Xuyên Thành Nông Nữ, Được Cả Nhà Chồng Cưng Chiều

Chương 33: Thân Tộc Tranh Đoạt Ruộng Đất

Cập nhật: 13/10/2026 01:38

Trước Sau

Trình Phát Audio Chương

Thưởng thức bản đọc audio chất lượng cao

Chương 33: Thân Tộc Tranh Đoạt Ruộng Đất
Nắng sớm chưa kịp rọi qua rặng tre đầu thôn, gian nhà tranh vách đất của họ Triệu đã ngập trong mùi nhang tàn khét lẹt quyện cùng mùi thuốc trừ sâu nồng nặc. Không khí lạnh ngắt như có tảng băng đè nặng lên từng lồng ngực. Dưới nền đất ẩm ướt, xác Triệu Đại Sơn được phủ vội một tấm vải bố thô rách nát, đôi bàn chân khẳng khiu tím tái thò ra ngoài mép vải. Hai đứa nhỏ Đại Hoa và Tiểu Hoa quỳ thụp bên cạnh, hai đầu gối cọ sát vào đất đến sưng đỏ, nước mắt giàn giụa chảy ròng ròng xuống cằm, tiếng khóc thút thít nghẹn ứ nơi cuống họng; chúng không dám gào to vì sợ người lớn quở mắng, bờ vai gầy guộc cứ run lên bần bật theo từng cơn nấc.
Triệu nương tử quỳ bất động bên mép ván, đầu chít dải băng gai trắng toát, đôi mắt trũng sâu thâm quầng nhìn trừng trừng vào thi thể trượng phu. Cả đêm thức trắng, nước mắt nàng đã cạn khô tự bao giờ, trong đáy mắt chỉ còn lại một màu xám xịt của tro tàn; tâm can rách nát, đau đớn đến mức tê dại. Nàng nhớ lại từng lời cay nghiệt của mẹ chồng tối qua, nhớ lại ánh mắt tuyệt vọng của trượng phu trước khi chàng lén lút bò xuống nền đất tìm lọ thuốc sâu kết liễu đời mình. Một mạng người ra đi, bỏ lại cho nàng một đống hoang tàn, một người mẹ chồng mù lòa và hai đứa con thơ dại chưa đầy mười tuổi.
Giữa gian nhà tang tóc thê lương, một bóng người cao gầy chắp tay sau lưng, bước chân thong thả dạo quanh từng góc cột. Đó là Triệu Đại Hà, huynh đệ họ của Triệu Đại Sơn ở thôn bên cạnh, người vừa được dân làng gọi sang để lo liệu tang sự. Hắn không hề nhìn vào xác người chết, cũng chẳng buồn cất lời an ủi hai đứa cháu gái đang khóc ngất; đôi mắt hẹp dài của hắn đảo lia lịa, quét qua từng xà gồ gỗ lim còn chắc chắn, lia ra khoảng sân rộng chất đầy rơm rạ, rồi dừng lại ở hai mẫu ruộng màu mỡ xanh mướt nằm ngay sau hàng rào. Khóe môi Triệu Đại Hà khẽ nhếch lên một nụ cười kín đáo, vẻ mặt tràn đầy sự toan tính và đắc ý.
Trong góc buồng tối tăm, lão thái thái mù lòa Triệu Tiền thị ngồi co ro trên mép giường tre, hai hốc mắt sâu hoắm trắng dã ngửa lên trần nhà, hai bàn tay gầy như cành củi khô bấu chặt lấy mép chăn. Bà vừa đấm ngực thùm thụp vừa tru tréo khóc than: “Ôi trời cao đất dày ơi, con trai của mẹ ơi, sao con lại nỡ bỏ mẹ già mù lòa này mà đi... Đại Hà à, cháu mau lại đây với thím, đệ đệ của cháu khổ quá, chết không nhắm mắt được đâu... Cháu phải làm chủ cho đệ đệ cháu, đuổi ngay con hồ ly tinh khắc chồng này ra khỏi cửa, nhà họ Triệu ta không thể chứa chấp thứ đàn bà sao chổi này được nữa!”
Triệu Đại Hà bước lại gần giường, khẽ hắng giọng một tiếng thật vang, ra vẻ đường hoàng đạo mạo: “Thím hai cứ bớt đau buồn; nếu thím đã mở lời dứt khoát như vậy, thì cái tiếng xấu này cứ để cháu gánh vác thay cho đệ đệ.”
Nói đoạn, Triệu Đại Hà quay ngoắt người lại, hai tay chống nạnh, mắt trợn trừng nhìn thẳng vào Triệu nương tử đang quỳ dưới đất. Giọng hắn the the, chói gắt vang lên giữa gian nhà vắng: “Triệu thị, ngươi nghe rõ lời thím ta nói chưa? Đại Sơn đệ đệ vừa mới nhắm mắt xuôi tay, ngươi lại là người phụ nữ mang danh sát phu hại chồng, không giữ trọn đạo dâu con. Ngươi mau thu dọn đồ đạc cá nhân cút xéo về nhà mẹ đẻ đi; đôi bên hòa giải chia tay êm thấm, đừng để đến lúc ta phải gọi người lôi ngươi tống cổ ra đường, lúc đó mặt mũi chẳng còn đâu!”
Tiếng nói chát chúa của Triệu Đại Hà vừa dứt, hai đứa nhỏ Đại Hoa và Tiểu Hoa hoảng hốt buông góc áo cha, lồm cồm bò sang ôm chầm lấy đùi mẹ, khóc òa lên nức nở: “Nương ơi, nương đừng bỏ chúng con đi... Nương đừng đi mà!”
Triệu nương tử như vừa bị một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt, cả người khẽ rùng mình một cái. Đôi mắt nàng từ vô hồn bỗng bốc lên ngọn lửa căm hờn rực cháy; nàng từ từ đứng dậy, đưa tay gạt phắt hai dòng lệ khô khốc trên má, vỗ nhẹ vai hai đứa con rồi bước lên một bước, đối diện với Triệu Đại Hà. Ánh mắt nàng lạnh băng như mũi dao nhọn hoắt đâm thẳng vào mặt gã đàn ông tham lam.
Nàng cất giọng đanh thép, từng lời từng chữ gằn mạnh xuống sàn nhà: “Đại Hà ca, chàng vừa mới nhắm mắt chưa lạnh xác, chàng còn nằm sờ sờ ở đây, mà ngươi đã vội vàng xua đuổi góa phụ sao? Ngươi bảo ta cút đi, vậy hai đứa con gái ruột thịt của ta, ngươi định tính thế nào?”
Triệu Đại Hà cười khẩy một tiếng hừ lạnh, ngửa mặt lên trời đáp trả: “Hai đứa con gái này mang họ Triệu, xương thịt của chúng là máu mủ nhà họ Triệu! Đại Sơn chết rồi, chúng là người của gia tộc ta, đương nhiên phải ở lại đây phụng dưỡng tổ tiên, tuyệt đối không có chuyện cho ngươi dắt mối mang đi tái giá làm nhục gia môn!”
Triệu nương tử nghe vậy liền bật cười chua chát, nụ cười nghẹn ngào vỡ ra từ lồng ngực: “Ngươi nói nghe hay lắm, nghĩa khí lắm; vậy ta hỏi ngươi, một bà lão mù lòa nằm liệt trên giường, hai đứa con gái chưa cập kê tay yếu chân mềm, bọn họ sống qua ngày bằng cái gì? Ai nấu cho họ bát cháo khi đói, ai dâng cho họ ngụm nước khi khát? Ai sẽ giặt giũ chiếc tã lót hôi hám của bà lão mù mỗi sớm mai? Là ngươi sao, Triệu Đại Hà?”
Triệu Đại Hà bị hỏi dồn dập vào chỗ hiểm, mặt mày thoắt đỏ thoắt trắng, hai mắt đảo quanh lúng túng; hắn ậm ừ trong họng một hồi lâu mới lắp bắp cãi lại: “Thì... thì đương nhiên là ta rồi! Ta là huynh đệ ruột thịt của Đại Sơn, chẳng lẽ họ Triệu chúng ta lại để thím ruột và cháu gái mình chết đói hay sao? Ngươi không cần phải đứng đó mà lo bò trắng răng!”
Triệu nương tử tiến thêm một bước, tiếng gót giày rơm nện xuống nền đất cồm cộp, ngữ khí càng lúc càng dứt khoát, vang vọng ra tận ngoài sân: “Được! Nếu ngươi đã vỗ ngực xưng tên nhận trách nhiệm lớn lao như vậy, thì hôm nay có mặt đông đủ bà con chòm xóm ở đây, ngươi nói rõ ràng minh bạch ra xem! Mỗi một năm, ngươi cấp cho mẹ già bao nhiêu đấu gạo, bao nhiêu cân ngô? Mỗi một tháng, ngươi đưa cho bà bao nhiêu văn tiền tiêu vặt? Nếu mai này lão thái thái trở trời ốm đau, ho hen cảm sốt, ngươi có chịu bỏ tiền túi ra rước đại phu trong huyện về châm cứu, bốc thuốc thang hay không? Rồi sau này hai đứa con gái ta lớn lên đến tuổi gả chồng, ngươi có lo liệu cho chúng manh áo mới, đôi hoa tai bạc làm của hồi môn hay không? Hay là ngươi định bán tống bán tháo chúng vào nhà thổ, làm con hầu cho kẻ khác để lấy bạc nhét đầy túi tham của ngươi? Ngươi trả lời đi!”
Lời chất vấn sắc bén như gươm chém đá của Triệu nương tử khiến Triệu Đại Hà cứng họng, mồ hôi hột trên trán gã bắt đầu rỉ ra ròng ròng. Những người dân làng đứng tụ tập trước cổng xem náo nhiệt bắt đầu xì xào bàn tán; người gật đầu đồng tình, kẻ bĩu môi khinh bỉ nhìn vào mặt Triệu Đại Hà.
Trong gian buồng tối, lão thái thái Triệu Tiền thị cũng vểnh tai lên nghe ngóng từng tiếng một. Bà mù mắt nhưng tai bà còn rất thính; những câu hỏi thực tế về hạt gạo, manh áo, chén thuốc của nàng dâu như một hồi chuông giáng mạnh vào tâm trí u mê của bà. Bà thầm nghĩ trong bụng: đứa cháu họ này ngày thường một năm chẳng bước chân sang ngưỡng cửa quá hai lần, đến quả trứng gà cũng chưa từng biếu thím lấy một quả, liệu mai này nó có thật lòng phụng dưỡng tấm thân tàn phế này hay không?
Không khí trong nhà đang giằng co ngột ngạt đến nghẹt thở, thì bất chợt từ ngoài ngõ rộ lên một tràng âm thanh ồn ào náo loạn. Tiếng bước chân thình thịch vội vã, tiếng người thở hồng hộc lẫn trong tiếng gậy chống gõ cộc cộc xuống đường sỏi. Một giọng đàn ông khàn đặc, the thé vang lên từ xa: “Tránh ra, tránh hết ra cho ta vào! Cháu ruột của ta mất rồi, trời ơi là trời, sao số cháu ta lại bạc bẽo thế này!”
Mọi người dạt ra hai bên nhường lối, một bóng người đàn ông trung niên râu ria xồm xoàm, quần áo xộc xệch bước nhanh vào sân. Đó là Triệu Trung, người tam thúc họ hàng xa của Triệu Đại Sơn, cả chục năm trời chẳng thèm qua lại một lời chào hỏi; tay lão dắt theo một đứa bé trai trạc mười tuổi, mặt mũi béo núc ních nhưng mũi dãi lòng thòng, vừa đi vừa nhai nhồm nhoàm mẩu bánh bao nguội ngắt. Vừa bước chân qua bậu cửa, Triệu Trung liền quăng chiếc gậy chống cái cạch xuống đất, nhào tới quỳ rạp trước giường lão thái thái mù, nắm chặt lấy bàn tay khô héo của bà mà gào khóc thảm thiết: “Thím hai ơi là thím hai! Người đầu bạc lại phải tiễn kẻ đầu xanh, khổ cho thím quá trời ơi... Cháu hay tin dữ từ sáng sớm, ruột gan đau như cắt, tức tốc chạy mải miết mấy dặm đường sang đây với thím đây!”
Cái nắm tay đột ngột và giọng than khóc ầm ĩ của Triệu Trung khiến lão thái thái giật bắn mình; nỗi đau xé lòng lại bị khơi dậy, bà ôm mặt khóc rưng rức, gật đầu liên hồi: “Chú ba đấy ư... Chú ba có lòng sang thăm mẹ con ta... Khổ lắm chú ba ơi, Đại Sơn nó bỏ mẹ con ta đi thật rồi...”
Đúng lúc đó, từ góc cửa bỗng vang lên tiếng khóc ré chói tai: “Oa... oa... Cha ơi là cha ơi!” Tiếng khóc ấy phát ra từ miệng đứa bé trai mười tuổi đi cùng Triệu Trung; đứa nhỏ vừa khóc vừa quệt mũi dãi vào vạt áo, mắt lại lấm lét liếc nhìn quanh gian nhà đầy vẻ tò mò.
Lão thái thái giật mình, lau vội khóe mắt mờ đục, ngơ ngác cất tiếng hỏi: “Tiếng đứa trẻ nào khóc thảm thương thế kia? Có phải nó đến đưa tiễn Đại Sơn nhà ta không?”
Triệu Trung chỉ chờ có thế, vội vàng xoa xoa mu bàn tay lão thái thái, đon đả mở lời với vẻ mặt đầy vẻ xót thương: “Báo với thím hai một tin mừng giữa cơn đại nạn; đứa nhỏ này chính là cháu nội đích tôn của cháu, năm nay vừa tròn mười tuổi, tên gọi là Tiểu Phúc. Thím xem, Đại Sơn ra đi không có con trai nối dõi tông đường, lúc hạ táng chẳng có ai đập chậu chống gậy linh cữu, vong hồn dưới suối vàng làm sao mà siêu thoát được? Cháu thương cảnh thím cô quạnh, thương đệ đệ tuyệt tự, nên hôm nay cháu quyết định đem đứa cháu nội thông minh, lanh lợi này quá kế sang làm con hương hỏa cho Đại Sơn! Từ nay về sau, nó sẽ thay cha nó chăm sóc thím, gánh vác hương khói cho chi họ này!”
Lão thái thái ngẩn người ra, ngập ngừng đáp: “Mới mười tuổi... vậy thì đứa nhỏ còn bé quá...”
Lời bà lão chưa dứt, Triệu Đại Hà đứng bên cạnh đã giận tím mặt; hắn sấn tới túm lấy cánh tay Triệu Trung, rống lên giận dữ: “Tam thúc! Người làm như vậy là hoàn toàn sai trái rồi! Người nói năng xằng bậy gì thế hả? Ta và Đại Sơn là huynh đệ con chú con bác ruột thịt một cành, cùng một cụ sinh ra; nếu muốn quá kế con thừa tự để đập chậu chống gậy, thì theo thứ bậc gia tộc phải chọn người từ nhà ta trước tiên! Con trai út nhà ta năm nay mười bốn tuổi, vóc dáng cao lớn khỏe mạnh, quá kế sang cho đệ đệ ta gánh vác cơ nghiệp là vừa khít như in! Đâu đến lượt một kẻ mười năm không thèm bước chân qua ngõ như thúc mang một đứa con nít ranh vắt mũi chưa sạch sang đây xí phần?”
Triệu Trung bị túm áo liền hất mạnh tay Triệu Đại Hà ra, nhổ một bãi nước bọt toẹt xuống đất, cười khẩy đầy mỉa mai: “Ngươi câm cái mồm thối lại đi, Triệu Đại Hà! Ngươi tưởng người trong làng này mù hết cả rồi sao? Theo lý gia tộc thì nhà ngươi gần thật đấy, nhưng đứa con trai út mười bốn tuổi của ngươi là loại người gì, chẳng lẽ ta không rõ? Đầu óc nó ngu ngơ ngớ ngẩn, chân đi khập khiễng, đến một câu nói gãy gọn còn chẳng thốt nên lời, cả ngày chỉ biết bốc đất ăn! Ngươi muốn gả một đứa tàn tật vô dụng sang đây để kế thừa gia nghiệp của Đại Sơn ư? Nó chăm sóc được cho thím hai hay là thím hai phải mù lòa đi hầu hạ lại nó? Đến cái mạng nó còn giữ không xong, thì hai mẫu ruộng và gian nhà ngói này chẳng mấy chốc mà rơi tọt vào túi của vợ chồng ngươi à?”
Triệu Đại Hà đỏ gay mặt mày vì bị lột trần dã tâm, liền nhảy dựng lên đập bàn đánh rầm một tiếng: “Đó là chuyện nội bộ gia đình nhà ta, không mượn một kẻ ngoài cuộc như tam thúc xía mũi vào! Con ta dẫu có khờ khạo thì nó vẫn là cháu ruột của Đại Sơn!”
Triệu Trung cũng chẳng vừa, sấn sổ bước tới dí ngón tay trỏ sát tận sống mũi Triệu Đại Hà, giọng the thé thách thức: “Chuyện này dính líu đến đất đai hương hỏa của dòng họ Triệu, ta là bậc cha chú trong tộc, cớ sao lại không được can thiệp? Đại Sơn không có con trai ruột, chỉ cần là người mang họ Triệu thì ai ai cũng có quyền nhận quá kế để chia phần ruộng đất! Mảnh đất hai mẫu phì nhiêu ấy là mồ hôi nước mắt của tổ tông để lại, đừng hòng một mình ngươi nuốt trôi!”
Triệu Đại Hà nghiến răng kèn kẹt, gầm gừ như thú dữ: “Ngày thường giỗ chạp lễ tết chẳng thấy bóng dáng thúc đâu, giờ đệ đệ ta vừa mới tắt thở, thúc đã ngửi thấy mùi đất béo mà mò sang kiếm chác! Trên đời này làm gì có chuyện ngon ăn thế hả lão già tham lam?”
Triệu Trung cười to một tràng khinh bỉ: “Ngươi nói ta tham lam sao? Vậy ngươi thì tốt đẹp ở chỗ nào? Chẳng phải ngươi cũng chỉ nhăm nhe hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài kia, nên mới nóng lòng đòi đuổi Triệu nương tử đi ngay trong ngày hay sao? Hai ta kẻ tám lạng người nửa cân, ngươi đừng có đóng kịch đạo đức giả ở đây!”
Hai người đàn ông mắt long sòng sọc, kẻ túm ngực áo, người giơ nắm đấm, nước bọt văng tung tóe; tiếng chửi rủa, mạt sát nhau vang lên như sấm sét giữa gian nhà tranh chật hẹp. Trong cơn xô đẩy hỗn loạn, chiếc bàn gỗ cũ kỹ bị xô lệch, chiếc bát sứt đựng nước cúng đặt trên hương án rơi xuống nền đất, vỡ tan tành loảng xoảng; mảnh sành bắn tung tóe suýt văng vào mặt hai đứa trẻ đang quỳ khóc rấm rứt dưới đất.
Không khí hỗn loạn, bẩn thỉu và tàn nhẫn ấy như những nhát búa giáng thẳng vào màng nhĩ của lão thái thái Triệu Tiền thị. Ngồi trên mép giường, đôi bàn tay gầy guộc run rẩy dữ dội, lồng ngực bà phập phồng nghẹn ứ không thở nổi. Từng câu vạch trần dơ bẩn của hai gã đàn ông đập chan chát vào tai bà: chia ruộng... cướp nhà... tống khứ góa phụ... nhét con tàn tật sang...
Tâm trí tăm tối của bà lão mù bỗng nhiên bừng sáng một cách đau đớn. Hóa ra những giọt nước mắt than khóc ban nãy, những lời thề thốt phụng dưỡng ngọt ngào ấy, tất cả chỉ là một màn kịch đê tiện nhằm xâu xé hai mẫu ruộng mà con trai bà đã đánh đổi bằng cả mạng sống! Bọn họ căn bản không hề quan tâm một bà già mù lòa như bà sẽ sống ra sao, sẽ chết đói ở góc xó nào; bọn họ chỉ muốn cướp sạch đất đai rồi vứt bỏ bà như một đống rác rưởi!
Nhớ lại hồi nãy, chính miệng Triệu Đại Hà đã bàn tính chuyện dựng cho bà một gian nhà phụ lụp xụp sau vườn, bỏ mặc bà tự sinh tự diệt. Sự bi thương tột cùng bỗng chốc hóa thành ngọn lửa căm phẫn ngút ngàn, làm bùng cháy chút sức lực tàn tạ cuối cùng trong thân xác cạn kiệt của lão thái bà. Đôi mắt mù lòa của bà trợn trừng, hai hàm răng rụng gần hết va vào nhau lập cập.
Bà gầm lên một tiếng xé toang không gian: “Câm miệng! Tất cả lũ súc sinh các ngươi câm hết cái miệng chó lại cho ta!”
Tiếng gào thét uất nghẹn của bà lão khiến Triệu Đại Hà và Triệu Trung giật thót mình, sững sờ buông tay nhau ra.
Lão thái thái run rẩy đứng bật dậy, hai tay vung vẩy quờ quạng trong không trung, giọng run lên vì uất ức: “Lão thái bà ta tuy mù mắt nhưng lòng dạ ta chưa có mù! Con trai ta nằm kia chưa kịp đắp chiếu ấm thân, mà lũ lang sói các ngươi đã kéo đến cấu xé, tranh giành từng tấc đất của nó! Các ngươi nghĩ ta hồ đồ, nghĩ ta là kẻ chết rồi hay sao mà dám đứng trước mặt vong hồn con ta đòi chia ruộng cướp nhà?”
Triệu Đại Hà nuốt nước bọt ực một cái, gượng gạo bước lại dỗ dành: “Thím hai à, thím hiểu lầm rồi... Đại Sơn không có con trai, chuyện hương hỏa sớm muộn gì cũng phải lo liệu, chi bằng giao cho cháu Tuấn Sinh nhà con... Đến lúc đó, con sẽ dựng cho thím một gian nhà phụ ấm cúng sau hồi, ngày ngày mang cơm nước sang tận nơi, bảo đảm thím không bao giờ thiếu một miếng ăn...”
“Nhà phụ ư? Một miếng ăn ư?” Lão thái thái cười lên sằng sặc, hai dòng lệ đục ngầu ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo, “Ngươi tính toán chu đáo quá nhỉ! Ngươi muốn giam cầm bà già này trong xó nhà tối cho đến chết mục rữa, để cả nhà ngươi chiếm trọn nhà ngói sân gạch của con trai ta! Lòng dạ ngươi độc ác hơn cả rắn rết!”
Trong giây phút sinh tử ấy, hình bóng nàng dâu Triệu nương tử bỗng hiện lên rõ mồn một trong tâm trí bà. Suốt một năm trời con trai nằm liệt giường hôi hám, một tay người con dâu này thức khuya dậy sớm, cuốc đất gặt lúa, chịu nhục chịu khổ kiếm từng hạt gạo nuôi cả nhà, dâng từng ngụm cháo nóng đến tận miệng bà, giặt từng chiếc quần ướt bẩn không một lời than vãn. Bà mắng chửi nàng, nàng im lặng; bà ném thức ăn vào mặt nàng, nàng nén nhục dọn dẹp. Vậy mà bà lại đi tin lời đường mật của đám họ hàng lang sói, đòi đuổi nàng đi để tự dồn mình vào đường chết!
“Cút! Cút hết ra ngoài cho ta!” Lão thái thái phát điên thực sự.
Bà quờ quạng hai tay vớ lấy chiếc chổi đót dựng ở đầu giường quất túi bụi về phía trước. Chổi gãy, bà lại vớ lấy chiếc bát đất nung còn lại trên bàn ném mạnh về phía phát ra tiếng thở của Triệu Đại Hà. Chiếc bát bay vút qua không trung, va vào góc cột vỡ toang đánh xoảng một tiếng rợn người. Chưa dừng lại ở đó, bà lảo đảo nhào tới góc nhà, ôm lấy chiếc chum sành đựng dưa muối rỗng quẳng mạnh ra cửa.
Tiếng đổ vỡ, tiếng gào thét của bà lão mù lòa làm náo loạn cả một góc trời. Đám người Triệu Đại Hà và Triệu Trung sợ bà lão làm liều gây thương tích, đành vừa ôm đầu né tránh vừa nhốn nháo tháo lui ra khỏi bậc cửa, dạt hết ra giữa sân bùn đất.
Đuổi được hai kẻ tham lam ra khỏi nhà, lão thái thái thở hồng hộc, dựa lưng vào khung cửa nẹp tre, hai tay run lẩy bẩy chỉ thẳng ra sân: “Ngày nào bà già này còn hít thở một hơi, thì một tấc đất, một cọng rơm của con trai ta, lũ kền kền các ngươi cũng đừng hòng đụng đến!”
Ở ngoài sân, bùn đất sau trận mưa sớm còn nhão nhoét. Bị bà lão mù đuổi thẳng cổ trước mặt bàn dân thiên hạ, Triệu Đại Hà và Triệu Trung cảm thấy bẽ bàng nhục nhã vô cùng; thẹn quá hóa giận, bọn chúng lập tức đổi hướng tấn công. Nhìn thấy Triệu nương tử vừa bước ra đứng chắn trước hiên nhà để bảo vệ hai đứa con nhỏ, hai gã đàn ông liền hung hãn sấn tới, kéo theo cả vợ con và đám lâu la vây kín lấy nàng ở góc tường rào.
Triệu Đại Hà không nhắc đến chuyện đuổi nàng đi nữa, mà hung tợn quát lớn: “Triệu thị! Hôm nay ngươi là chủ cái nhà này, ngươi phải đứng ra nói một lời dứt khoát! Đệ đệ ta chết rồi, luật lệ dòng tộc không thể đảo lộn! Ngươi phải chọn ngay trong hôm nay: một là nhận con trai ta làm con thừa tự, hai là nhận cháu nội của tam thúc! Nếu không chọn ra người đập chậu chống linh cữu, thì cỗ quan tài của Đại Sơn đừng hòng được chôn xuống đất họ Triệu!”
Triệu Trung cũng xông lên dồn ép, vung vẩy cánh tay mập mạp: “Đúng thế! Ngươi chỉ là phận đàn bà góa bụa, không có quyền quyết định hương hỏa gia tộc! Mau chọn lấy một đứa, ký giấy giao ước ruộng đất ngay tại đây, nếu không thì tang lễ này coi như bỏ xó!”
Triệu nương tử bị dồn sát vào chân tường đất, vạt áo rách bị gió thổi bay phần phật; hai đứa nhỏ sợ hãi ôm chặt lấy hông nàng khóc không thành tiếng. Dù thân cô thế cô, nàng vẫn cắn chặt môi đến bật máu, ngẩng cao đầu trừng mắt nhìn đám đàn ông hung bạo, không hề lùi bước lấy nửa phân: “Các ngươi đừng có nằm mơ giữa ban ngày! Chồng ta chết chưa ráo mồ hôi, các ngươi đã kéo đàn kéo lũ đến ức hiếp mẹ góa con côi! Ta dẫu có chết cũng không bao giờ ký vào cái thứ giấy tờ cướp đất cướp nhà ấy!”
Đúng lúc tình thế đang căng thẳng ngàn cân treo sợi tóc, từ ngoài hàng rào dâm bụt bỗng vang lên một tiếng quát lớn, sang sảng như chuông đồng rung lên giữa trưa hè: “Một lũ đàn ông sức dài vai rộng, ban ngày ban mặt lại dám kéo đến làng Thanh Sơn giở trò cướp cạn hay sao!”
Đám đông đang xôn xao bỗng chốc im bặt, đồng loạt quay đầu nhìn lại. Từ lối ngõ nhỏ, Từ Chính Hương - chủ mẫu nhà họ Tiêu - sải những bước chân dứt khoát bước vào sân. Bà mặc bộ áo vải chàm giản dị, ống tay áo xắn cao để lộ đôi cánh tay rám nắng săn chắc; ánh mắt bà sắc bén như chim ưng quét qua mặt từng tên trong đám họ hàng nhà họ Triệu, khí thế bừng bừng khiến người ta phải khiếp sợ.
Từ Chính Hương bước đến đứng sừng sững ngay bên cạnh Triệu nương tử, hai tay chống nạnh, cất giọng mỉa mai đầy đanh thép: “Ta đứng ngoài cổng xem cái gánh xiếc đê tiện của các ngươi từ nãy đến giờ mà buồn nôn cả ruột! Trời quang mây tạnh, đất có thổ công, sông có hà bá, làng Thanh Sơn này có phép tắc lệ làng đàng hoàng, chứ không phải cái chốn vô thiên vô pháp để một lũ kền kền từ thôn khác bay sang đây rỉa xác người chết! Các ngươi thấy người ta góa chồng con côi, tưởng làng này không có ai đứng ra đòi lại công lý cho họ hay sao?”
Tiếng nói dõng dạc, trượng nghĩa của Từ Chính Hương như một ngọn lửa ném vào đống rơm khô, lập tức thổi bùng lên nỗi uất ức dồn nén bấy lâu trong lòng những người phụ nữ làng Thanh Sơn đang đứng xem quanh rào.
Bấy lâu nay, thân phận người phụ nữ nông thôn luôn bị đè nén dưới đủ thứ luật tục khắt khe; làm lụng quần quật cả đời nuôi nhà chồng, đến khi trượng phu nằm gai nếm mật qua đời thì bị họ hàng xua đuổi, tước đoạt toàn bộ tài sản, mẹ con phải dắt díu nhau đi ăn mày. Cảnh ngộ thảm thương của Triệu nương tử hôm nay chính là cái kết đắng cay mà bất kỳ người phụ nữ nào trong số họ cũng có thể phải gánh chịu ngày mai!
Vợ Lý chính là người đầu tiên bước ra khỏi đám đông, tay cầm chiếc đòn gánh gõ mạnh xuống đất đánh cộp một tiếng, cất giọng the thé ủng hộ: “Từ tẩu tử nói chí phải! Đám người họ Triệu các ngươi đừng có cậy đông mà sang đây làm càn! Đàn bà làng Thanh Sơn chúng ta không để các ngươi muốn đè đầu cưỡi cổ ai thì đè đâu!”
Một người phụ nữ khác trong làng lập tức phụ họa, xắn tay áo bước lên: “Đúng đấy! Đại Sơn gãy chân nằm liệt một chỗ suốt cả năm trời, có thấy mặt mũi tên huynh đệ nào sang đỡ đần một gánh cỏ, cho một bát cháo đâu? Nay người ta vừa tắt thở, các ngươi đã vác mặt sang cướp hai mẫu ruộng màu mỡ! Thật là đồ mặt dày không biết xấu hổ!”
“Cút đi! Mau cút về thôn của các ngươi đi!”
“Nếu các ngươi còn dám bức tử mẹ góa con côi, chúng ta lập tức trói gô cổ các ngươi lại, giải thẳng lên công đường huyện nha để quan tri huyện trị tội cướp đoạt tài sản!”
Tiếng la hét, tiếng chửi bới của hàng chục phụ nữ trong thôn vang lên như sấm dậy, tiếng đòn gánh gõ chan chát, cuốc xẻng va vào nhau leng keng tạo nên một làn sóng phẫn nộ dữ dội bao vây lấy đám người Triệu Đại Hà. Hai gã đàn ông to xác bỗng chốc rơi vào thế cô lập, mặt mày tái mét, hoảng hốt lùi dần từng bước về phía cổng.
Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, một tiếng quát trầm vang đầy uy quyền từ ngoài cổng vọng vào: “Tất cả dừng tay lại cho ta! Tang gia đang bối rối, ai cho phép các ngươi tụ tập gây rối làm loạn ở đây?”
Người vừa xuất hiện chính là Lý chính của làng Thanh Sơn. Ông mặc chiếc áo dài the xanh đã bạc màu, tay cầm chiếc can gỗ lim gõ cộc cộc dứt khoát xuống nền ngõ, từng bước đi khoan thai nhưng uy nghiêm bức người. Phía sau ông là hai tráng đinh vạm vỡ trong làng, nét mặt nghiêm nghị sẵn sàng can thiệp.
Thấy Lý chính đến, dân làng tự động giãn ra nhường một con đường rộng. Triệu Đại Hà như vớ được cọc, vội vàng chạy lại phân bua: “Lý chính đại nhân! Ngài đến thật đúng lúc! Ngài xem, đệ đệ ta chết rồi, ta là huynh đệ ruột thịt muốn quá kế con cháu sang để lo hương hỏa, đập chậu hạ táng cho người chết được mồ yên mả đẹp; vậy mà đám đàn bà trong làng ngài lại vô cớ cản trở, nhục mạ chúng ta!”
Lý chính dừng bước trước hiên nhà, quắc mắt nhìn chằm chằm vào mặt Triệu Đại Hà, lạnh lùng hừ một tiếng: “Triệu Đại Hà, ngươi không cần phải đem cái danh nghĩa hương hỏa ra đây để che đậy dã tâm cướp đoạt ruộng đất! Ngươi tưởng một chức Lý chính nhỏ nhoi này của ta không hiểu luật pháp của triều đình hay sao?”
Nói rồi, Lý chính quay người lại, nhìn bao quát một lượt toàn thể dân làng và đám thân tộc họ Triệu, cất cao giọng đọc từng điều luật rành rọt: “Chiếu theo hình luật và điển lễ hiện hành của triều đình ta: người chồng qua đời mà không có con trai nối dõi, thì người vợ góa phải thủ tiết thờ chồng đủ ba năm! Trong ba năm thủ hiếu này, toàn bộ nhà cửa, ruộng đất và tài sản đều do người vợ góa và mẹ già của người đã khuất toàn quyền quản lý, canh tác để sinh sống và lo hương khói! Mẹ chồng còn sống sờ sờ ở đó, vợ góa chưa mãn tang ba năm, thì bất luận là huynh đệ ruột thịt hay chú bác trong họ, tuyệt đối không ai có quyền nhúng tay vào ép buộc quá kế hay tự tiện phân chia gia sản! Kẻ nào dám cậy thế dòng tộc bức ép góa phụ bỏ nhà ra đi, chiếu theo luật sẽ bị phạt năm mươi trượng và đày đi biên ải ba năm! Các ngươi có muốn nếm thử mùi gậy gỗ của nha môn huyện hay không?”
Từng lời phán quyết đanh thép như gang thép của Lý chính làm Triệu Đại Hà và Triệu Trung run bắn cả người, tim đập thình thịch như trống điểm. Bọn chúng vốn là lũ nông dân thất học, chỉ quen thói bắt nạt kẻ yếu trong xóm làng; nay nghe đến hai chữ nha môn và hình phạt năm mươi trượng thì hồn xiêu phách lạc, chân tay mềm nhũn ra như bún.
Lý chính không thèm nhìn lũ người tham lam ấy nữa, ông quay mặt về phía khung cửa sổ buồng tối, cất giọng ôn tồn nhưng dứt khoát: “Triệu Tiền thị, bà ở trong nhà đã nghe rõ lời ta nói chưa? Nếu bà không muốn quá kế nhận con thừa tự của bất kỳ ai, thì hôm nay với tư cách là Lý chính làng Thanh Sơn, ta sẽ đích thân đứng ra đuổi sạch đám thân thích vô lại này ra khỏi địa phận của làng! Những ngày tháng sau này, bốn mẹ con bà cháu các ngươi hãy đóng cửa nương tựa vào nhau mà sống!”
Từ trong buồng tối, một bóng người gầy guộc run rẩy lảo đảo bước ra hiên nhà. Đó là lão thái thái Triệu Tiền thị; nhưng lúc này, trên tay phải của bà không còn cầm chổi hay bát vỡ nữa, mà là một cây kéo sắt to bản hoen rỉ - vật dụng thường ngày bà dùng để cắt vải vụn. Mũi kéo nhọn hoắt được bà ghì chặt vào ngay cuống họng nhăn nheo của mình, sát đến mức lớp da gà mỏng manh đã hằn lên một vệt đỏ rớm máu.
Cảnh tượng kinh hoàng ấy khiến tất cả mọi người có mặt đều thảng thốt kêu lên một tiếng thất thanh: “Trời ơi! Lão thái thái, người đừng làm bậy!”
Hai đứa trẻ Đại Hoa và Tiểu Hoa gào khóc thảm thiết: “Bà nội ơi! Bà bỏ kéo xuống đi mà!”
Lão thái thái mù lòa ngửa mặt lên trời, đôi mắt trắng dã trợn trừng đầy vẻ quyết liệt đến rợn người. Giọng bà the the, rít qua từng kẽ răng run rẩy: “Đuổi! Đuổi hết cái lũ súc sinh đội lốt người này cút xéo ra khỏi sân nhà ta! Ta nói cho lũ họ Triệu các ngươi biết: con trai ta chết thảm, ta đã không còn thiết sống nữa rồi! Nếu hôm nay một tên nào trong các ngươi còn dám bước chân vào ngưỡng cửa này để ép con dâu ta ký giấy, ép cháu gái ta gả đi, thì lão già mù này sẽ đâm thủng cuống họng, chết ngay trên vũng máu ở giữa cái sân này! Đến lúc đó, ta sẽ biến thành con quỷ dữ không đầu, ngày ngày đêm đêm bám theo bóp cổ từng đứa một trong nhà các ngươi, kéo cả dòng họ các ngươi xuống địa ngục đền mạng cho ta!”
Ánh thép lạnh ngắt của mũi kéo rỉ sét kề sát cổ họng rớm máu cùng lời nguyền rủa rợn tóc gáy của bà lão mù lòa như một luồng gió độc thổi qua sân, làm đám người họ Triệu lạnh toát sống lưng. Đôi mắt trắng dã vô hồn của bà lão dường như đang nhìn thấu tim gan đen tối của từng kẻ một.
Triệu Đại Hà run rẩy lùi lại mấy bước, vấp phải hòn đá suýt ngã ngửa ra sau. Hắn biết rõ tính khí quật cường của bà thím mù; một khi bà lão đã liều mạng tự sát ngay trong tang lễ, thì cửa quan huyện chắc chắn sẽ vào cuộc, tội danh bức tử trưởng bối sẽ khiến cả nhà hắn tan cửa nát nhà, rũ tù mục xương.
Triệu Trung thấy tình thế hoàn toàn sụp đổ, cũng không dám giả bộ khóc lóc nữa; lão vội vàng kéo giật tay đứa cháu nội mười tuổi đang ngơ ngác, lẩm bẩm chửi rủa trong miệng: “Đúng là một lũ điên khùng! Đồ đàn bà sao chổi độc ác... Đi, về thôi, để mặc cho mẹ con chúng nó ôm nhau mà chết đói!”
Triệu Đại Hà cũng nghiến răng nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống rãnh nước, hậm hực vung tay áo quát lớn: “Đi thì đi! Ta xem không có đàn ông họ Triệu chống đỡ, mấy mẹ con góa bụa các ngươi sống sót qua mùa đông này bằng cách nào! Đến lúc chết rấp trong xó nhà đừng có van xin chúng ta sang nhặt xác!”
Nói đoạn, cả đám họ hàng thân tộc kéo nhau cắp đuôi lủi thủi chuồn thẳng ra ngõ như một bầy chó hoang bị đánh đuổi, tiếng chửi rủa lẩm bẩm dần dần chìm nghỉm sau rặng tre đầu làng.
Sân nhà họ Triệu bỗng chốc trở lại vẻ tĩnh lặng tang thương vốn có. Thấy đám người độc ác đã đi khuất, Từ Chính Hương vội vàng bước tới, nhẹ nhàng nắm lấy cổ tay run rẩy của lão thái thái, khẽ khuyên nhủ: “Được rồi thím hai, bọn họ đi hết cả rồi; thím mau bỏ cây kéo xuống đi kẻo làm đau mình.”
Triệu Tiền thị nghe thấy tiếng của Từ Chính Hương, bàn tay cầm kéo bỗng buông lỏng; chiếc kéo sắt rơi choảng một tiếng chát chúa xuống nền đất. Toàn thân bà lão mềm nhũn ra như tàu chuối héo, ngã quỵ xuống hiên nhà, ôm mặt bật khóc nức nở như một đứa trẻ. Triệu nương tử lập tức quỳ xuống bên cạnh, ôm chặt lấy tấm lưng còng gầy guộc của mẹ chồng, hai giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má hốc hác. Bao nhiêu oán hận, cay đắng, ấm ức tích tụ suốt bao năm qua bỗng chốc tan biến trong cái ôm sinh tử giữa hai người phụ nữ bất hạnh.
Mối nguy cướp đất tạm thời được dẹp yên, nhưng trước mắt tang lễ của Triệu Đại Sơn vẫn còn dang dở. Người chết không thể để nằm mãi trên nền đất lạnh, quan tài gỗ mỏng đã được dân làng khiêng về đặt giữa gian chính, nhưng hủ tục đập chậu chống gậy khi đưa tang vẫn là một rào cản nghiệt ngã: không có con trai đập chậu tiễn biệt, người chết sẽ không được nhập thổ an nghỉ.
Nhìn chiếc quan tài trơ trọi và hai đứa con gái nhỏ quỳ nép một góc, Triệu nương tử cắn chặt răng, nuốt ngược nước mắt vào trong lòng. Nàng đứng dậy đi vào góc buồng, móc từ trong đáy hũ sành cũ kỹ ra một túi vải nhỏ được bọc kín nhiều lớp. Đó là năm mươi đồng tiền đồng cuối cùng - số tiền mồ hôi nước mắt nàng dành dụm từng cắc từng đồng để phòng khi gia đình đứt bữa.
Cầm số tiền trong tay, Triệu nương tử bước nhanh ra đầu thôn, tìm đến túp lều rách nát của Triệu khùng. Trong lều có một đứa thiếu niên mười sáu tuổi đầu óc ngây ngô ngớ ngẩn, mồ côi cả cha lẫn mẹ, quanh năm chỉ biết đi nhặt nhạnh thức ăn thừa của xóm làng. Triệu nương tử ngồi xổm xuống trước mặt đứa cháu ngốc, xòe bàn tay để lộ năm mươi đồng tiền đồng sáng lấp lánh dưới ánh nắng, dịu giọng nói: “Ngoan, cầm lấy số tiền này đi mua bánh bao ăn; đổi lại, ngày mai cháu sang nhà thím, đội chiếc mũ rơm này, cầm chiếc chậu đất ném vỡ xuống đường rồi đi trước linh cữu chú Đại Sơn một đoạn, có được không?”
Đứa cháu ngốc cả đời chưa từng thấy nhiều tiền đồng đến thế; hai mắt nó sáng rực lên, đưa hai bàn tay đen đúa nắm chặt lấy nắm tiền, gật đầu lia lịa như gà mổ thóc: “Được, được! Đi đập chậu... có tiền mua bánh bao lớn... Đi đập chậu!”
Ba ngày tang lễ trôi qua trong tiếng tụng kinh trầm buồn và tiếng gió rít từng cơn qua mái rạ. Nhờ có năm mươi văn tiền, đứa cháu ngốc đầu thôn làm tròn bổn phận một cách lạ lùng. Suốt dọc con đường đất đưa linh cữu Triệu Đại Sơn ra nghĩa địa sau đồi gò, đứa nhỏ mặc áo rơm gai, vừa đi vừa gõ vào chiếc chậu đất nung đánh cạch cạch; đến ngã ba đường làng, nó dùng hết sức bình sinh đập mạnh chiếc chậu xuống tảng đá ven đường.
Choảng!
Tiếng gốm vỡ tan tành vang dội giữa không gian vắng lặng. Đứa cháu ngốc quỳ sụp xuống bãi cỏ, ngửa cổ lên trời khóc toáng lên rền rĩ: “Chú Đại Sơn ơi là chú Đại Sơn ơi... Sao chú lại bỏ cháu mà đi thế này!” Tiếng khóc rống nghẹn ngào, ai oán của một kẻ ngây ngô lại chân thành và thảm thiết đến mức khiến những người đưa ma trong làng đều phải rơi nước mắt xót xa, thương cho một kiếp người bất hạnh vừa nằm xuống lòng đất lạnh.
Hậu sự chu toàn, nấm mồ đất đỏ của Triệu Đại Sơn đã yên vị dưới chân đồi sim. Thế nhưng, khó khăn chồng chất lại lập tức giáng xuống đầu ba mẹ con góa phụ. Cuối tháng Bảy, vụ gặt lúa mùa đang vào hồi căng thẳng tột độ; mây đen từ phía núi xa bắt đầu ùn ùn kéo về báo hiệu những cơn mưa rào chuyển mùa dữ dội sắp đổ xuống. Hai mẫu ruộng lúa của nhà họ Triệu bông đã chín vàng uốn câu, nếu không nhanh chóng gặt và tuốt hạt phơi khô trong vòng hai ngày tới, thì chỉ cần một trận mưa giông ập đến, toàn bộ thóc lúa sẽ bị ngập úng, nảy mầm thối rữa ngay trên đồng đất. Đó là nguồn lương thực sống còn của cả bốn miệng ăn trong suốt một năm ròng rã sắp tới.
Một mình Triệu nương tử quần quật ngoài đồng từ lúc tờ mờ sáng đến khi tối mịt, hai bàn tay rướm máu vì lưỡi liềm cứa, lưng còng rạp xuống dưới cái nắng hanh khô. Nàng đã gặt xong hai mẫu lúa, chất thành từng đống cao như ngọn đồi nhỏ trên bờ ruộng; nhưng làm sao để tuốt hết số lúa khổng lồ ấy trong khi trong nhà không có lấy một bóng đàn ông khỏe mạnh? Chiếc bồ cào gỗ cũ kỹ đập từng bó lúa chỉ làm rụng được vài hạt lép, sức lực của một người đàn bà gầy yếu làm sao đọ lại với thời gian nghiệt ngã của ông trời?
Đứng giữa cánh đồng lộng gió, nhìn chiếc máy tuốt lúa bằng gỗ của nhà họ Tiêu đang được các hộ dân thay phiên nhau vận hành rào rào ở đằng xa, Triệu nương tử đứng chôn chân một chỗ, lồng ngực thắt lại vì xấu hổ và do dự. Mấy hôm trước, chính nàng đã toan chen ngang mượn máy và bị Từ Chính Hương thẳng thừng từ chối, buông lời cảnh cáo gay gắt. Giờ đây, nàng lấy mặt mũi nào để bước chân sang cầu xin người ta giúp đỡ một lần nữa?
Nhưng nghĩ đến hai đứa con gái thơ dại đang gầy mòn và người mẹ chồng mù lòa đang đói lả trên giường bệnh, Triệu nương tử cắn chặt môi, nuốt hết lòng tự trọng xuống đáy dạ dày. Nàng bước từng bước nặng nề sang nhà Lý chính, xin được ghi tên vào danh sách xếp hàng mượn máy tuốt lúa như một người dân bình thường trong thôn.
Khi đến lượt nhà họ Triệu, trời đã ngả về chiều muộn. Chiếc máy tuốt lúa bằng gỗ được hai tráng đinh khiêng sang đặt ngay giữa khoảng sân đất nện của Triệu gia. Không dám lãng phí một khắc thời gian, Triệu nương tử lập tức thắp hai ngọn đèn dầu đặt ở góc sân, bắt đầu lao vào công việc.
Cạch... rào... rào... rào!
Tiếng bàn đạp gỗ chuyển động nhịp nhàng dưới sức đạp dẻo dai của đôi chân trần; bánh xe tròn gắn những chiếc răng sắt sắc nhọn bắt đầu quay tít mù trong không khí. Từng bó lúa vàng óng được Triệu nương tử đưa vào mép bánh xe; chỉ trong chớp mắt, tiếng hạt thóc va vào tấm chắn gỗ vang lên rào rào như một trận mưa rào mùa hạ. Những hạt thóc mẩy tròn, vàng ruộm bắn tung tóe rồi rơi rụng chất thành từng đống cao ngồn ngộn dưới lòng máng gỗ, để lại những thân rơm rạ sạch bóng không còn sót lại lấy một hạt lép.
Hai đứa nhỏ Đại Hoa và Tiểu Hoa tíu tít chạy lăng xăng, đứa ôm rơm rạ rải ra góc rào, đứa cầm chổi quét dọn những hạt thóc vương vãi gom vào bồ cói. Mồ hôi ướt đẫm manh áo vá của Triệu nương tử, dính bết những sợi tóc mai vào trán, hai bắp chân mỏi nhừ run rẩy; nhưng nhìn đống thóc vàng óng ánh ngày một cao dần lên dưới ánh đèn dầu le lói, đôi mắt trũng sâu của nàng lại ánh lên niềm hy vọng sống mãnh liệt.
Làm việc miệt mài không ngơi nghỉ suốt từ chiều tà xuyên qua màn đêm tĩnh mịch cho đến khi trời hửng sáng ngày hôm sau, toàn bộ hai mẫu lúa của Triệu gia đã được tuốt sạch bách, gọn gàng chất đầy trong tám chiếc bao tải đay to tướng xếp ngay ngắn nơi gian hiên râm mát. Vừa lúc đó, những giọt mưa đầu mùa bắt đầu lộp bộp rơi xuống mái rạ; cả hai mẫu lúa đã được cứu trọn vẹn trong gang tấc!
Triệu nương tử quệt giọt mồ hôi mặn chát trên cằm, nhìn những bao thóc căng tròn mà thở phào một hơi dài nhẹ nhõm. Nàng không hề chợp mắt lấy nửa canh giờ; việc đầu tiên nàng làm sau khi dọn dẹp sân bãi là chọn ra chiếc bao tải đay lành lặn nhất, cẩn thận xúc vào đó đầy ắp những hạt thóc mẩy nhất, vàng óng ả nhất vừa mới tuốt xong. Nàng buộc chặt miệng bao bằng một sợi dây gai chắc chắn, rồi dùng hết sức bình sinh vác bao thóc nặng trĩu lên vai.
Bước chân nàng dứt khoát rảo bước trên con đường làng còn ươn ướt hơi sương sớm, hướng thẳng về phía cổng ngõ nhà họ Tiêu.
Trước sân nhà họ Tiêu, Từ Chính Hương đang cầm chổi quét dọn rơm rạ vương vãi bên cối xay lúa. Nghe tiếng bước chân nặng nề ngoài cổng, bà ngẩng đầu lên, khẽ nhíu mày khi nhìn thấy Triệu nương tử một thân áo xám lấm lem bùn đất, trên vai vác một bao lương thực to tướng đang bước vào sân.
Bịch!
Bao thóc nặng trịch được Triệu nương tử nhẹ nhàng hạ xuống nền sân gạch đánh một tiếng thật êm, không hề làm vương vãi ra ngoài lấy một hạt.
Từ Chính Hương dừng tay chổi, sắc mặt vẫn giữ vẻ lạnh nhạt, thờ ơ xa cách như mọi khi; giọng bà bằng phẳng, không chút gợn sóng: “Triệu nương tử, ngươi vác bao lương thực này sang đây làm gì? Máy tuốt lúa là do Lý chính điều phối cho cả làng mượn theo thứ tự, nhà ta không có thu phí của ai một đồng nào, ngươi mang về đi.”
Triệu nương tử không hề vội vàng phân bua như những lần trước. Nàng đứng thẳng người, đưa hai tay lên chỉnh lại vạt áo tang màu trắng cho ngay ngắn, gạt lọn tóc mai rối bời ra sau vành tai. Rồi trước ánh mắt kinh ngạc của Từ Chính Hương, hai đầu gối của Triệu nương tử từ từ khuỵu xuống nền gạch sân nhà họ Tiêu, quỳ sụp xuống một cách cung kính tuyệt đối.
Nàng dập đầu chạm trán xuống mặt đất, cất giọng nghẹn ngào nhưng từng lời từng chữ đều xuất phát tự đáy lòng: “Tiêu đại tẩu... Bao thóc này là phần lương thực mẹ con thiếp dùng máy tuốt lúa của nhà tẩu mà gặt hái trọn vẹn được; thiếp mang sang đây xin được trả lại phần hao mòn máy móc cho gia đình. Nhưng quan trọng hơn hết thảy... thiếp quỳ ở đây hôm nay là để dập đầu tạ ơn cứu mạng của tẩu!”
Từ Chính Hương khẽ giật mình, chiếc chổi trên tay hơi hạ xuống.
Triệu nương tử ngẩng đầu lên, đôi mắt đỏ hoe ngấn lệ nhìn thẳng vào người chủ mẫu nhà họ Tiêu: “Ngày hôm ấy trước linh cữu của phu quân thiếp, nếu không có Tiêu đại tẩu trượng nghĩa đứng ra quát mắng lũ cướp đất, nếu không có lời nói của tẩu khơi dậy lòng thương cảm của bà con làng xóm... thì ba mẹ con thiếp và mẹ già mù lòa đã bị lũ lang sói ấy xé xác nuốt chửng, tống cổ ra đường chết rấp từ lâu rồi! Đại ân đại đức ấy, đời này kiếp này mẹ con thiếp dẫu có làm trâu làm ngựa cũng không bao giờ dám quên! Trước đây thiếp hẹp hòi, nhiều lần ăn nói xấc xược, ganh ghét đố kỵ với nhà họ Tiêu... hôm nay thiếp xin chịu muôn vàn tội lỗi, cúi đầu tạ tội trước mặt tẩu!”
Nói đoạn, Triệu nương tử lại cúi rạp người xuống, dập đầu thêm hai cái thật mạnh lên nền gạch lạnh, tiếng trán chạm đất vang lên trầm đục giữa không gian ban mai tĩnh lặng.
Nhìn người đàn bà góa bụa trước mặt đã rũ bỏ hoàn toàn nét chua ngoa, nhỏ nhen thường ngày, chỉ còn lại sự kiên cường và lòng biết ơn chân thành của một người mẹ sẵn sàng xả thân vì con, tảng băng lạnh lùng trong lòng Từ Chính Hương bỗng chốc tan biến. Bà thở dài một tiếng thật khẽ, đặt chiếc chổi tựa vào vách tường, bước tới đưa hai bàn tay ấm áp đỡ lấy cánh tay gầy guộc của Triệu nương tử, kéo nàng đứng dậy.
Từ Chính Hương nhìn sâu vào đôi mắt trũng sâu của nàng, giọng nói đã bớt đi vài phần gay gắt, thay vào đó là sự trầm tĩnh của một người từng trải: “Đứng dậy đi; chuyện cũ như gió thoảng mây bay, nhắc lại làm gì nữa cho thêm nặng lòng. Người làng người xóm tối lửa tắt đèn có nhau, thấy chuyện bất bình chẳng tha, đó là lẽ thường tình ở đời. Bao lương thực này nhà ta nhận lấy tấm lòng của ngươi; mau trở về mà lo chăm sóc mẹ già và hai đứa nhỏ cho chu đáo.”
Triệu nương tử gạt vội dòng nước mắt đang lăn dài trên má, khẽ mỉm cười trong sự nghẹn ngào, cúi đầu thi lễ một lần nữa rồi mới quay người cất bước ra về.
Bóng dáng mảnh khảnh của người đàn bà góa chầm chậm bước đi dưới rặng tre làng, vạt áo trắng bay nhè nhẹ trong làn gió sớm mai. Bão giông cướp đất tạm thời lắng xuống, mối hiềm khích nhiều năm giữa hai gia đình đã được cởi bỏ bằng sự bao dung và nghĩa khí xóm giềng. Thế nhưng, nhìn về mái nhà tranh xiêu vẹo nơi cuối ngõ, nơi chỉ còn lại một bà lão mù lòa, một người mẹ góa và hai đứa trẻ thơ dại, con đường phía trước vẫn còn muôn vàn gian nan trắc trở. Thời hạn ba năm thủ hiếu vẫn lơ lửng như một lưỡi dao vô hình; liệu đám thân tộc tham lam họ Triệu có thật sự buông tha cho hai mẫu ruộng phì nhiêu ấy, hay chúng chỉ đang tạm thời lùi bước để chờ đợi một cơ hội tàn độc hơn?

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta Tiên Hiệp 14

Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Nữ Thần Diễn Xuất Ngôn Tình 7

Nữ Thần Diễn Xuất

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.
Thế Giới Nhỏ Ngôn Tình 12

Thế Giới Nhỏ

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.
Ta Bày Sạp Bói Dạo Ở Thế Giới Song Song Đô Thị HOT 17

Ta Bày Sạp Bói Dạo Ở Thế Giới Song Song

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Lại Trán Mai Ngôn Tình 9

Lại Trán Mai

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Phong Thần Châu Tiên Hiệp HOT 26

Phong Thần Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 18 ch.