Chương 34: Đền Ơn Đáp Nghĩa
Nắng sớm mùa thu vừa mới ló dạng qua rặng tre xanh đầu làng, rải những vạt nắng vàng hanh hao xuống con đường đất đỏ gồ ghề của làng Thanh Sơn. Sau ba ngày tang tóc ồn ào và những cuộc cãi vã nảy lửa của đám thân tộc họ Triệu, con ngõ nhỏ cuối cùng cũng tìm lại được vẻ yên bình vốn có. Giữa không gian tĩnh lặng phảng phất hương rơm rạ khô ròn rã, từng bước chân bước đi cồm cộp trên mặt đường lổn nhổn sỏi đá. Đó là Triệu nương tử. Nàng vác trên vai một bao thóc đầy ắp, tấm lưng gầy gò còng rạp xuống vì sức nặng của mùa màng no đủ. Khuôn mặt nàng hốc hác, vành mắt còn thâm quầng sau những đêm thức trắng bên linh cữu của phu quân, nhưng nét mặt bất cần, đanh đá và chua ngoa thường ngày dường như đã hoàn toàn tan biến.
Bước vào cánh cổng tre nhà họ Tiêu, Triệu nương tử cẩn thận đặt bao thóc xuống thềm gạch; miệng bao thóc va vào nền đất đánh huỵch một tiếng khô khốc. Từ Chính Hương đang cầm chiếc chổi rơm quét lá khô ngoài sân, nghe thấy tiếng động liền dừng tay chổi, tiếng soạt soạt im bặt. Bà ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc sảo nhìn người đàn bà góa bụa trước mặt bằng vẻ dò xét thường ngày của một chủ gia đình khó tính.
Triệu nương tử đứng thẳng người, hai bàn tay thô ráp khẽ lau vội vào vạt áo chàm cũ kỹ, rồi bất ngờ khom lưng, chắp tay cúi gập người hành một đại lễ trước mặt Từ Chính Hương. Giọng nàng nghẹn ngào, run rẩy từng chặp: "Tiêu thẩm tử... Trước kia đều là thiếp không phải, tính tình nông nổi nhiều lần nói lời cay nghiệt đắc tội với thẩm và người nhà họ Tiêu. Mấy hôm trước, lúc tang gia bối rối, đám người tham lam nhà họ Triệu kéo đến chèn ép, toan cướp đoạt mảnh ruộng mưu sinh của ba mẹ con thiếp; nếu không có thẩm tử trượng nghĩa đứng ra phân minh lẽ phải, lại mượn uy của lý chính trấn áp đám lang sói ấy, thì mẹ con thiếp giờ này e rằng đã không còn chốn dung thân. Ơn sâu này, thiếp ghi tạc trong lòng suốt đời không dám quên."
Từ Chính Hương nhìn bao thóc vàng óng dưới thềm, lại nhìn dáng vẻ tiều tụy nhưng chân thành của Triệu nương tử, nét mặt nghiêm nghị nơi bà thoáng chốc chùng xuống. Bà buông lỏng cán chổi tre, thở dài một hơi nhẹ bẫng: "Người làng người xóm tối lửa tắt đèn có nhau, thấy cảnh ức hiếp mẹ góa con côi chướng tai gai mắt thì mở miệng vài câu đạo lý, có đáng là bao đâu mà ngươi phải làm bộ làm tịch cúi đầu tạ ơn lớn như thế. Bao thóc này ngươi mang sang, là số thóc mượn nhà ta hôm trước đúng không?"
Triệu nương tử vội vàng gật đầu lia lịa, ánh mắt ánh lên vẻ biết ơn sâu sắc: "Thưa thẩm nương, chính là số thóc nhà thiếp mượn cối tuốt lúa hôm nọ; nhờ chiếc máy kỳ diệu của Tiêu gia, mẹ con thiếp chỉ trong một buổi chiều đã tuốt sạch hai mẫu lúa, phơi phóng khô ráo giòn rụm rồi mới dám mang sang hoàn trả đầy đủ. Thiếp phận đàn bà góa bụa nghèo hèn, chẳng có gì quý giá để đền đáp ơn sâu của thẩm; chỉ mong thẩm tử không chê bai, sau này trong nhà có việc vặt vãnh gì cần người giặt giũ, bửa củi hay làm cỏ, thẩm cứ việc ới một tiếng, thiếp nhất định dốc sức làm giúp để báo đáp phần nào."
Từ Chính Hương nghe vậy liền phất tay áo một cái dứt khoát, giọng điệu tuy cộc cằn nhưng bên trong lại chan chứa sự quan tâm của một bậc trưởng bối: "Thôi đi! Nhà họ Tiêu ta trên có một lão gia siêng năng, dưới có ba đứa con trai sức dài vai rộng như cột đình, việc nặng việc nhẹ trong nhà ngoài ngõ thiếu gì tay chân làm, hà cớ gì phải cần đến đôi bàn tay đàn bà gầy guộc của ngươi? Ngươi cứ giữ lấy sức lực mà cày cấy hai mẫu ruộng, chăm bẵm phụng dưỡng bà mẹ chồng mù lòa, rồi dạy dỗ hai đứa con gái cho nên người. Đừng để người đời nhìn vào mà cười chê rằng đàn bà góa không có bóng đàn ông thì cửa nhà xơ xác; chỉ cần mẹ con ngươi sống yên ổn, giữ được mảnh đất của tổ tiên Đại Sơn để lại, thế là ta mừng rồi!"
Những lời nói thẳng thắn như tạt nước lạnh nhưng lại ấm áp đến tận đáy lòng khiến khóe mắt Triệu nương tử nóng ran. Nàng khẽ đưa mu bàn tay áo gạt đi giọt nước mắt vừa chực trào ra, cúi đầu lần nữa rồi cất giọng nghẹn ngào: "Thẩm nương dạy chí phải... Thiếp xin ghi nhớ từng lời; từ nay về sau thiếp sẽ an phận nuôi con, không bao giờ để người khác chê cười nữa."
Nói xong, Triệu nương tử bước lùi ba bước rồi mới xoay người đi ra cổng tre. Bóng lưng gầy guộc của nàng khuất dần sau rặng tre đầu ngõ, để lại sau lưng một bầu không khí nhẹ nhõm, xóa sạch hoàn toàn những hiềm khích đố kỵ từng đeo bám hai gia đình suốt bao năm tháng qua.
Từ Chính Hương đứng nhìn theo một hồi lâu, đoạn cúi xuống vỗ vỗ vào bao thóc mới ròn rã. Đúng lúc ấy, Dương Phượng từ gian chái bếp bước ra, trên tay bưng chiếc mẹt tre đựng đầy rau rừng vừa rửa sạch, nước còn nhỏ tong tỏng xuống sân. Nàng dâu cả liếc nhìn bao thóc mới vừa được mang tới, lại đưa mắt nhìn những nong thóc vàng ươm của nhà mình đang nằm phơi nắng rực rỡ khắp khoảnh sân rộng, trong lòng không khỏi rạo rực niềm vui được mùa. Dương Phượng bước nhanh đến cạnh mẹ chồng, nuốt nước bọt một cái rõ to, cất giọng đầy háo hức: "Nương ơi! Thóc nhà mình phơi ba nắng to đã khô giòn rụm rồi, nay Triệu nương tử lại vừa trả thêm một bao lúa mới thơm phức thế này; hay là chiều nay nhà ta giã cối gạo mới, thổi một nồi cơm trắng dẻo thơm ăn mừng đi nương!"
Từ Chính Hương nghe con dâu cả mở miệng là nhắc đến chuyện ăn, vừa bực mình vừa buồn cười. Bà vung cán chổi rơm gõ nhẹ một cái cốc lên bả vai Dương Phượng, mắng yêu: "Ăn, ăn, ăn! Suốt ngày cái đầu của con chỉ toàn nghĩ đến chuyện ăn với uống! Thóc mới vừa khô còn chưa kịp đong vào bồ, con đã vội tính chuyện hưởng thụ; sao cái thứ trong đầu con bé Lạc Hân nghĩ ra toàn là máy móc với kế sinh nhai, mà trong đầu con chỉ toàn cơm với thịt thế hả?"
Dương Phượng bị mẹ chồng gõ đầu nhưng chẳng hề giận, trái lại còn cười hì hì, nụ cười chất phác xua tan mọi mệt nhọc: "Nương xem người nói kìa! Đệ muội Lạc Hân người ta là phúc tinh giáng trần, đầu óc thông tuệ tài giỏi như thần tiên, con người trần mắt thịt làm sao mà dám so bì với muội ấy được ạ; con tự biết mình vụng về chất phác, chỉ cần ngoan ngoãn đi theo sau lưng đệ muội, phụ giúp cơm nước việc nhà rồi hưởng chút may mắn lộc trời, thế là con mãn nguyện lắm rồi nương ơi!"
Từ Chính Hương nghe con dâu cả nói chân thật mà không giấu giếm tị nạnh, trong lòng thầm ưng ý vô cùng. Gia đình nông dân nghèo khó, điều quý giá nhất chính là chị em dâu hòa thuận, không so đo tính toán tỵ hiềm; có một nàng dâu lớn biết điều như Dương Phượng thì nhà cửa mới êm ấm được. Bà khẽ mỉm cười, giọng chùng xuống đầy vẻ cưng chiều: "Được rồi, số thóc này phơi đã đủ nắng, hôm nay giã một cối gạo mới ăn mừng cũng phải lẽ; cả nhà vất vả gặt hái cả tháng trời rồi, cũng nên nấu một bữa cơm trắng tinh tươm cho ấm bụng."
Để gạo giữ được mùi thơm tự nhiên và không bị ẩm mốc hay mối mọt gặm nhấm, người làm nông xưa nay không bao giờ giã gạo ồ ạt một lần; cứ ăn đến đâu, họ lại mang cối ra giã đến đó. Vừa nghe Từ Chính Hương đồng ý, Tiêu Trường Hà từ gian nhà chính bước ra, trên vai vắt chiếc khăn vải lau mồ hôi. Ông nghe hai mẹ con bàn chuyện gạo mới, gương mặt sạm nắng nở một nụ cười rạng rỡ. Người đàn ông trụ cột của gia đình bước thẳng tới góc hiên sau, nơi chiếc cối đá xanh to nặng trịch nằm im lìm suốt hai tháng qua dưới một lớp bụi mỏng.
Tiêu Trường Hà cúi người, hai bàn tay gân guốc ôm chặt lấy miệng cối đá, gồng mình nhấc bổng chiếc cối lên. Từng bước chân của ông giẫm mạnh trên mặt đất đánh thịch, thịch từng nhịp nặng nề; cối đá được đặt ngay ngắn xuống khoảng sân gạch râm mát dưới bóng cây thị già. Ông lấy chiếc chổi nhỏ quét sạch bụi bặm trong lòng cối sâu hoắm, rồi dùng gáo dừa múc ba gáo lúa khô đổ vào trong. Tiếng những hạt lúa vàng rơi rào rào, lách cách va vào thành đá nghe thật vui tai. Tiêu Trường Hà xắn cao hai ống tay áo lên tận bắp tay, với lấy chiếc chày gỗ lim đen bóng dựng ở góc tường, chuẩn bị vung tay giã lượt đầu tiên.
Tiêu Cảnh đang ngồi bên bàn học trong gian buồng ngó ra cửa sổ, nghe tiếng lúa va vào cối đá và tiếng cười nói rộn rã ngoài sân, chữ nghĩa trong sách lập tức bay biến sạch trơn. Chàng thiếu niên mười sáu tuổi buông cuốn sách cổ xuống bàn, vội vã chạy tót ra sân, ánh mắt sáng rực nhìn chiếc cối đá đầy lúa mới.
Tiêu Cảnh xấn tới, đưa hai tay toan giật lấy chiếc chày gỗ lim trong tay cha mình, hăng hái xung phong: "Cha ơi! Để việc này cho con làm; cha vất vả ngoài đồng cả buổi sáng rồi, mau ngồi xuống gốc cây uống bát nước chè xanh đi ạ; con đọc sách cả buổi sáng mỏi nhừ cả lưng, để con vung chày giã cối này cho giãn gân giãn cốt, tối nay ăn cơm mới thấy ngon miệng!"
Tiêu Trường Hà nghiêng đầu liếc nhìn đứa con trai út thư sinh mảnh khảnh, khóe môi khẽ nhếch lên nụ cười trêu chọc: "Con mà giã được cối này sao? Cái chày gỗ lim này nặng hơn chục cân, giã lúa phải có thế, dùng lực toàn thân chứ không phải giã tỏi trong bếp đâu con trai; đừng có thấy người ta làm mà tưởng dễ ăn!"
Tiêu Cảnh bị cha xem thường liền ưỡn ngực, vỗ bồm bộp vào ngực mình phân bua: "Cha cứ xem thường con mãi! Con trai mười sáu tuổi rồi, sức vóc khỏe khoắn chẳng kém ai đâu; cha cứ đứng sang một bên xem con trổ tài đây này!"
Thấy con trai nhiệt tình, Tiêu Trường Hà buông tay nhường chiếc chày gỗ lim lại. Tiêu Cảnh hăm hở nắm chặt lấy thân chày, hai chân giang rộng bằng vai, hít một hơi thật sâu rồi vung chày lên cao quá đầu.
Thình thịch! Thình thịch! Cồm cộp!
Chiếc chày gỗ lim nện thẳng xuống lòng cối đá, tạo ra những âm thanh trầm đục vang dội khắp khoảng sân nhỏ. Từng hạt lúa bên trong bị sức ép đập mạnh, bắn tung tanh tách lên mép cối; lớp vỏ trấu vàng rộm bắt đầu nứt toác, làm bay lên từng làn bụi cám gạo mỏng manh, thơm ngai ngái mùi đồng nội. Ban đầu, Tiêu Cảnh vung chày thoăn thoắt, nhịp điệu dồn dập như gõ trống; chàng vừa giã vừa cười toe toét, đắc chí nhìn cha mình.
Thế nhưng, đời không như là mơ. Chỉ mới nện được chừng ba mươi nhát chày, nhịp vung của Tiêu Cảnh bắt đầu chậm hẳn lại. Sức nặng của chiếc chày lim dường như tăng lên gấp đôi sau mỗi lần nâng lên; hai bắp tay của chàng bắt đầu run rẩy bần bật, hơi thở dồn dập, phì phò như bễ lò rèn. Từng giọt mồ hôi to bằng hạt đậu túa ra ròng ròng từ trán, chảy cay xè vào khóe mắt rồi rơi lộp độp xuống nền đất. Đến nhát chày thứ năm mươi, đôi tay Tiêu Cảnh mỏi rừ, bắp thịt căng cứng như đeo đá tảng; chàng không thể nào nâng nổi chiếc chày lên quá thắt lưng nữa.
Buông tay một cái, chiếc chày gỗ lim rơi huỵch xuống đất cát. Tiêu Cảnh mềm nhũn người, ngồi bệt mông xuống đất thở hồng hộc, hai cánh tay buông thõng hai bên sườn, lắc lư không còn chút sức lực nào: "Trời đất quỷ thần ơi... Việc này... việc này sao mà mệt đứt cả hơi tai thế này; hai cánh tay con như muốn rụng rời ra rồi cha ơi!"
Tiêu Trường Hà nhìn bộ dạng thảm hại của con trai út liền bật cười sảng khoái, tiếng cười vang cả góc sân: "Ha ha ha! Đã bảo rồi mà không chịu nghe, ngựa non háu đá! Nghề nông việc nào mà chẳng đổ mồ hôi sôi nước mắt; một bát cơm trắng dẻo thơm con bưng trên tay là kết tinh của biết bao giọt mồ hôi rơi xuống đất đấy. Con suốt ngày ngồi trong bóng râm, mới đọc vài trang sách đã kêu đau đầu mỏi lưng, đó là vì con chưa từng nếm trải cảnh chân lấm tay bùn; đợi khi nào con phải vác cuốc ra đồng cuốc đất, dầm mưa dãi nắng ròng rã suốt nửa năm trời như đại ca với nhị ca của con, lúc đó con mới thấu hiểu rằng được ngồi bên bàn đọc sách chính là cái phúc lớn nhất, là công việc nhàn hạ sung sướng nhất trần đời!"
Tiêu Cảnh xoa xoa hai bắp tay mỏi nhừ, cúi đầu lí nhí nhưng ánh mắt đầy vẻ phục tùng: "Cha dạy chí phải... Con biết lỗi rồi, sau này con nhất định sẽ chăm chỉ học hành, không dám kêu ca nửa lời nữa đâu ạ."
Nói đoạn, chàng thiếu niên ngước nhìn chiếc cối đá sâu hoắm vẫn còn đầy ắp những hạt thóc chưa tróc vỏ, trong đầu bỗng nảy sinh những suy nghĩ miên man. Chàng nhìn cha mình một lần nữa cúi xuống nhấc chày lên giã đều đặn từng nhịp; từng thớ cơ bắp cuồn cuộn trên lưng cha ướt đẫm mồ hôi, tấm lưng hơi còng xuống theo từng cú nện. Tiêu Cảnh khẽ lẩm bẩm một mình: "Nhưng mà cha ơi... Việc nhà nông tuy vất vả, nhưng chẳng lẽ không có cách nào làm cho nó nhẹ nhàng hơn sao? Cứ dùng sức người vung tay nện chày mãi thế này, người ta làm sao chịu thấu quanh năm suốt tháng..."
Kể từ lần trước cùng nhị ca Tiêu Mộc và nhị tẩu Diệp Lạc Hân mày mò chế tạo thành công chiếc máy tuốt lúa bằng gỗ, tư duy của Tiêu Cảnh đã hoàn toàn thay đổi. Trước kia, chàng ngây thơ nghĩ rằng đọc sách thánh hiền chỉ có một con đường duy nhất là thi cử đỗ đạt làm quan, đợi đến khi có chức tước quyền uy thì mới có thể ban phát ân huệ giúp đỡ dân lành an cư lạc nghiệp. Nhưng giờ đây, nhìn thành quả của chiếc máy tuốt lúa giúp cả làng Thanh Sơn thoát khỏi cảnh nện lúa thâu đêm suốt sáng dưới ánh trăng, Tiêu Cảnh chợt ngộ ra một chân lý mới: Giúp đỡ bách tính không nhất thiết phải đợi đến lúc làm quan; ngay bây giờ, chàng có thể vận dụng trí tuệ và sự quan sát để cải tiến nông cụ, giúp gia đình và bà con lối xóm bớt đi những giọt mồ hôi nhọc nhằn nơi đồng ruộng.
Tiêu Trường Hà mặc kệ con trai ngồi suy ngẫm, ông một mình vung chày giã nốt cối lúa. Tiếng thình thịch trầm đều tiếp tục vang lên. Sau khi lớp vỏ trấu vàng bên ngoài tróc hết thành từng mảng cám mịn, ông sàng sẩy kỹ càng, trút ra từng bát gạo trắng ngần, tròn mẩy thơm ngát. Phần cám gạo mịn màng được gom lại vào chậu để Dương Phượng trộn với rau bèo nuôi đàn gà đàn vịt mau lớn; còn những hạt gạo trắng tinh tươm này, vài ba ngày nấu một bữa cơm trắng tinh, chính là niềm an ủi lớn nhất của gia đình nghèo sau những ngày tháng lao động cật lực.
Trong lúc cha cặm cụi sàng sẩy thóc gạo, Tiêu Cảnh không chịu ngồi yên. Chàng nhặt một cành cây khô bên bờ rào, ngồi xổm ở góc sân đất nện, bắt đầu hí hoáy vẽ vẽ vạch vạch.
Dựa vào những hình ảnh đòn bẩy đơn sơ từng thấy trong các cuốn sách nông thư cũ kỹ và những cỗ xe kéo ngoài trấn, Tiêu Cảnh mường tượng ra một khung gỗ dài. Một đầu thân gỗ gắn chiếc chày nặng, ở giữa có trục xoay đỡ lấy thân đòn, còn đầu kia kéo dài ra làm tay cầm để người ta gạt lên đè xuống. Chàng tính toán dùng sức đòn bẩy để nâng chày lên, đỡ phải dùng tay nhấc trực tiếp.
Thế nhưng, càng vẽ, nét mặt chàng thiếu niên càng nhăn nhó, chiếc que củi vạch đi vạch lại trên mặt đất thành những đường nét chồng chéo rối rắm. Nếu làm tay đòn quá dài thì khi gạt xuống sẽ rất vướng víu, người đứng thao tác phải với tay lên cao quá tầm mắt; còn nếu thu ngắn tay đòn lại thì lực đòn bẩy không đủ, sức nặng của chiếc chày lim vẫn sẽ đè nặng lên đôi bàn tay, giã chừng nửa cối thì tay cũng mỏi nhừ chẳng khác gì dùng chày tay.
Đang lúc Tiêu Cảnh vò đầu bứt tai, mặt mũi lấm lem bụi đất, Từ Chính Hương bưng thúng gạo đi ngang qua. Thấy con trai út không chịu vào nhà đọc sách, cũng chẳng phụ giúp cha dọn dẹp sân bãi mà cứ ngồi chồm hổm cào bới đất cát như gà bới, bà không kìm được cơn nóng ruột. Bà tiến lại gần, vung tay vỗ một cái bốp rõ kêu vào sau gáy Tiêu Cảnh.
Từ Chính Hương cao giọng răn dạy: "Cái thằng nhóc này! Chỉ giỏi chơi bời lêu lổng! Con không thấy cha con đang còng lưng dọn dẹp cối đá ngoài kia sao? Lớn tướng mười sáu tuổi đầu rồi mà chẳng có chút tinh mắt nào cả, chỉ biết ngồi nghịch đất bẩn thỉu rách việc!"
Tiêu Cảnh bị mẹ vỗ một cái đau điếng, mặt đỏ bừng lên vì xấu hổ, nhưng trong lòng lại thấy tủi thân vô cùng. Chàng xoa xoa sau gáy, mếu máo phân trần: "Nương ơi! Oan cho con quá; con nào có chơi bời nghịch đất đâu! Con đang dốc hết tâm trí nghiên cứu cỗ máy giã gạo tự động để sau này nương và các tẩu không phải cực nhọc nữa đấy chứ; nương vỗ một cái đau điếng thế này, bao nhiêu ý tưởng hay ho trong đầu con bay biến sạch trơn rồi!"
Vừa lúc đó, ngoài cổng tre vang lên tiếng bước chân rón rén rào rào. Diệp Lạc Hân trên lưng cõng một gùi cỏ voi xanh mướt dành cho đàn thỏ, tay cầm chiếc liềm nhỏ vừa đi cắt cỏ từ triền đồi phía sau núi trở về. Chiếc khăn vải chàm quấn gọn gàng mái tóc đen nhánh, trên trán nàng lấm tấm vài giọt mồ hôi trong veo như sương sớm, nụ cười trên môi tươi tắn rạng ngời như hoa rừng buổi sớm.
Thấy nhị tẩu bước vào sân, Tiêu Cảnh như vớ được chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước lũ. Chàng vội vàng đứng bật dậy, chạy tót đến bên cạnh Diệp Lạc Hân, thò đầu ra chu mỏ mách nước: "Nhị tẩu! Tẩu mau vỗ đầu đệ một cái đi; đầu óc đệ vừa bị nương vỗ cho ngu ngơ mất rồi, chỉ có bàn tay may mắn của tẩu mới cứu vãn lại được thôi!"
Diệp Lạc Hân nhìn bộ dạng dở khóc dở cười của tiểu thúc, không nhịn được bật cười khúc khích. Nàng đưa bàn tay áo khẽ lau mồ hôi cho chàng, rồi vỗ nhẹ lên vai Tiêu Cảnh an ủi: "Làm gì có chuyện đó; tiểu Cảnh nhà chúng ta thông minh đĩnh ngộ, sáng dạ nhất làng Thanh Sơn này, làm sao mà ngu ngơ được chứ!"
Được nhị tẩu bênh vực, Tiêu Cảnh cười hì hì đắc chí. Chàng nhanh nhảu đỡ lấy chiếc gùi cỏ nặng trịch trên lưng Diệp Lạc Hân đặt xuống hiên nhà, rồi nắm lấy góc tay áo của nàng kéo vội ra góc sân: "Nhị tẩu, tẩu mau lại đây xem giúp đệ cái này! Đệ vừa nghĩ ra một mô hình cối giã gạo dùng đòn bẩy bằng gỗ, nhưng vẽ mãi trên đất vẫn thấy có chỗ nào đó sai sai, dùng tay phát lực chẳng thuận tiện chút nào cả!"
Diệp Lạc Hân bước theo tiểu thúc đến bên mép sân, khẽ nghiêng đầu chăm chú nhìn những hình vẽ nguệch ngoạc bằng que củi trên nền đất cát. Nhìn qua một lượt, với kiến thức vật lý cơ học và hình ảnh chiếc cối giã gạo đạp chân quen thuộc ở các vùng nông thôn thời hiện đại từng thấy trong ký ức, Diệp Lạc Hân lập tức nhìn thấu điểm mấu chốt của vấn đề.
Nàng khẽ lắc đầu, chỉ ngón tay thon dài vào phần tay đòn dài lê thê trên mặt đất, cất giọng phân tích rõ ràng từng nhịp: "Tiểu Cảnh, đệ nhìn xem chỗ này; cánh tay đòn này đệ vẽ quá dài, khi dùng tay ấn xuống sẽ mất rất nhiều sức, mà cơ bắp cánh tay con người vốn không chịu được lực đè nén liên tục. Hơn nữa, cánh tay phải nâng lên hạ xuống ở tầm cao như thế thì giã chưa được mười nhát người ta đã kiệt sức rồi. Đệ thử nghĩ xem, tại sao việc giã gạo cứ nhất thiết phải bắt đôi bàn tay làm việc?"
Tiêu Cảnh nghe nhị tẩu hỏi một câu lạ lùng liền ngơ ngác chớp mắt: "Không dùng tay thì dùng cái gì hả tẩu? Chẳng lẽ dùng đầu húc vào sao?"
Diệp Lạc Hân bật cười trước câu đùa ngây ngô của tiểu thúc, nàng dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên trán chàng một cái: "Đồ ngốc! Dùng đôi chân chứ dùng cái gì! Bắp chân và bàn chân của chúng ta chống đỡ toàn bộ trọng lượng cơ thể mỗi ngày, sức mạnh của đôi chân lớn hơn cánh tay gấp năm gấp mười lần. Thay vì làm một cái tay cầm để kéo bằng tay, đệ hãy biến phần đuôi của thanh đòn bẩy thành một bàn đạp chân phẳng phiu. Người giã gạo chỉ cần đứng một chân làm trụ vững chắc, chân kia bước lên bàn đạp, dùng chính trọng lượng cơ thể mình dẫm mạnh xuống một cái. Khi dẫm xuống, đầu chày phía trước sẽ bổng lên thật cao; rồi khi người ta nhấc chân buông lỏng ra, chiếc chày gỗ nặng trịch sẽ tự do giáng thẳng xuống lòng cối đá theo sức nặng tự nhiên của nó! Như vậy vừa tận dụng được sức nặng cơ thể, vừa giải phóng hoàn toàn đôi tay; hai tay lúc ấy chỉ cần thảnh thơi vịn vào chiếc giàn gỗ dựng hai bên để giữ thăng bằng, giã cả buổi cũng không thấy mệt nhọc!"
Từng lời nói của Diệp Lạc Hân như một luồng gió mới thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo trong tâm trí Tiêu Cảnh. Chàng thiếu niên đứng sững sờ mất vài giây, hai mắt trợn tròn, rồi bỗng nhiên tỉnh ngộ hoàn toàn.
Bốp!
Tiêu Cảnh đưa tay vỗ mạnh một cái thật kêu vào trán mình, miệng thốt lên đầy phấn khích: "Trời đất ơi! Đúng rồi! Sao đệ lại u mê đến mức không nghĩ ra chuyện này cơ chứ! Dùng chân đạp xuống! Dùng chính sức nặng của cả người mình đè xuống, vừa rảnh tay vịn thăng bằng, vừa không tốn một chút sức lực cánh tay nào cả; sức nặng của chiếc chày tự nó giáng xuống đá là đủ làm nát vỏ trấu rồi!"
Không kìm nén được niềm vui sướng tột độ, Tiêu Cảnh lập tức quỳ sụp xuống đất. Chàng dùng tay áo xoa sạch những nét vẽ sai lầm ban nãy, rồi cầm que củi thoăn thoắt vạch nên một mô hình hoàn toàn mới mẻ.
Dưới bàn tay khéo léo của chàng thiếu niên hiếu học, cấu trúc của chiếc cối giã gạo đạp chân hiện lên rõ ràng trên nền đất mịn: Phía trước là một thân chày gỗ tròn trịa, gắn quả chày bằng gỗ lim chắc nịch chúc thẳng xuống lòng cối đá; thân chày được xỏ xuyên qua một thanh xà ngang đóng chặt vào hai cột gỗ làm trục quay đòn bẩy; phía sau đuôi chày được bào phẳng tạo thành một bàn đạp chân rộng rãi; hai bên sườn bàn đạp được bố trí hai cột gỗ đứng song song làm tay vịn giúp người đạp giữ vững thân mình khi vận hành.
Diệp Lạc Hân đứng bên cạnh chăm chú quan sát, trong lòng không khỏi thán phục sự sáng dạ và khả năng tiếp thu nhanh nhạy của Tiêu Cảnh. Mô hình này so với những chiếc cối đạp chân ở các làng quê cổ truyền thời xưa hầu như chẳng có điểm nào khác biệt, kết cấu vô cùng vững chãi và hợp lý. Nàng mỉm cười gật đầu tán thưởng: "Xuất sắc lắm! Đúng chuẩn là như thế này rồi; chỉ cần đóng đúng kích thước và gia cố các then chốt cho chắc chắn, cỗ máy này nhất định sẽ giúp việc giã gạo trở nên nhẹ tựa lông hồng."
Được nhị tẩu khen ngợi, Tiêu Cảnh vui sướng đến mức nhảy cẫng lên giữa sân. Chàng vội vàng co cẳng chạy tót vào trong nhà, lục tìm giấy tuyên và bút mực tàu, vừa chạy vừa hét lớn: "Đệ phải chép ngay lại bản vẽ này ra giấy! Ngày mai đệ sẽ nhờ nhị ca mang bản vẽ sang cho Đàm thợ mộc đóng liền một cái; từ nay về sau việc giã gạo trong nhà này cứ để một mình Tiêu Cảnh con bao trọn gói, bảo đảm không cần ai phải đụng tay vào nữa!"
Tiếng reo hò vang dội của Tiêu Cảnh bay thẳng vào gian bếp nhỏ phía sau nhà. Từ Chính Hương đang ngồi bên bậu cửa bếp nhặt rau muống, nghe thấy lời tuyên bố hùng hồn của đứa con trai út liền lắc đầu quay sang nói với Dương Phượng đang xào nấu bên bếp lửa: "Con nghe thấy nó gào to chưa? Cái thằng nhóc ấy chắc là thèm ăn cơm gạo mới đến mức đầu óc lú lẫn cả rồi, lại bắt đầu nói hươu nói vượn ngoài sân kia kìa!"
Dương Phượng đang cầm chiếc xẻng gỗ đảo măng tây xèo xèo trong chảo gang, nghe mẹ chồng nói vậy liền cười đáp: "Nương đừng vội coi thường; tam đệ vốn dĩ thông minh đĩnh ngộ, lại được đệ muội Lạc Hân chỉ bảo thêm, biết đâu chừng nó lại mày mò chế tạo ra được một món bảo bối lợi hại như chiếc máy tuốt lúa hôm nọ thì sao ạ!"
Trong gian bếp, khói lam chiều bảng lảng quyện lấy mùi củi thông khô nổ lách tách tạo nên một không khí ấm cúng lạ thường. Diệp Lạc Hân sau khi cất gùi cỏ và rửa sạch bùn đất trên tay bằng gáo nước mưa mát lạnh, cũng vén rèm bước vào gian bếp nhỏ.
Thấy em dâu vào, Dương Phượng liền vội vã ngoái đầu lại, mắt sáng rực chỉ tay về phía chiếc nồi đất đang đậy nắp kín mít đặt trên bếp than hồng bên cạnh: "Đệ muội ơi, muội mau xem lại nồi thịt kho của muội xem thế nào rồi; mùi thơm này bay ngào ngạt khắp xóm từ nãy đến giờ, làm ta đứng đảo rau mà bụng dạ cứ sôi réo ùng ục, nước miếng chảy ròng ròng không kìm lại được đây này!"
Nồi thịt kho này chính là thịt tươi do Tiêu Mộc sáng sớm tinh mơ gánh dược liệu lên chợ huyện bán rồi mua về tẩm bổ cho cả nhà. Nhắc đến chuyện mua thịt, Từ Chính Hương vừa nghe Dương Phượng khen mùi thơm liền khẽ thở dài một tiếng, vẻ mặt vừa xót tiền vừa bực bội nhưng ánh mắt lại đong đầy sự cảm động của một người mẹ.
Bà đặt rổ rau xuống chân, bắt đầu cằn nhằn chuyện cũ: "Cái thằng Tiêu Mộc ấy, tính tình lầm lì nhưng tiêu hoang thì chẳng ai bằng! Mấy hôm trước đi chợ huyện ngang qua tửu lầu Từ Ký, nó dám cắn răng bỏ ra hơn bốn trăm văn tiền để mua một chiếc chân giò kho tương mang về; các con có biết một cân thịt nạc tươi ngoài chợ cũng chỉ mười lăm mười sáu văn không? Thế mà cái chân giò của Từ Ký chém đẹp một trăm năm mươi văn một cân, một cái chân giò tiêu tốn đứt bốn trăm mười văn tiền của nó!"
Nói đến số tiền bốn trăm mười văn, Từ Chính Hương vẫn còn thấy xót ruột như có ai xát muối: "Nó kiếm được đồng tiền trên núi rừng hiểm trở đâu có dễ dàng gì; trèo đèo lội suối, đối mặt với rắn độc dã thú mới hái được mấy nhánh thảo dược quý đem bán. Thế mà chỉ vì nghe mụ Lý Thúy Hoa bên cạnh sang khoe khoang được con trai mua cho bát thịt kho ở trấn, nó liền đùng đùng đi mua cái chân giò đắt đỏ ấy về để ta không bị lép vế! Ta đã mắng cho nó một trận nên thân rồi; ta dù cả đời này không được ăn một miếng chân giò Từ Ký, cũng chẳng thấy mụ Lý Thúy Hoa kia đè đầu cưỡi cổ được ta! Tiêu xài phung phí như thế, nghĩ đến mà tức anh ách!"
Diệp Lạc Hân bước lại gần bếp lò, nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc quạt nan quạt nhẹ vào miệng lò than để giữ lửa liu riu, rồi mỉm cười dịu dàng giải vây cho phu quân: "Nương bớt giận ạ; chàng ấy làm như vậy cũng là vì một lòng hiếu thảo, không muốn nương phải chịu ấm ức hay thua kém người ta thôi mà. Phu quân tính tình ít nói, vụng về không biết nói lời ngon ngọt, nhưng trong lòng chàng lúc nào cũng đau đáu nghĩ cho cha mẹ và gia đình."
Từ Chính Hương nghe nàng dâu thứ nói những lời chí tình chí nghĩa, cơn giận trong lòng lập tức tan biến như bọt xà phòng. Bà khẽ cười mắng: "Chỉ có con là lúc nào cũng biết cách nói đỡ cho nó thôi!"
Diệp Lạc Hân khẽ dùng miếng giẻ lót tay nhấc hé nắp vung nồi đất lên kiểm tra. Làn khói trắng nghi ngút lập tức ùa ra, mang theo hương vị đậm đà, thơm nức mũi của thịt ba chỉ hòa quyện cùng nước tương đường thắng. Nàng nhớ lại hương vị của chiếc chân giò bốn trăm mười văn mà Tiêu Mộc mua ở tửu lầu Từ Ký hôm trước, khẽ chép miệng, thẳng thắn nhận xét: "Thực ra nương à, hôm trước ăn thử cái chân giò kho tương của tửu lầu Từ Ký, con thấy tay nghề của đầu bếp nơi đó cũng chẳng có gì ghê gớm, nấu vẫn chưa tới tầm đâu ạ."
Câu nói của Diệp Lạc Hân như một hòn đá ném vào mặt hồ phẳng lặng. Tiêu Cảnh vừa cất bản vẽ vào ngực áo, bước chân vào bếp nghe thấy câu chê bai ấy liền đứng khựng lại, hai mắt tròn xoe kinh ngạc.
Cậu thiếu niên không kìm được tò mò liền cất giọng hỏi dồn: "Trời ơi nhị tẩu! Đến chân giò kho tương của Từ Ký - tửu lầu số một ngoài huyện thành mà tẩu còn chê chưa tới tầm sao? Hôm ấy đệ ăn mà thấy ngon đến mức muốn nuốt luôn cả lưỡi, gặm sạch không chừa một mẩu xương nào cơ mà! Chẳng lẽ tẩu từng được ăn loại chân giò nào ngon hơn thế nữa sao?"
Dương Phượng cũng dừng hẳn tay xẻng, quay phắt người lại trố mắt nhìn Diệp Lạc Hân, trong lòng tràn ngập sự ngạc nhiên. Cả đời những người nông dân chân lấm tay bùn ở làng Thanh Sơn này, được nếm một miếng thịt ở tửu lầu huyện thành đã là chuyện xa xỉ tột cùng, vậy mà nàng dâu thứ lại thản nhiên buông lời chê bai không tiếc lời.
Diệp Lạc Hân khẽ nghiêng đầu, ánh mắt lấp lánh sự tự tin và hiểu biết sâu sắc của một người từng trải nghiệm nền ẩm thực đỉnh cao ở thế giới hiện đại. Nàng từ tốn cất giọng giải thích, từng câu từng chữ rõ ràng, nhịp nhàng như rót vào tai người nghe: "Đệ không hiểu đấy thôi; chân giò của tửu lầu Từ Ký tuy ninh nhừ nhưng lớp bì bên ngoài lại bị nhũn nát, thớ thịt bên trong thì khô xác vì bị ninh quá lửa rút hết nước ngọt. Nước tương kho của họ lại quá mặn, chỉ ngập ngụa mùi xì dầu nồng gắt mà thiếu hẳn các tầng hương thảo mộc để áp chế mùi gây của mỡ heo."
Nhìn ánh mắt ngơ ngác của cả nhà, Diệp Lạc Hân khẽ nuốt nước bọt, giọng nàng trầm bổng miêu tả tiêu chuẩn thực thụ của món ăn thượng hạng: "Một chiếc chân giò kho tương đạt đến chuẩn mực hoàn hảo, trước hết lớp bì bên ngoài phải có màu nâu đỏ óng ả như ngọc hổ phách; da heo căng bóng mọng nước, dùng đũa khẽ chạm vào là thấy núng nính rung rinh đàn hồi như thạch. Khi cắn ngập chân răng, lớp bì phải dẻo quánh, dính nhẹ nơi đầu môi, béo ngậy mượt mà nhưng tuyệt đối không gây ngấy; từng thớ thịt nạc bên trong mềm tơi như nhung, ngậm vào miệng là tự tan biến ra thành dòng nước cốt ngọt lịm; hương quế, hoa hồi và các loại thảo quả ngấm sâu vào tận tủy xương; ăn xong một miếng mà vị ngọt thanh đọng lại nơi cuống họng mãi không tan... Như thế mới xứng đáng là món chân giò kho tương tuyệt phẩm!"
Lời miêu tả sống động như có hình có khối của Diệp Lạc Hân khiến gian bếp nhỏ bỗng chốc lặng phắc như tờ. Tiếng củi than nổ lách tách lách cách trên bếp lò càng làm nổi bật âm thanh nuốt nước bọt cái ực đầy thèm thuồng của Tiêu Cảnh và Dương Phượng. Cả hai người trố mắt nhìn nàng dâu thứ, trong đầu như hiện lên chiếc chân giò nâu đỏ núng nính óng ánh mà nàng vừa vẽ ra bằng lời nói.
Từ Chính Hương đứng sững sờ bên rổ rau, miệng hơi hé mở, kinh ngạc nhìn đứa con dâu thứ mà bà ngỡ như đã thấu hiểu hết mọi điều. Một người con gái xuất thân nông thôn nghèo khó, làm sao lại có thể am hiểu tường tận những quy chuẩn ẩm thực tinh tế và miêu tả say đắm lòng người đến mức này? Liệu Diệp Lạc Hân có thể tự tay làm ra món chân giò kho tương đạt đến cảnh giới tuyệt mỹ ấy để thuyết phục cả gia đình hay không; và tài nghệ nấu nướng phi thường ẩn giấu bấy lâu nay của nàng, liệu có trở thành chiếc chìa khóa vàng mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho kinh tế nhà họ Tiêu?
Nắng sớm mùa thu vừa mới ló dạng qua rặng tre xanh đầu làng, rải những vạt nắng vàng hanh hao xuống con đường đất đỏ gồ ghề của làng Thanh Sơn. Sau ba ngày tang tóc ồn ào và những cuộc cãi vã nảy lửa của đám thân tộc họ Triệu, con ngõ nhỏ cuối cùng cũng tìm lại được vẻ yên bình vốn có. Giữa không gian tĩnh lặng phảng phất hương rơm rạ khô ròn rã, từng bước chân bước đi cồm cộp trên mặt đường lổn nhổn sỏi đá. Đó là Triệu nương tử. Nàng vác trên vai một bao thóc đầy ắp, tấm lưng gầy gò còng rạp xuống vì sức nặng của mùa màng no đủ. Khuôn mặt nàng hốc hác, vành mắt còn thâm quầng sau những đêm thức trắng bên linh cữu của phu quân, nhưng nét mặt bất cần, đanh đá và chua ngoa thường ngày dường như đã hoàn toàn tan biến.
Bước vào cánh cổng tre nhà họ Tiêu, Triệu nương tử cẩn thận đặt bao thóc xuống thềm gạch; miệng bao thóc va vào nền đất đánh huỵch một tiếng khô khốc. Từ Chính Hương đang cầm chiếc chổi rơm quét lá khô ngoài sân, nghe thấy tiếng động liền dừng tay chổi, tiếng soạt soạt im bặt. Bà ngẩng đầu lên, ánh mắt sắc sảo nhìn người đàn bà góa bụa trước mặt bằng vẻ dò xét thường ngày của một chủ gia đình khó tính.
Triệu nương tử đứng thẳng người, hai bàn tay thô ráp khẽ lau vội vào vạt áo chàm cũ kỹ, rồi bất ngờ khom lưng, chắp tay cúi gập người hành một đại lễ trước mặt Từ Chính Hương. Giọng nàng nghẹn ngào, run rẩy từng chặp: "Tiêu thẩm tử... Trước kia đều là thiếp không phải, tính tình nông nổi nhiều lần nói lời cay nghiệt đắc tội với thẩm và người nhà họ Tiêu. Mấy hôm trước, lúc tang gia bối rối, đám người tham lam nhà họ Triệu kéo đến chèn ép, toan cướp đoạt mảnh ruộng mưu sinh của ba mẹ con thiếp; nếu không có thẩm tử trượng nghĩa đứng ra phân minh lẽ phải, lại mượn uy của lý chính trấn áp đám lang sói ấy, thì mẹ con thiếp giờ này e rằng đã không còn chốn dung thân. Ơn sâu này, thiếp ghi tạc trong lòng suốt đời không dám quên."
Từ Chính Hương nhìn bao thóc vàng óng dưới thềm, lại nhìn dáng vẻ tiều tụy nhưng chân thành của Triệu nương tử, nét mặt nghiêm nghị nơi bà thoáng chốc chùng xuống. Bà buông lỏng cán chổi tre, thở dài một hơi nhẹ bẫng: "Người làng người xóm tối lửa tắt đèn có nhau, thấy cảnh ức hiếp mẹ góa con côi chướng tai gai mắt thì mở miệng vài câu đạo lý, có đáng là bao đâu mà ngươi phải làm bộ làm tịch cúi đầu tạ ơn lớn như thế. Bao thóc này ngươi mang sang, là số thóc mượn nhà ta hôm trước đúng không?"
Triệu nương tử vội vàng gật đầu lia lịa, ánh mắt ánh lên vẻ biết ơn sâu sắc: "Thưa thẩm nương, chính là số thóc nhà thiếp mượn cối tuốt lúa hôm nọ; nhờ chiếc máy kỳ diệu của Tiêu gia, mẹ con thiếp chỉ trong một buổi chiều đã tuốt sạch hai mẫu lúa, phơi phóng khô ráo giòn rụm rồi mới dám mang sang hoàn trả đầy đủ. Thiếp phận đàn bà góa bụa nghèo hèn, chẳng có gì quý giá để đền đáp ơn sâu của thẩm; chỉ mong thẩm tử không chê bai, sau này trong nhà có việc vặt vãnh gì cần người giặt giũ, bửa củi hay làm cỏ, thẩm cứ việc ới một tiếng, thiếp nhất định dốc sức làm giúp để báo đáp phần nào."
Từ Chính Hương nghe vậy liền phất tay áo một cái dứt khoát, giọng điệu tuy cộc cằn nhưng bên trong lại chan chứa sự quan tâm của một bậc trưởng bối: "Thôi đi! Nhà họ Tiêu ta trên có một lão gia siêng năng, dưới có ba đứa con trai sức dài vai rộng như cột đình, việc nặng việc nhẹ trong nhà ngoài ngõ thiếu gì tay chân làm, hà cớ gì phải cần đến đôi bàn tay đàn bà gầy guộc của ngươi? Ngươi cứ giữ lấy sức lực mà cày cấy hai mẫu ruộng, chăm bẵm phụng dưỡng bà mẹ chồng mù lòa, rồi dạy dỗ hai đứa con gái cho nên người. Đừng để người đời nhìn vào mà cười chê rằng đàn bà góa không có bóng đàn ông thì cửa nhà xơ xác; chỉ cần mẹ con ngươi sống yên ổn, giữ được mảnh đất của tổ tiên Đại Sơn để lại, thế là ta mừng rồi!"
Những lời nói thẳng thắn như tạt nước lạnh nhưng lại ấm áp đến tận đáy lòng khiến khóe mắt Triệu nương tử nóng ran. Nàng khẽ đưa mu bàn tay áo gạt đi giọt nước mắt vừa chực trào ra, cúi đầu lần nữa rồi cất giọng nghẹn ngào: "Thẩm nương dạy chí phải... Thiếp xin ghi nhớ từng lời; từ nay về sau thiếp sẽ an phận nuôi con, không bao giờ để người khác chê cười nữa."
Nói xong, Triệu nương tử bước lùi ba bước rồi mới xoay người đi ra cổng tre. Bóng lưng gầy guộc của nàng khuất dần sau rặng tre đầu ngõ, để lại sau lưng một bầu không khí nhẹ nhõm, xóa sạch hoàn toàn những hiềm khích đố kỵ từng đeo bám hai gia đình suốt bao năm tháng qua.
Từ Chính Hương đứng nhìn theo một hồi lâu, đoạn cúi xuống vỗ vỗ vào bao thóc mới ròn rã. Đúng lúc ấy, Dương Phượng từ gian chái bếp bước ra, trên tay bưng chiếc mẹt tre đựng đầy rau rừng vừa rửa sạch, nước còn nhỏ tong tỏng xuống sân. Nàng dâu cả liếc nhìn bao thóc mới vừa được mang tới, lại đưa mắt nhìn những nong thóc vàng ươm của nhà mình đang nằm phơi nắng rực rỡ khắp khoảnh sân rộng, trong lòng không khỏi rạo rực niềm vui được mùa. Dương Phượng bước nhanh đến cạnh mẹ chồng, nuốt nước bọt một cái rõ to, cất giọng đầy háo hức: "Nương ơi! Thóc nhà mình phơi ba nắng to đã khô giòn rụm rồi, nay Triệu nương tử lại vừa trả thêm một bao lúa mới thơm phức thế này; hay là chiều nay nhà ta giã cối gạo mới, thổi một nồi cơm trắng dẻo thơm ăn mừng đi nương!"
Từ Chính Hương nghe con dâu cả mở miệng là nhắc đến chuyện ăn, vừa bực mình vừa buồn cười. Bà vung cán chổi rơm gõ nhẹ một cái cốc lên bả vai Dương Phượng, mắng yêu: "Ăn, ăn, ăn! Suốt ngày cái đầu của con chỉ toàn nghĩ đến chuyện ăn với uống! Thóc mới vừa khô còn chưa kịp đong vào bồ, con đã vội tính chuyện hưởng thụ; sao cái thứ trong đầu con bé Lạc Hân nghĩ ra toàn là máy móc với kế sinh nhai, mà trong đầu con chỉ toàn cơm với thịt thế hả?"
Dương Phượng bị mẹ chồng gõ đầu nhưng chẳng hề giận, trái lại còn cười hì hì, nụ cười chất phác xua tan mọi mệt nhọc: "Nương xem người nói kìa! Đệ muội Lạc Hân người ta là phúc tinh giáng trần, đầu óc thông tuệ tài giỏi như thần tiên, con người trần mắt thịt làm sao mà dám so bì với muội ấy được ạ; con tự biết mình vụng về chất phác, chỉ cần ngoan ngoãn đi theo sau lưng đệ muội, phụ giúp cơm nước việc nhà rồi hưởng chút may mắn lộc trời, thế là con mãn nguyện lắm rồi nương ơi!"
Từ Chính Hương nghe con dâu cả nói chân thật mà không giấu giếm tị nạnh, trong lòng thầm ưng ý vô cùng. Gia đình nông dân nghèo khó, điều quý giá nhất chính là chị em dâu hòa thuận, không so đo tính toán tỵ hiềm; có một nàng dâu lớn biết điều như Dương Phượng thì nhà cửa mới êm ấm được. Bà khẽ mỉm cười, giọng chùng xuống đầy vẻ cưng chiều: "Được rồi, số thóc này phơi đã đủ nắng, hôm nay giã một cối gạo mới ăn mừng cũng phải lẽ; cả nhà vất vả gặt hái cả tháng trời rồi, cũng nên nấu một bữa cơm trắng tinh tươm cho ấm bụng."
Để gạo giữ được mùi thơm tự nhiên và không bị ẩm mốc hay mối mọt gặm nhấm, người làm nông xưa nay không bao giờ giã gạo ồ ạt một lần; cứ ăn đến đâu, họ lại mang cối ra giã đến đó. Vừa nghe Từ Chính Hương đồng ý, Tiêu Trường Hà từ gian nhà chính bước ra, trên vai vắt chiếc khăn vải lau mồ hôi. Ông nghe hai mẹ con bàn chuyện gạo mới, gương mặt sạm nắng nở một nụ cười rạng rỡ. Người đàn ông trụ cột của gia đình bước thẳng tới góc hiên sau, nơi chiếc cối đá xanh to nặng trịch nằm im lìm suốt hai tháng qua dưới một lớp bụi mỏng.
Tiêu Trường Hà cúi người, hai bàn tay gân guốc ôm chặt lấy miệng cối đá, gồng mình nhấc bổng chiếc cối lên. Từng bước chân của ông giẫm mạnh trên mặt đất đánh thịch, thịch từng nhịp nặng nề; cối đá được đặt ngay ngắn xuống khoảng sân gạch râm mát dưới bóng cây thị già. Ông lấy chiếc chổi nhỏ quét sạch bụi bặm trong lòng cối sâu hoắm, rồi dùng gáo dừa múc ba gáo lúa khô đổ vào trong. Tiếng những hạt lúa vàng rơi rào rào, lách cách va vào thành đá nghe thật vui tai. Tiêu Trường Hà xắn cao hai ống tay áo lên tận bắp tay, với lấy chiếc chày gỗ lim đen bóng dựng ở góc tường, chuẩn bị vung tay giã lượt đầu tiên.
Tiêu Cảnh đang ngồi bên bàn học trong gian buồng ngó ra cửa sổ, nghe tiếng lúa va vào cối đá và tiếng cười nói rộn rã ngoài sân, chữ nghĩa trong sách lập tức bay biến sạch trơn. Chàng thiếu niên mười sáu tuổi buông cuốn sách cổ xuống bàn, vội vã chạy tót ra sân, ánh mắt sáng rực nhìn chiếc cối đá đầy lúa mới.
Tiêu Cảnh xấn tới, đưa hai tay toan giật lấy chiếc chày gỗ lim trong tay cha mình, hăng hái xung phong: "Cha ơi! Để việc này cho con làm; cha vất vả ngoài đồng cả buổi sáng rồi, mau ngồi xuống gốc cây uống bát nước chè xanh đi ạ; con đọc sách cả buổi sáng mỏi nhừ cả lưng, để con vung chày giã cối này cho giãn gân giãn cốt, tối nay ăn cơm mới thấy ngon miệng!"
Tiêu Trường Hà nghiêng đầu liếc nhìn đứa con trai út thư sinh mảnh khảnh, khóe môi khẽ nhếch lên nụ cười trêu chọc: "Con mà giã được cối này sao? Cái chày gỗ lim này nặng hơn chục cân, giã lúa phải có thế, dùng lực toàn thân chứ không phải giã tỏi trong bếp đâu con trai; đừng có thấy người ta làm mà tưởng dễ ăn!"
Tiêu Cảnh bị cha xem thường liền ưỡn ngực, vỗ bồm bộp vào ngực mình phân bua: "Cha cứ xem thường con mãi! Con trai mười sáu tuổi rồi, sức vóc khỏe khoắn chẳng kém ai đâu; cha cứ đứng sang một bên xem con trổ tài đây này!"
Thấy con trai nhiệt tình, Tiêu Trường Hà buông tay nhường chiếc chày gỗ lim lại. Tiêu Cảnh hăm hở nắm chặt lấy thân chày, hai chân giang rộng bằng vai, hít một hơi thật sâu rồi vung chày lên cao quá đầu.
Thình thịch! Thình thịch! Cồm cộp!
Chiếc chày gỗ lim nện thẳng xuống lòng cối đá, tạo ra những âm thanh trầm đục vang dội khắp khoảng sân nhỏ. Từng hạt lúa bên trong bị sức ép đập mạnh, bắn tung tanh tách lên mép cối; lớp vỏ trấu vàng rộm bắt đầu nứt toác, làm bay lên từng làn bụi cám gạo mỏng manh, thơm ngai ngái mùi đồng nội. Ban đầu, Tiêu Cảnh vung chày thoăn thoắt, nhịp điệu dồn dập như gõ trống; chàng vừa giã vừa cười toe toét, đắc chí nhìn cha mình.
Thế nhưng, đời không như là mơ. Chỉ mới nện được chừng ba mươi nhát chày, nhịp vung của Tiêu Cảnh bắt đầu chậm hẳn lại. Sức nặng của chiếc chày lim dường như tăng lên gấp đôi sau mỗi lần nâng lên; hai bắp tay của chàng bắt đầu run rẩy bần bật, hơi thở dồn dập, phì phò như bễ lò rèn. Từng giọt mồ hôi to bằng hạt đậu túa ra ròng ròng từ trán, chảy cay xè vào khóe mắt rồi rơi lộp độp xuống nền đất. Đến nhát chày thứ năm mươi, đôi tay Tiêu Cảnh mỏi rừ, bắp thịt căng cứng như đeo đá tảng; chàng không thể nào nâng nổi chiếc chày lên quá thắt lưng nữa.
Buông tay một cái, chiếc chày gỗ lim rơi huỵch xuống đất cát. Tiêu Cảnh mềm nhũn người, ngồi bệt mông xuống đất thở hồng hộc, hai cánh tay buông thõng hai bên sườn, lắc lư không còn chút sức lực nào: "Trời đất quỷ thần ơi... Việc này... việc này sao mà mệt đứt cả hơi tai thế này; hai cánh tay con như muốn rụng rời ra rồi cha ơi!"
Tiêu Trường Hà nhìn bộ dạng thảm hại của con trai út liền bật cười sảng khoái, tiếng cười vang cả góc sân: "Ha ha ha! Đã bảo rồi mà không chịu nghe, ngựa non háu đá! Nghề nông việc nào mà chẳng đổ mồ hôi sôi nước mắt; một bát cơm trắng dẻo thơm con bưng trên tay là kết tinh của biết bao giọt mồ hôi rơi xuống đất đấy. Con suốt ngày ngồi trong bóng râm, mới đọc vài trang sách đã kêu đau đầu mỏi lưng, đó là vì con chưa từng nếm trải cảnh chân lấm tay bùn; đợi khi nào con phải vác cuốc ra đồng cuốc đất, dầm mưa dãi nắng ròng rã suốt nửa năm trời như đại ca với nhị ca của con, lúc đó con mới thấu hiểu rằng được ngồi bên bàn đọc sách chính là cái phúc lớn nhất, là công việc nhàn hạ sung sướng nhất trần đời!"
Tiêu Cảnh xoa xoa hai bắp tay mỏi nhừ, cúi đầu lí nhí nhưng ánh mắt đầy vẻ phục tùng: "Cha dạy chí phải... Con biết lỗi rồi, sau này con nhất định sẽ chăm chỉ học hành, không dám kêu ca nửa lời nữa đâu ạ."
Nói đoạn, chàng thiếu niên ngước nhìn chiếc cối đá sâu hoắm vẫn còn đầy ắp những hạt thóc chưa tróc vỏ, trong đầu bỗng nảy sinh những suy nghĩ miên man. Chàng nhìn cha mình một lần nữa cúi xuống nhấc chày lên giã đều đặn từng nhịp; từng thớ cơ bắp cuồn cuộn trên lưng cha ướt đẫm mồ hôi, tấm lưng hơi còng xuống theo từng cú nện. Tiêu Cảnh khẽ lẩm bẩm một mình: "Nhưng mà cha ơi... Việc nhà nông tuy vất vả, nhưng chẳng lẽ không có cách nào làm cho nó nhẹ nhàng hơn sao? Cứ dùng sức người vung tay nện chày mãi thế này, người ta làm sao chịu thấu quanh năm suốt tháng..."
Kể từ lần trước cùng nhị ca Tiêu Mộc và nhị tẩu Diệp Lạc Hân mày mò chế tạo thành công chiếc máy tuốt lúa bằng gỗ, tư duy của Tiêu Cảnh đã hoàn toàn thay đổi. Trước kia, chàng ngây thơ nghĩ rằng đọc sách thánh hiền chỉ có một con đường duy nhất là thi cử đỗ đạt làm quan, đợi đến khi có chức tước quyền uy thì mới có thể ban phát ân huệ giúp đỡ dân lành an cư lạc nghiệp. Nhưng giờ đây, nhìn thành quả của chiếc máy tuốt lúa giúp cả làng Thanh Sơn thoát khỏi cảnh nện lúa thâu đêm suốt sáng dưới ánh trăng, Tiêu Cảnh chợt ngộ ra một chân lý mới: Giúp đỡ bách tính không nhất thiết phải đợi đến lúc làm quan; ngay bây giờ, chàng có thể vận dụng trí tuệ và sự quan sát để cải tiến nông cụ, giúp gia đình và bà con lối xóm bớt đi những giọt mồ hôi nhọc nhằn nơi đồng ruộng.
Tiêu Trường Hà mặc kệ con trai ngồi suy ngẫm, ông một mình vung chày giã nốt cối lúa. Tiếng thình thịch trầm đều tiếp tục vang lên. Sau khi lớp vỏ trấu vàng bên ngoài tróc hết thành từng mảng cám mịn, ông sàng sẩy kỹ càng, trút ra từng bát gạo trắng ngần, tròn mẩy thơm ngát. Phần cám gạo mịn màng được gom lại vào chậu để Dương Phượng trộn với rau bèo nuôi đàn gà đàn vịt mau lớn; còn những hạt gạo trắng tinh tươm này, vài ba ngày nấu một bữa cơm trắng tinh, chính là niềm an ủi lớn nhất của gia đình nghèo sau những ngày tháng lao động cật lực.
Trong lúc cha cặm cụi sàng sẩy thóc gạo, Tiêu Cảnh không chịu ngồi yên. Chàng nhặt một cành cây khô bên bờ rào, ngồi xổm ở góc sân đất nện, bắt đầu hí hoáy vẽ vẽ vạch vạch.
Dựa vào những hình ảnh đòn bẩy đơn sơ từng thấy trong các cuốn sách nông thư cũ kỹ và những cỗ xe kéo ngoài trấn, Tiêu Cảnh mường tượng ra một khung gỗ dài. Một đầu thân gỗ gắn chiếc chày nặng, ở giữa có trục xoay đỡ lấy thân đòn, còn đầu kia kéo dài ra làm tay cầm để người ta gạt lên đè xuống. Chàng tính toán dùng sức đòn bẩy để nâng chày lên, đỡ phải dùng tay nhấc trực tiếp.
Thế nhưng, càng vẽ, nét mặt chàng thiếu niên càng nhăn nhó, chiếc que củi vạch đi vạch lại trên mặt đất thành những đường nét chồng chéo rối rắm. Nếu làm tay đòn quá dài thì khi gạt xuống sẽ rất vướng víu, người đứng thao tác phải với tay lên cao quá tầm mắt; còn nếu thu ngắn tay đòn lại thì lực đòn bẩy không đủ, sức nặng của chiếc chày lim vẫn sẽ đè nặng lên đôi bàn tay, giã chừng nửa cối thì tay cũng mỏi nhừ chẳng khác gì dùng chày tay.
Đang lúc Tiêu Cảnh vò đầu bứt tai, mặt mũi lấm lem bụi đất, Từ Chính Hương bưng thúng gạo đi ngang qua. Thấy con trai út không chịu vào nhà đọc sách, cũng chẳng phụ giúp cha dọn dẹp sân bãi mà cứ ngồi chồm hổm cào bới đất cát như gà bới, bà không kìm được cơn nóng ruột. Bà tiến lại gần, vung tay vỗ một cái bốp rõ kêu vào sau gáy Tiêu Cảnh.
Từ Chính Hương cao giọng răn dạy: "Cái thằng nhóc này! Chỉ giỏi chơi bời lêu lổng! Con không thấy cha con đang còng lưng dọn dẹp cối đá ngoài kia sao? Lớn tướng mười sáu tuổi đầu rồi mà chẳng có chút tinh mắt nào cả, chỉ biết ngồi nghịch đất bẩn thỉu rách việc!"
Tiêu Cảnh bị mẹ vỗ một cái đau điếng, mặt đỏ bừng lên vì xấu hổ, nhưng trong lòng lại thấy tủi thân vô cùng. Chàng xoa xoa sau gáy, mếu máo phân trần: "Nương ơi! Oan cho con quá; con nào có chơi bời nghịch đất đâu! Con đang dốc hết tâm trí nghiên cứu cỗ máy giã gạo tự động để sau này nương và các tẩu không phải cực nhọc nữa đấy chứ; nương vỗ một cái đau điếng thế này, bao nhiêu ý tưởng hay ho trong đầu con bay biến sạch trơn rồi!"
Vừa lúc đó, ngoài cổng tre vang lên tiếng bước chân rón rén rào rào. Diệp Lạc Hân trên lưng cõng một gùi cỏ voi xanh mướt dành cho đàn thỏ, tay cầm chiếc liềm nhỏ vừa đi cắt cỏ từ triền đồi phía sau núi trở về. Chiếc khăn vải chàm quấn gọn gàng mái tóc đen nhánh, trên trán nàng lấm tấm vài giọt mồ hôi trong veo như sương sớm, nụ cười trên môi tươi tắn rạng ngời như hoa rừng buổi sớm.
Thấy nhị tẩu bước vào sân, Tiêu Cảnh như vớ được chiếc phao cứu sinh giữa dòng nước lũ. Chàng vội vàng đứng bật dậy, chạy tót đến bên cạnh Diệp Lạc Hân, thò đầu ra chu mỏ mách nước: "Nhị tẩu! Tẩu mau vỗ đầu đệ một cái đi; đầu óc đệ vừa bị nương vỗ cho ngu ngơ mất rồi, chỉ có bàn tay may mắn của tẩu mới cứu vãn lại được thôi!"
Diệp Lạc Hân nhìn bộ dạng dở khóc dở cười của tiểu thúc, không nhịn được bật cười khúc khích. Nàng đưa bàn tay áo khẽ lau mồ hôi cho chàng, rồi vỗ nhẹ lên vai Tiêu Cảnh an ủi: "Làm gì có chuyện đó; tiểu Cảnh nhà chúng ta thông minh đĩnh ngộ, sáng dạ nhất làng Thanh Sơn này, làm sao mà ngu ngơ được chứ!"
Được nhị tẩu bênh vực, Tiêu Cảnh cười hì hì đắc chí. Chàng nhanh nhảu đỡ lấy chiếc gùi cỏ nặng trịch trên lưng Diệp Lạc Hân đặt xuống hiên nhà, rồi nắm lấy góc tay áo của nàng kéo vội ra góc sân: "Nhị tẩu, tẩu mau lại đây xem giúp đệ cái này! Đệ vừa nghĩ ra một mô hình cối giã gạo dùng đòn bẩy bằng gỗ, nhưng vẽ mãi trên đất vẫn thấy có chỗ nào đó sai sai, dùng tay phát lực chẳng thuận tiện chút nào cả!"
Diệp Lạc Hân bước theo tiểu thúc đến bên mép sân, khẽ nghiêng đầu chăm chú nhìn những hình vẽ nguệch ngoạc bằng que củi trên nền đất cát. Nhìn qua một lượt, với kiến thức vật lý cơ học và hình ảnh chiếc cối giã gạo đạp chân quen thuộc ở các vùng nông thôn thời hiện đại từng thấy trong ký ức, Diệp Lạc Hân lập tức nhìn thấu điểm mấu chốt của vấn đề.
Nàng khẽ lắc đầu, chỉ ngón tay thon dài vào phần tay đòn dài lê thê trên mặt đất, cất giọng phân tích rõ ràng từng nhịp: "Tiểu Cảnh, đệ nhìn xem chỗ này; cánh tay đòn này đệ vẽ quá dài, khi dùng tay ấn xuống sẽ mất rất nhiều sức, mà cơ bắp cánh tay con người vốn không chịu được lực đè nén liên tục. Hơn nữa, cánh tay phải nâng lên hạ xuống ở tầm cao như thế thì giã chưa được mười nhát người ta đã kiệt sức rồi. Đệ thử nghĩ xem, tại sao việc giã gạo cứ nhất thiết phải bắt đôi bàn tay làm việc?"
Tiêu Cảnh nghe nhị tẩu hỏi một câu lạ lùng liền ngơ ngác chớp mắt: "Không dùng tay thì dùng cái gì hả tẩu? Chẳng lẽ dùng đầu húc vào sao?"
Diệp Lạc Hân bật cười trước câu đùa ngây ngô của tiểu thúc, nàng dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên trán chàng một cái: "Đồ ngốc! Dùng đôi chân chứ dùng cái gì! Bắp chân và bàn chân của chúng ta chống đỡ toàn bộ trọng lượng cơ thể mỗi ngày, sức mạnh của đôi chân lớn hơn cánh tay gấp năm gấp mười lần. Thay vì làm một cái tay cầm để kéo bằng tay, đệ hãy biến phần đuôi của thanh đòn bẩy thành một bàn đạp chân phẳng phiu. Người giã gạo chỉ cần đứng một chân làm trụ vững chắc, chân kia bước lên bàn đạp, dùng chính trọng lượng cơ thể mình dẫm mạnh xuống một cái. Khi dẫm xuống, đầu chày phía trước sẽ bổng lên thật cao; rồi khi người ta nhấc chân buông lỏng ra, chiếc chày gỗ nặng trịch sẽ tự do giáng thẳng xuống lòng cối đá theo sức nặng tự nhiên của nó! Như vậy vừa tận dụng được sức nặng cơ thể, vừa giải phóng hoàn toàn đôi tay; hai tay lúc ấy chỉ cần thảnh thơi vịn vào chiếc giàn gỗ dựng hai bên để giữ thăng bằng, giã cả buổi cũng không thấy mệt nhọc!"
Từng lời nói của Diệp Lạc Hân như một luồng gió mới thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo trong tâm trí Tiêu Cảnh. Chàng thiếu niên đứng sững sờ mất vài giây, hai mắt trợn tròn, rồi bỗng nhiên tỉnh ngộ hoàn toàn.
Bốp!
Tiêu Cảnh đưa tay vỗ mạnh một cái thật kêu vào trán mình, miệng thốt lên đầy phấn khích: "Trời đất ơi! Đúng rồi! Sao đệ lại u mê đến mức không nghĩ ra chuyện này cơ chứ! Dùng chân đạp xuống! Dùng chính sức nặng của cả người mình đè xuống, vừa rảnh tay vịn thăng bằng, vừa không tốn một chút sức lực cánh tay nào cả; sức nặng của chiếc chày tự nó giáng xuống đá là đủ làm nát vỏ trấu rồi!"
Không kìm nén được niềm vui sướng tột độ, Tiêu Cảnh lập tức quỳ sụp xuống đất. Chàng dùng tay áo xoa sạch những nét vẽ sai lầm ban nãy, rồi cầm que củi thoăn thoắt vạch nên một mô hình hoàn toàn mới mẻ.
Dưới bàn tay khéo léo của chàng thiếu niên hiếu học, cấu trúc của chiếc cối giã gạo đạp chân hiện lên rõ ràng trên nền đất mịn: Phía trước là một thân chày gỗ tròn trịa, gắn quả chày bằng gỗ lim chắc nịch chúc thẳng xuống lòng cối đá; thân chày được xỏ xuyên qua một thanh xà ngang đóng chặt vào hai cột gỗ làm trục quay đòn bẩy; phía sau đuôi chày được bào phẳng tạo thành một bàn đạp chân rộng rãi; hai bên sườn bàn đạp được bố trí hai cột gỗ đứng song song làm tay vịn giúp người đạp giữ vững thân mình khi vận hành.
Diệp Lạc Hân đứng bên cạnh chăm chú quan sát, trong lòng không khỏi thán phục sự sáng dạ và khả năng tiếp thu nhanh nhạy của Tiêu Cảnh. Mô hình này so với những chiếc cối đạp chân ở các làng quê cổ truyền thời xưa hầu như chẳng có điểm nào khác biệt, kết cấu vô cùng vững chãi và hợp lý. Nàng mỉm cười gật đầu tán thưởng: "Xuất sắc lắm! Đúng chuẩn là như thế này rồi; chỉ cần đóng đúng kích thước và gia cố các then chốt cho chắc chắn, cỗ máy này nhất định sẽ giúp việc giã gạo trở nên nhẹ tựa lông hồng."
Được nhị tẩu khen ngợi, Tiêu Cảnh vui sướng đến mức nhảy cẫng lên giữa sân. Chàng vội vàng co cẳng chạy tót vào trong nhà, lục tìm giấy tuyên và bút mực tàu, vừa chạy vừa hét lớn: "Đệ phải chép ngay lại bản vẽ này ra giấy! Ngày mai đệ sẽ nhờ nhị ca mang bản vẽ sang cho Đàm thợ mộc đóng liền một cái; từ nay về sau việc giã gạo trong nhà này cứ để một mình Tiêu Cảnh con bao trọn gói, bảo đảm không cần ai phải đụng tay vào nữa!"
Tiếng reo hò vang dội của Tiêu Cảnh bay thẳng vào gian bếp nhỏ phía sau nhà. Từ Chính Hương đang ngồi bên bậu cửa bếp nhặt rau muống, nghe thấy lời tuyên bố hùng hồn của đứa con trai út liền lắc đầu quay sang nói với Dương Phượng đang xào nấu bên bếp lửa: "Con nghe thấy nó gào to chưa? Cái thằng nhóc ấy chắc là thèm ăn cơm gạo mới đến mức đầu óc lú lẫn cả rồi, lại bắt đầu nói hươu nói vượn ngoài sân kia kìa!"
Dương Phượng đang cầm chiếc xẻng gỗ đảo măng tây xèo xèo trong chảo gang, nghe mẹ chồng nói vậy liền cười đáp: "Nương đừng vội coi thường; tam đệ vốn dĩ thông minh đĩnh ngộ, lại được đệ muội Lạc Hân chỉ bảo thêm, biết đâu chừng nó lại mày mò chế tạo ra được một món bảo bối lợi hại như chiếc máy tuốt lúa hôm nọ thì sao ạ!"
Trong gian bếp, khói lam chiều bảng lảng quyện lấy mùi củi thông khô nổ lách tách tạo nên một không khí ấm cúng lạ thường. Diệp Lạc Hân sau khi cất gùi cỏ và rửa sạch bùn đất trên tay bằng gáo nước mưa mát lạnh, cũng vén rèm bước vào gian bếp nhỏ.
Thấy em dâu vào, Dương Phượng liền vội vã ngoái đầu lại, mắt sáng rực chỉ tay về phía chiếc nồi đất đang đậy nắp kín mít đặt trên bếp than hồng bên cạnh: "Đệ muội ơi, muội mau xem lại nồi thịt kho của muội xem thế nào rồi; mùi thơm này bay ngào ngạt khắp xóm từ nãy đến giờ, làm ta đứng đảo rau mà bụng dạ cứ sôi réo ùng ục, nước miếng chảy ròng ròng không kìm lại được đây này!"
Nồi thịt kho này chính là thịt tươi do Tiêu Mộc sáng sớm tinh mơ gánh dược liệu lên chợ huyện bán rồi mua về tẩm bổ cho cả nhà. Nhắc đến chuyện mua thịt, Từ Chính Hương vừa nghe Dương Phượng khen mùi thơm liền khẽ thở dài một tiếng, vẻ mặt vừa xót tiền vừa bực bội nhưng ánh mắt lại đong đầy sự cảm động của một người mẹ.
Bà đặt rổ rau xuống chân, bắt đầu cằn nhằn chuyện cũ: "Cái thằng Tiêu Mộc ấy, tính tình lầm lì nhưng tiêu hoang thì chẳng ai bằng! Mấy hôm trước đi chợ huyện ngang qua tửu lầu Từ Ký, nó dám cắn răng bỏ ra hơn bốn trăm văn tiền để mua một chiếc chân giò kho tương mang về; các con có biết một cân thịt nạc tươi ngoài chợ cũng chỉ mười lăm mười sáu văn không? Thế mà cái chân giò của Từ Ký chém đẹp một trăm năm mươi văn một cân, một cái chân giò tiêu tốn đứt bốn trăm mười văn tiền của nó!"
Nói đến số tiền bốn trăm mười văn, Từ Chính Hương vẫn còn thấy xót ruột như có ai xát muối: "Nó kiếm được đồng tiền trên núi rừng hiểm trở đâu có dễ dàng gì; trèo đèo lội suối, đối mặt với rắn độc dã thú mới hái được mấy nhánh thảo dược quý đem bán. Thế mà chỉ vì nghe mụ Lý Thúy Hoa bên cạnh sang khoe khoang được con trai mua cho bát thịt kho ở trấn, nó liền đùng đùng đi mua cái chân giò đắt đỏ ấy về để ta không bị lép vế! Ta đã mắng cho nó một trận nên thân rồi; ta dù cả đời này không được ăn một miếng chân giò Từ Ký, cũng chẳng thấy mụ Lý Thúy Hoa kia đè đầu cưỡi cổ được ta! Tiêu xài phung phí như thế, nghĩ đến mà tức anh ách!"
Diệp Lạc Hân bước lại gần bếp lò, nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc quạt nan quạt nhẹ vào miệng lò than để giữ lửa liu riu, rồi mỉm cười dịu dàng giải vây cho phu quân: "Nương bớt giận ạ; chàng ấy làm như vậy cũng là vì một lòng hiếu thảo, không muốn nương phải chịu ấm ức hay thua kém người ta thôi mà. Phu quân tính tình ít nói, vụng về không biết nói lời ngon ngọt, nhưng trong lòng chàng lúc nào cũng đau đáu nghĩ cho cha mẹ và gia đình."
Từ Chính Hương nghe nàng dâu thứ nói những lời chí tình chí nghĩa, cơn giận trong lòng lập tức tan biến như bọt xà phòng. Bà khẽ cười mắng: "Chỉ có con là lúc nào cũng biết cách nói đỡ cho nó thôi!"
Diệp Lạc Hân khẽ dùng miếng giẻ lót tay nhấc hé nắp vung nồi đất lên kiểm tra. Làn khói trắng nghi ngút lập tức ùa ra, mang theo hương vị đậm đà, thơm nức mũi của thịt ba chỉ hòa quyện cùng nước tương đường thắng. Nàng nhớ lại hương vị của chiếc chân giò bốn trăm mười văn mà Tiêu Mộc mua ở tửu lầu Từ Ký hôm trước, khẽ chép miệng, thẳng thắn nhận xét: "Thực ra nương à, hôm trước ăn thử cái chân giò kho tương của tửu lầu Từ Ký, con thấy tay nghề của đầu bếp nơi đó cũng chẳng có gì ghê gớm, nấu vẫn chưa tới tầm đâu ạ."
Câu nói của Diệp Lạc Hân như một hòn đá ném vào mặt hồ phẳng lặng. Tiêu Cảnh vừa cất bản vẽ vào ngực áo, bước chân vào bếp nghe thấy câu chê bai ấy liền đứng khựng lại, hai mắt tròn xoe kinh ngạc.
Cậu thiếu niên không kìm được tò mò liền cất giọng hỏi dồn: "Trời ơi nhị tẩu! Đến chân giò kho tương của Từ Ký - tửu lầu số một ngoài huyện thành mà tẩu còn chê chưa tới tầm sao? Hôm ấy đệ ăn mà thấy ngon đến mức muốn nuốt luôn cả lưỡi, gặm sạch không chừa một mẩu xương nào cơ mà! Chẳng lẽ tẩu từng được ăn loại chân giò nào ngon hơn thế nữa sao?"
Dương Phượng cũng dừng hẳn tay xẻng, quay phắt người lại trố mắt nhìn Diệp Lạc Hân, trong lòng tràn ngập sự ngạc nhiên. Cả đời những người nông dân chân lấm tay bùn ở làng Thanh Sơn này, được nếm một miếng thịt ở tửu lầu huyện thành đã là chuyện xa xỉ tột cùng, vậy mà nàng dâu thứ lại thản nhiên buông lời chê bai không tiếc lời.
Diệp Lạc Hân khẽ nghiêng đầu, ánh mắt lấp lánh sự tự tin và hiểu biết sâu sắc của một người từng trải nghiệm nền ẩm thực đỉnh cao ở thế giới hiện đại. Nàng từ tốn cất giọng giải thích, từng câu từng chữ rõ ràng, nhịp nhàng như rót vào tai người nghe: "Đệ không hiểu đấy thôi; chân giò của tửu lầu Từ Ký tuy ninh nhừ nhưng lớp bì bên ngoài lại bị nhũn nát, thớ thịt bên trong thì khô xác vì bị ninh quá lửa rút hết nước ngọt. Nước tương kho của họ lại quá mặn, chỉ ngập ngụa mùi xì dầu nồng gắt mà thiếu hẳn các tầng hương thảo mộc để áp chế mùi gây của mỡ heo."
Nhìn ánh mắt ngơ ngác của cả nhà, Diệp Lạc Hân khẽ nuốt nước bọt, giọng nàng trầm bổng miêu tả tiêu chuẩn thực thụ của món ăn thượng hạng: "Một chiếc chân giò kho tương đạt đến chuẩn mực hoàn hảo, trước hết lớp bì bên ngoài phải có màu nâu đỏ óng ả như ngọc hổ phách; da heo căng bóng mọng nước, dùng đũa khẽ chạm vào là thấy núng nính rung rinh đàn hồi như thạch. Khi cắn ngập chân răng, lớp bì phải dẻo quánh, dính nhẹ nơi đầu môi, béo ngậy mượt mà nhưng tuyệt đối không gây ngấy; từng thớ thịt nạc bên trong mềm tơi như nhung, ngậm vào miệng là tự tan biến ra thành dòng nước cốt ngọt lịm; hương quế, hoa hồi và các loại thảo quả ngấm sâu vào tận tủy xương; ăn xong một miếng mà vị ngọt thanh đọng lại nơi cuống họng mãi không tan... Như thế mới xứng đáng là món chân giò kho tương tuyệt phẩm!"
Lời miêu tả sống động như có hình có khối của Diệp Lạc Hân khiến gian bếp nhỏ bỗng chốc lặng phắc như tờ. Tiếng củi than nổ lách tách lách cách trên bếp lò càng làm nổi bật âm thanh nuốt nước bọt cái ực đầy thèm thuồng của Tiêu Cảnh và Dương Phượng. Cả hai người trố mắt nhìn nàng dâu thứ, trong đầu như hiện lên chiếc chân giò nâu đỏ núng nính óng ánh mà nàng vừa vẽ ra bằng lời nói.
Từ Chính Hương đứng sững sờ bên rổ rau, miệng hơi hé mở, kinh ngạc nhìn đứa con dâu thứ mà bà ngỡ như đã thấu hiểu hết mọi điều. Một người con gái xuất thân nông thôn nghèo khó, làm sao lại có thể am hiểu tường tận những quy chuẩn ẩm thực tinh tế và miêu tả say đắm lòng người đến mức này? Liệu Diệp Lạc Hân có thể tự tay làm ra món chân giò kho tương đạt đến cảnh giới tuyệt mỹ ấy để thuyết phục cả gia đình hay không; và tài nghệ nấu nướng phi thường ẩn giấu bấy lâu nay của nàng, liệu có trở thành chiếc chìa khóa vàng mở ra một hướng đi hoàn toàn mới cho kinh tế nhà họ Tiêu?