên từ ngoài hành lang lát gạch; cánh cửa phòng công đường khẽ đẩy ra, một tên nha dịch mặc áo giáp da, thắt lưng đeo đao, phong trần mệt mỏi bước nhanh vào trong, quỳ một gối xuống sàn đất hành lễ: "Khởi bẩm đại nhân, tiểu nhân vừa từ thôn Thanh Sơn trở về để báo cáo tình hình vụ mùa!"
Huyện lệnh Lưu khẽ xoa hai bên thái dương đang căng nhức vì mỏi mệt, mệt mỏi ngẩng đầu lên khỏi đống sổ sách dày cộp, cất giọng trầm thấp hỏi: "Tình hình bên đó thế nào rồi? Thôn Thanh Sơn địa thế hiểm trở, ruộng bậc thang lại nhiều sỏi đá; năm ngoái vào thời điểm này họ vẫn còn đang oằn lưng gặt dở ngoài đồng, năm nay tiến độ đã hoàn thành được năm phần mười hay chưa?"
Tên nha dịch ngẩng đầu lên, vẻ mặt lộ rõ sự kinh ngạc chưa tan, cất giọng dõng dạc bẩm báo: "Bẩm đại nhân, chuyện lạ lùng vô cùng! Thôn Thanh Sơn năm nay không những không chậm trễ, mà toàn bộ lúa sớm của cả thôn đã được thu hoạch xong xuôi sạch sẽ từ ba ngày trước rồi ạ; hiện tại dân làng họ đã lấy nước vào ruộng, đang đồng loạt cấy lúa vụ hai rất khẩn trương!"
"Ngươi nói cái gì?" Huyện lệnh Lưu giật nảy mình, đánh rơi cả cây bút lông đang cầm trên tay xuống mặt bàn làm bắn ra những giọt mực đen nhánh; ông bật phắt người đứng dậy, đôi mắt mở to hết cỡ nhìn chằm chằm vào tên nha dịch, giọng nói bỗng chốc trở nên gay gắt và hoảng hốt: "Thu hoạch xong toàn bộ lúa sớm rồi sao? Chuyện này làm sao có thể xảy ra được! Lẽ nào năm nay thôn Thanh Sơn bị hạn hán hoặc sâu bệnh tàn phá làm lúa lép hạt, sản lượng lương thực bị sụt giảm thê thảm đến mức không có lúa để gặt hay sao? Mau nói thật cho bản quan biết!"
Trong đầu vị huyện lệnh lập tức hiện lên viễn cảnh đen tối của một trận thiên tai mất mùa; nếu thôn Thanh Sơn bị sụt giảm sản lượng, số thuế lương thực thiếu hụt sẽ là một đòn giáng nặng nề vào bảng đánh giá quan lại cuối năm của ông.
Tên nha dịch thấy quan huyện hiểu lầm liền vội vàng xua tay đính chính: "Đại nhân bớt giận, tuyệt đối không phải mất mùa đâu ạ! Tiểu nhân đã đích thân đến tận bờ ruộng kiểm tra và gặng hỏi Lý chính Tiêu Đại Sinh; năm nay thôn Thanh Sơn mưa thuận gió hòa, hạt thóc mẩy tròn đều tăm tắp, sản lượng còn cao hơn năm ngoái gần hai phần! Sở dĩ họ gặt hái nhanh như thần tốc là vì trong thôn có người tài ba sáng chế ra một cỗ máy kỳ diệu, gọi là cỗ máy tuốt lúa bằng gỗ đạp chân!"
"Máy tuốt lúa bằng gỗ đạp chân?" Huyện lệnh Lưu ngẩn người ra, lặp lại từng từ một cách vô cùng ngỡ ngàng; bao năm làm quan phụ mẫu, ông chỉ từng nghe nói đến cối đá xay lúa, cối giã gạo đạp chân hay bồ đập lúa bằng tre đan, chứ chưa từng nghe thấy trên đời này lại có một thứ gọi là máy tuốt lúa.
Tên nha dịch hào hứng kể tiếp, giọng điệu đầy vẻ thán phục: "Dạ bẩm đại nhân, đúng là thần kỳ trăm phần trăm! Chiếc máy đó làm hoàn toàn bằng gỗ, bên trong có một trục lăn gắn đầy những hàng răng sắt uốn cong; chỉ cần một người đứng đạp bàn đạp phía dưới, trục lăn sẽ quay tít thò lò phát ra tiếng vù vù như xé gió. Người ta chỉ việc cầm từng bó lúa đưa sát vào trục răng, trong chớp mắt hạt thóc đã rụng rào rào xuống lòng thùng gỗ, sạch bong kin kít không sót lại một hạt nào; rơm rạ sau khi tuốt vẫn thẳng thớm nguyên vẹn chứ không hề bị dập nát như đập vào bồ tre! Nhờ có cỗ máy đó, một nhà bốn người chỉ mất nửa ngày là tuốt xong số lúa mà trước đây phải đập còng lưng suốt ba ngày ròng rã!"
Lời bẩm báo chi tiết và sống động của tên nha dịch như một tia sét rạch ngang bầu trời đêm tăm tối, giáng thẳng vào tâm trí của Huyện lệnh Lưu. Trái tim già nua của vị quan huyện bỗng nhiên đập thình thịch, thình thịch từng nhịp dồn dập đến nghẹt thở; hai bàn tay ông bất giác run rẩy bấu chặt lấy mép bàn gỗ tếch.
Thiên tài! Đây quả thực là một sáng chế vĩ đại của bậc kỳ nhân dị sĩ nơi thôn dã!
Là một vị quan phụ mẫu cai quản nông nghiệp suốt bảy tám năm qua, Huyện lệnh Lưu hiểu rõ hơn bất kỳ ai giá trị kinh thiên động địa của cỗ máy này. Trong sản xuất nông nghiệp thời cổ đại, thời vụ chính là sinh mệnh; gặt lúa sớm một ngày là tránh được một ngày nguy cơ mưa bão lụt lội làm thối róc hạt thóc ngoài đồng, gặt nhanh bao nhiêu thì kịp thời gian cấy lúa vụ sau bấy nhiêu. Nếu cỗ máy tuốt lúa này thực sự có công năng thần tốc như lời đồn, bản quan chỉ việc dâng bản vẽ và cỗ máy lên tri phủ, tri phủ dâng lên Tuần phủ đại nhân, rồi tấu trình lên Công bộ triều đình...
Nghĩ đến đó, toàn thân Huyện lệnh Lưu bỗng nóng bừng lên như có ngọn lửa thiêu đốt; đôi mắt ông rực sáng lên những tia hy vọng mãnh liệt. Đây không chỉ là một chiếc máy nông cụ bình thường, mà đây chính là chiếc chìa khóa vàng mở toang cánh cửa thăng quan tiến chức mà ông hằng mơ ước bấy lâu nay! Một kỳ công chính tích to lớn đủ để chấn động cả một góc trời!
"Cái tên Tiêu Đại Sinh này, trong thôn có bảo vật nông nghiệp thần kỳ như thế mà lại dám giấu giếm không chịu báo cáo lên huyện nha!" Huyện lệnh Lưu vừa mừng vừa giận, đập mạnh tay xuống bàn quát lớn: "Mau, ngươi lập tức đi triệu Tiêu Đại Sinh đến huyện nha diện kiến bản quan ngay trong đêm nay!"
Tên nha dịch vội vàng nhận lệnh toan quay người bước đi, nhưng Huyện lệnh Lưu bỗng nhiên ngẩng đầu nhìn qua khung cửa sổ; vầng trăng đã ngả về tây, bóng đêm mịt mùng bao phủ khắp núi đồi, đường rừng hiểm trở thú dữ rình rập, đi lại trong đêm vô cùng nguy hiểm. Hơn nữa, việc trọng đại liên quan đến tiền đồ vận mệnh cả đời của mình thế này, nếu chỉ nghe lời kể lại của thuộc hạ thì làm sao có thể hoàn toàn yên tâm cho được?
"Khoan đã, dừng lại!" Huyện lệnh Lưu vội vàng cất tiếng gọi giật ngược; ông đứng thẳng người dậy, chỉnh lại vạt áo lụa xộc xệch, ánh mắt lộ rõ vẻ quả quyết chưa từng có: "Trời đã khuya rồi, đường sá xa xôi cách trở; ngươi đi truyền lệnh xuống chuồng ngựa, chuẩn bị sẵn cỗ xe ngựa tốt nhất cùng bốn tên nha dịch tinh nhuệ; sáng sớm ngày mai, ngay khi cổng thành vừa mở, bản quan sẽ đích thân vi hành về thôn Thanh Sơn một chuyến để tận mắt mục sở thị cỗ máy tuốt lúa thần kỳ kia!"
Tên nha dịch chấn động trong lòng, vội vàng chắp tay cúi rạp người: "Tiểu nhân tuân lệnh đại nhân!"
Sáng sớm ngày hôm sau, khi những giọt sương mai còn đọng long lanh trên từng ngọn cỏ ven đường và làn sương mù mỏng manh vẫn còn lãng đãng bao phủ quanh các sườn đồi, con đường đất nhỏ dẫn vào thôn Thanh Sơn bỗng nhiên bị khuấy động bởi những âm thanh ồn ã khác thường.
Tiếng vó ngựa nện xuống nền đất cằn cỗi phát ra những chuỗi âm thanh lộc cộc, lộc cộc giòn giã và dồn dập; tiếng trục bánh xe gỗ nghiến rào rào trên sỏi đá, cuốn theo từng làn bụi đất mù mịt bốc lên cuồn cuộn trong gió sớm.
Dân làng thôn Thanh Sơn người thì vác cuốc chuẩn bị ra đồng cấy lúa, người thì gánh nước quét sân, vừa nghe thấy tiếng động ầm ĩ từ đầu làng liền đồng loạt dừng tay lại; ai nấy đều ngơ ngác, kéo nhau túa ra hai bên con đường cái để ngó nghiêng xem có chuyện gì lạ.
Ở chốn thôn quê hẻo lánh này, quanh năm suốt tháng dân làng chỉ thấy xe bò kéo kẽo kẹt hay lừa thồ hàng chậm chạp; xe ngựa đối với họ là thứ xa xỉ chỉ có những phú hộ giàu nứt đố đổ vách ngoài trấn mới có thể ngồi lên. Thế nhưng cỗ xe ngựa đang tiến vào làng lúc này lại đồ sộ và uy nghiêm hơn gấp bội; thùng xe làm bằng gỗ sơn son thếp vàng, bốn góc rủ những dải lụa đỏ thắm phất phơ trong gió, phía trước là hai con tuấn mã lông đen nhánh bóng mượt đang thở phì phò từng luồng hơi trắng.
Chưa dừng lại ở đó, đi kèm hai bên cỗ xe ngựa là bốn tên nha dịch vạm vỡ, mặc áo giáp da màu đen viền đỏ, đầu đội nón nỉ, thắt lưng thắt dải lụa bản to đeo những thanh yêu đao vỏ đồng sáng loáng; bộ dạng đằng đằng sát khí khiến bất kỳ người nông dân chân lấm tay bùn nào nhìn thấy cũng phải bủn rủn cả tay chân.
Cỗ xe ngựa lộc cộc chạy chậm dần rồi dừng lại ngay dưới gốc cây đa cổ thụ ở đầu làng; tiếng vó ngựa dậm chân thình thịch trên mặt đất bụi bặm.
Một tên nha dịch nhanh nhẹn tiến lên phía trước, đặt chiếc ghế gỗ nhỏ xuống đất rồi cung kính vén tấm rèm lụa thêu hoa văn nhã nhặn của thùng xe lên; từ bên trong, một người đàn ông trung niên thân hình gầy gò, râu tóc chải chuốt gọn gàng, khuôn mặt chữ điền mang vẻ ôn nhuận nho nhã chầm chậm bước xuống.
Người đàn ông ấy vận một bộ áo bào gấm màu đỏ thắm thêu hoa văn mây lượn rực rỡ dưới ánh ban mai; trên đầu ông đội chiếc mũ ô sa hai cánh chuồn màu đen nhánh - biểu tượng tối cao cho quyền lực của triều đình phong kiến nơi huyện hạt này.
Đám đông dân làng đang vây xem xung quanh vừa nhìn thấy bộ áo bào đỏ cùng chiếc mũ ô sa thì cả trăm con người bỗng chốc rúng động kinh hoàng; tiếng bàn tán xôn xao lập tức tắt ngấm, thay vào đó là sự sợ hãi tột độ ăn sâu vào tiềm thức của những kẻ bần nông cả đời chưa từng thấy quan lớn bao giờ.
"Trời đất ơi... Quan huyện lệnh đại nhân giáng trần rồi!"
Một tiếng hô thất thanh vang lên, và ngay giây tiếp theo, già trẻ gái trai trong thôn Thanh Sơn đều vội vã quỳ rạp hết xuống hai bên vệ đường; trán dán chặt xuống nền đất lạnh, toàn thân run như cầy sấy, không một ai dám ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào dung mạo của quan phụ mẫu.
Huyện lệnh Lưu đưa mắt nhìn quanh khoảng sân đầu làng một lượt; thấy bách tính thuần phác nhưng sợ hãi uy quyền đến mức co rúm người lại, ông khẽ mỉm cười xua tay, cất giọng ôn hòa mang theo khẩu khí của bậc cha mẹ dân: "Bách tính thôn Thanh Sơn bình thân cả đi; bản quan hôm nay vi hành về đây là để thăm hỏi vụ mùa, không phải đến bắt bớ hạch tội ai, mọi người không cần phải kinh hoảng như thế."
Nghe quan huyện lệnh nói lời nhân từ, dân làng mới lục tục dám ngẩng đầu bò dậy, nhưng hai chân ai nấy vẫn còn run lẩy bẩy, đứng nép sát vào nhau thì thào bàn tán xem rốt cuộc chuyện gì lớn đã xảy ra mà kinh động đến cả cỗ xe của quan phụ mẫu.
Huyện lệnh Lưu quay sang tên nha dịch dẫn đường bên cạnh, cất giọng trầm ổn ra lệnh: "Lý chính thôn này tên là Tiêu Đại Sinh đúng không? Mau phái người đi tìm hắn tới đây diện kiến bản quan ngay lập tức!"
Trong khi đó, ở khu ruộng trũng phía tây của thôn Thanh Sơn, không khí lao động cấy lúa vụ hai vẫn đang diễn ra vô cùng tất bật; tiếng lội bùn bì bõm, tiếng người gọi nhau í ới vang vọng khắp cánh đồng ngập tràn nước phù sa màu mỡ.
Lý chính Tiêu Đại Sinh lúc này đang xắn cao hai ống quần chàm lên tận bẹn, chân trần ngập sâu trong lớp bùn nhão nhoét; lưng ông còng rạp xuống, hai bàn tay thoăn thoắt cắm từng nhánh mạ non xanh mướt xuống mặt ruộng thẳng tắp. Mặt mũi, chân tay và vạt áo của ông đều lấm lem bùn đất, mồ hôi nhễ nhại chảy dài trên trán nhỏ giọt tong tòng xuống mặt nước phù sa.
Đúng lúc đó, từ trên con đường đê bao quanh cánh đồng, một người nông dân trong thôn đang cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng; đôi chân trần của anh ta dẫm trên bờ cỏ phát ra những tiếng huỳnh huỵch dồn dập, vừa chạy vừa vung vẩy hai cánh tay, miệng thở không ra hơi gào thét thất thanh: "Lý chính ơi! Tiêu Đại Sinh thúc ơi! Nguy to rồi... nguy ngập đầu rồi thúc ơi!"
Tiếng gào thét hoảng loạn như xé toạc bầu không khí yên bình của cánh đồng lúa; Tiêu Đại Sinh giật mình ngẩng phắt đầu lên, đưa bàn tay đầy bùn quệt ngang trán, nhíu mày quát lớn: "Cái thằng chết tiệt kia, sáng sớm ngày ra chưa ăn cơm hay sao mà chạy như ma đuổi thế? Có chuyện gì thì nói từ từ, gào toáng lên như cháy nhà thế hả?"
Người nông dân thở hồng hộc, hai tay chống chặt vào đầu gối, lắp bắp mãi mới thành lời: "Quan... quan huyện lệnh đại nhân! Xe ngựa của quan phụ mẫu vừa vào đến đầu làng rồi! Có cả một đoàn nha dịch đeo yêu đao sáng loáng vây quanh, đích thân đại nhân hạ giá về làng, đang đứng ở gốc đa đầu thôn truyền lệnh đòi gặp thúc ngay lập tức kìa!"
Lời nói ấy vừa thốt ra khỏi miệng người nông dân chẳng khác nào một tiếng sét nổ ngang tai giữa trưa hè thanh vắng; cả cánh đồng bỗng chốc im bặt như tờ, hàng chục người nông dân đang cấy lúa gần đó đều sững sờ hóa đá, mở to hai mắt nhìn về phía Tiêu Đại Sinh.
Hai đầu gối của Tiêu Đại Sinh bỗng nhiên run rẩy dữ dội, lục phủ ngũ tạng như đảo lộn tùng phèo; cái cảm giác sợ hãi quan phủ đã ăn sâu vào máu thịt khiến toàn bộ sức lực trong người ông như bị rút cạn sạch trong chớp mắt. Đôi chân trần đang cắm dưới bùn bỗng mềm nhũn ra như hai cọng bún thiu; ông không còn đứng vững nổi nữa, cả thân hình to béo ngã ngửa ra sau, "ùm" một tiếng thật to, ngồi phịch cả mông xuống lòng ruộng nước bùn lầy!
Nước bùn bắn tung tóe lên mặt mũi, dính đầy chòm râu và tóc tai của vị trưởng thôn; thế nhưng Tiêu Đại Sinh chẳng còn tâm trí đâu mà lau chùi, mặt mày ông cắt không còn một giọt máu, trắng bệch như tờ giấy quyến.
Đôi môi ông run lẩy bẩy, hai hàm răng va vào nhau lập cập phát ra những tiếng cành cạch rợn người; ông ôm lấy ngực, hoảng loạn lẩm bẩm trong cổ họng: "Trời đất quỷ thần ơi... Quan huyện lệnh đích thân về làng ta sao? Sao người lại đến đây? Lẽ nào... lẽ nào thằng nghịch tử Tiêu Hữu Tài ở ngoài huyện nha đã gây ra đại họa tày trời gì rồi?"
Nghĩ đến đứa con trai độc nhất đang làm thuê ở ngoài trấn huyện, Tiêu Đại Sinh càng thêm kinh hồn bạt vía; người nông dân cả đời chỉ biết cúi mặt xuống đất lưng quay lên trời, hễ thấy quan lại huyện nha xuất hiện là trong đầu chỉ nghĩ đến chuyện bắt giam, khảo đả, tù tội hoặc tịch thu gia sản. Ông sợ đến mức nước mắt chực trào ra, miệng lảm nhảm tuyệt vọng: "Phen này nhà ta tiêu rồi... tiêu thật rồi!"
Đứng ở bờ ruộng bên cạnh, vợ của Lý chính đang cắp chiếc rổ đựng mạ non, vừa thấy chồng mình sợ đến mức ngã ngồi bệt xuống bùn lầy như một đứa trẻ mất hồn liền tức giận vứt mạnh chiếc rổ xuống bờ cỏ; bà lội ào ào xuống bùn, túm lấy vạt áo chồng giật mạnh một cái, cất giọng the thé vừa mắng vừa trấn an: "Phỉ phỉ phỉ cái miệng quạ thối tha của ông! Ông suốt ngày chỉ biết rủa con mình gặp họa thôi sao? Hữu Tài nhà ta tính tình hiền lành chất phác như cục đất, đi làm thuê ngoài trấn ai cũng khen ngoan ngoãn chăm chỉ, há lại là kẻ dám trộm cắp giết người hay gây chuyện thị phi? Ông chưa hỏi rõ đầu đuôi ngọn ngành mà đã tự mình dọa chết mình thế này à!"
Bà vợ dùng sức kéo bổng Tiêu Đại Sinh đứng dậy khỏi vũng bùn, vỗ mạnh vào lưng ông mấy cái thình thịch để xua tan cơn hoảng loạn, rồi giục giã dồn dập: "Chẳng biết chừng quan lớn về làng là có chuyện ban thưởng đại sự tốt lành gì đó! Ông là Lý chính của cả một thôn, quan phụ mẫu cho gọi mà còn ngồi đây khóc lóc om sòm thì có ngày mất đầu thật đấy! Mau mau trèo lên bờ, múc nước rửa sạch chân tay mặt mũi rồi ba chân bốn cẳng chạy về tiếp giá cho tròn bổn phận đi!"
Những lời mắng té tát đầy uy lực của người vợ hiền như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt, kéo Tiêu Đại Sinh trở về với thực tại; ông nuốt khan một ngụm nước bọt nghẹn ứ nơi cổ họng, lập cập bám vào bờ cỏ trèo lên con đường đê.
Hai bàn chân ông vẫn còn run rẩy đến mức không nhấc nổi lên; ông phải đứng tựa lưng vào một thân cây sung bên bờ ruộng hồi lâu, hít thở sâu từng hơi dồn dập, đợi cho đến khi nhịp tim bớt đập thình thịch và hai đầu gối không còn nhũn ra nữa, mới vội vàng vốc mấy vốc nước mương rửa qua loa lớp bùn đất bám trên mặt mũi và hai bàn chân.
Chẳng kịp xỏ dép rơm, Tiêu Đại Sinh cứ thế để chân trần, vừa túm chặt lấy vạt áo chàm ướt sũng bùn đất vừa ba chân bốn cẳng cắm đầu chạy thục mạng về phía cổng làng; tiếng bước chân dẫm trên con đường đất lộc cộc, huỳnh huỵch rộn rã trong nắng sớm.
Vừa chạy, vị Lý chính già vừa chắp hai bàn tay run rẩy trước ngực, ngửa mặt lên trời thầm khấn vái lia lịa: "Phật Tổ từ bi phù hộ độ trì, Quan Âm Bồ Tát linh thiêng cứu vớt con cháu họ Tiêu... ngàn vạn lần đừng là tin dữ... trăm lạy ngàn lạy các đấng thần linh phù hộ cho thôn Thanh Sơn tai qua nạn khỏi!"
Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng ông vẫn dâng lên một nỗi hoang mang tột cùng; một vị quan phụ mẫu suốt bảy tám năm qua chưa từng đặt chân đến cái thôn nghèo heo hút này, nay lại đột ngột ngự giá vi hành đem theo cả một đoàn nha dịch uy nghiêm, rốt cuộc là vì đại sự kinh thiên động địa gì? Và cỗ máy tuốt lúa bằng gỗ đang nằm sừng sững trong sân nhà họ Tiêu kia, sẽ mang đến cho gia đình người thợ săn và cả cái thôn nhỏ này một phúc phần đổi đời rực rỡ, hay là một cơn giông bão quyền lực khôn lường sắp sửa ập xuống?