Chương 32: Nỗi Nhục Khó Rửa Và Bóng Tối Nhà Họ Triệu
Nắng chiều vàng rực trải dài trên con đường làng thôn Thanh Sơn. Tiếng trục gỗ quay tít mù hòa cùng tiếng lúa va đập rào rào, rào rào không ngớt trong khoảng sân rộng nhà họ Tiêu. Tiêu Mộc ngồi trên ghế thấp, đôi chân rắn rỏi đều đặn nhấn bàn đạp gỗ; bánh đà chuyển động vun vút, cuốn theo từng bó lúa chín vàng óng ả. Diệp Lạc Hân nhanh nhẹn đưa từng lọn lúa áp sát vào nan răng; chỉ trong chớp mắt, những hạt thóc mẩy tròn đã thi nhau bắn tung tóe vào lòng máng chắn hình thuyền, rụng xuống thành từng đống vàng ươm. Nhờ có cỗ máy tuốt lúa kỳ diệu ấy, chỉ đến chiều muộn ngày hôm sau, toàn bộ số lúa vụ mùa chất ngổn ngang của gia đình Từ Chính Hương đã được tuốt sạch bách, không sót lại một hạt.
Những bó rơm rạ khô ráo được Tiêu Tùng và Tiêu Trường Hà nhanh tay chất lại thành từng ụ cao ngất ngưởng bên hông nhà; toàn bộ mặt sân gạch sạch sẽ đều được tận dụng tối đa để phơi thóc mới. Mùi hương ngai ngái, ngọt lành của lúa vừa gặt thoang thoảng bay khắp ngõ xóm. Vợ Lý chính tay xách chiếc rổ tre đi ngang qua cổng, vừa ngước mắt nhìn vào đã giật nảy mình, đánh rơi cả củ khoai lang luộc xuống đất. Bà ta bước vội vào sân, ngơ ngác đảo mắt nhìn đống thóc đồ sộ rồi cất giọng the thé ngạc nhiên: "Trời đất ơi, sao nhà các người làm ăn nhanh như gió cuốn thế này; mới mấy hôm trước số lúa gặt về còn chưa bằng một nửa nhà ta cơ mà?"
Từ Chính Hương đang cầm chổi quét những cọng rơm vụn trên sân, nghe thấy thế liền ngẩng đầu lên, nét mặt rạng rỡ đầy hãnh diện. Bà vỗ vỗ vào thành gỗ của chiếc máy, cất tiếng cười giòn giã: "Đều nhờ vào cái cỗ máy đạp chân này cả đấy; con dâu thứ hai nhà ta vẽ kiểu, thằng hai thằng ba hì hục đóng mất mấy ngày; tuốt lúa nhanh gấp năm gấp mười lần đập đá!" Vợ Lý chính nghe xong hai mắt sáng rực, vội vàng chạy về nhà gọi đứa con trai lớn sang, xúm tay mượn ngay cỗ máy về dùng thử. Chuyện nhà Tiêu Trường Hà có bảo bối tuốt lúa thần kỳ chỉ trong nửa ngày đã truyền khắp cả thôn Thanh Sơn; người già, trẻ nhỏ, bà con lối xóm nườm nượp kéo đến xem chật ních cả cổng.
Thời điểm cuối tháng Bảy sang đầu tháng Tám vốn là những ngày nông dân bận rộn đến thắt ruột thắt gan; ban ngày vừa phải đội nắng chang chang phơi khô lúa mùa sớm để đóng bồ cất giữ, ban đêm lại phải tranh thủ cày bừa để cấy gấp lúa vụ hai xuống ruộng nước. Ai nấy đều thiếu nhân lực, tay chân nứt nẻ, lưng đau như gãy. Những người dân làng ngày thường ít khi qua lại cũng lục tục mang biếu củ khoai, mớ rau ghé sang lấy lòng Từ Chính Hương, khẩn khoản xin mượn chiếc máy về nhà dùng tạm một hôm. Thấy bà con dồn dập đến nài nỉ, Tiêu Trường Hà vốn là người chất phác, hào sảng; ông liền bàn bạc với vợ rồi bước ra cổng tuyên bố rành rọt: cỗ máy này làm ra là để đỡ đần sức người, gia đình ông không giữ làm của riêng; nhưng để tránh chuyện tranh giành mất lòng chòm xóm, ông giao quyền phân chia cho Lý chính; ai muốn mượn cứ sang nhà Lý chính bốc số thứ tự, tới lượt nhà ai thì người đó dắt xe sang khiêng máy về.
Trong dòng người chen chúc đứng ngóng trông bên hàng rào nhà họ Tiêu, có một bóng dáng phụ nữ gầy guộc, tiều tụy đứng nép mình sau gốc cây hòe. Đó là Triệu nương tử. Gia cảnh nhà nàng ở cuối thôn cùng cực đến mức không ai muốn nhắc tới; trượng phu Triệu Đại Sơn vào mùa thu năm ngoái không may trượt chân ngã từ trên vách núi gãy lìa xương cẳng chân, nằm liệt giường teo tóp suốt cả một năm ròng rã. Bao nhiêu ruộng cằn, đồ đạc trong nhà đều lần lượt bị đem bán lấy tiền mua thuốc thang; giờ đây cả gia đình chỉ còn trông cậy vào hai mẫu ruộng phì nhiêu màu mỡ ngoài bãi bồi. Lúa gặt về chất đống ngoài sân đất ẩm ướt, nhưng không có đàn ông khỏe mạnh vung chày đập lúa, thóc đã bắt đầu có dấu hiệu ủ men bốc mùi chua nồng.
Triệu nương tử đánh bạo bước qua ngạch cửa, đôi bàn tay đen đúa nắm chặt vạt áo vải thô chắp vá chằng chịt, cất giọng rụt rè van nài: "Thím Tiêu... thím cho nhà cháu mượn chiếc máy dùng trước nửa buổi được không... chân Đại Sơn nhà cháu đau nhức quá, hai đứa nhỏ lại sức yếu không đập nổi..." Từ Chính Hương vừa quay người lại, thoáng nhìn thấy gương mặt hốc hác của Triệu nương tử thì nụ cười trên môi lập tức tắt ngấm. Bà nhớ tới những lời đồn thổi nhơ nhuốc ngoài làng bấy lâu nay về việc người đàn bà này có quan hệ mờ ám với đám đàn ông buôn chuyến, liền sa sầm nét mặt. Từ Chính Hương buông thừng cột rơm xuống đất cái cộp, giọng nói trở nên lạnh tanh: "Lý chính đã định ra quy củ rồi, ai muốn mượn thì sang bên ấy mà xếp lượt; nhà họ Tiêu chúng ta là người đàng hoàng, không chứa chấp chuyện chen ngang lộn xộn; ngươi mau về đi, đừng đứng đây làm vướng bận lối đi của người khác!"
Những lời xua đuổi cạn tình cạn nghĩa như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Triệu nương tử giữa trưa hè oi ả. Xung quanh, mấy bà hàng xóm bắt đầu liếc mắt nhìn nhau rồi xì xào chỉ trỏ; những ánh mắt khinh miệt, châm chọc dồn dập đổ dồn về phía nàng. Triệu nương tử cắn chặt bờ môi khô nứt đến mức ứa máu tanh tưởi; nàng không dám ngẩng đầu, lẳng lặng quay gót bước nhanh ra khỏi ngõ, nước mắt tủi nhục trào ra lăn dài trên đôi gò má xám ngoét.
Về đến túp lều tranh xiêu vẹo ở góc cuối làng, đập vào mắt nàng là cảnh tượng thắt lòng thắt ruột. Dưới cái nắng gắt ban trưa nung đốt mặt đất nứt nẻ, hai đứa con gái nhỏ Đại Hoa và Tiểu Hoa đang còng lưng dùng những đoạn cành cây nhỏ đập thùm thụp, thùm thụp vào từng bó lúa rải rác trên nền đất. Tiếng đập lúa yếu ớt, rời rạc; mồ hôi nhễ nhại làm bết dính những lọn tóc cháy nắng vào trán hai đứa trẻ. Bàn tay nhỏ xíu của Tiểu Hoa đã đỏ ửng, trầy da tưa máu; nhưng đứa bé chỉ dám mím môi, không dám kêu than nửa lời.
Ngồi trên bậu cửa gỗ mục nát ngoài hiên là Triệu Tiền thị - người mẹ chồng mù lòa hai mắt của nàng. Bà lão ngồi tựa lưng vào vách đất, hai hốc mắt sâu hoắm đảo qua đảo lại vô hồn, đôi tai dỏng lên nghe tiếng bước chân ngoài cổng. Vừa ngửi thấy mùi gió lay động vạt áo quen thuộc, Triệu Tiền thị liền đập mạnh chiếc gậy tre xuống nền đất nghe chan chát, cất giọng the thé the thé chửi rủa rền rĩ: "Cái đồ sao chổi táng tận lương tâm kia, rốt cuộc ngươi đã đi đực ở đâu cả buổi sáng nay mới chịu vác cái mặt về hả; chiếm hố phân mà không chịu đẻ trứng, bao nhiêu năm chỉ rặn ra hai cái thứ của nợ vịt trời vô tích sự; lại còn khắc chết cái chân của con trai ta; trời cao đất dày ơi, sao kẻ gãy chân liệt giường không phải là cái thứ đàn bà lăng loàn như ngươi chứ!"
Những lời nguyền rủa cay nghiệt ấy Triệu nương tử đã phải nuốt vào trong suốt một năm qua đến mức chai sạn cõi lòng. Nàng không hé răng cãi lại nửa lời, chỉ lẳng lặng bước qua sân, dịu dàng xoa đầu hai đứa con thơ rồi bảo chúng ngồi nghỉ dưới bóng râm gốc ổi. Nàng vén tạp dề bước vào gian bếp chật hẹp nồng nặc mùi tro than; mở nắp nồi đất sứt mẻ, nàng gắp ra một nắm rau rừng già luộc nhạt thếch, với tay mở hũ sành múc ra một củ cải muối khô khốc, dùng con dao cùn băm nhỏ rồi trộn đều vào bát gỗ.
Triệu nương tử bưng bát rau vào căn buồng trong tối tăm, ngột ngạt. Không khí trong phòng đặc quánh mùi thuốc nam thiu thối lẫn với mùi ẩm mốc của đống chăn chiếu cũ rách. Trên chiếc phản gỗ ọp ẹp kê sát vách đất, Triệu Đại Sơn nằm cong queo như một xác chết khô; chiếc chân phải của chàng sưng vù, tím bầm, những vết lở loét bắt đầu rỉ nước vàng tanh nồng. Nghe tiếng bước chân thê tử, Triệu Đại Sơn khó nhọc mở hé đôi mắt đục ngầu, hơi thở khò khè đứt quãng. Nàng ngồi xuống mép giường, cẩn thận luồn tay đỡ lưng chồng tựa vào vách nứa, run rẩy bưng thìa rau muối đưa đến tận miệng chàng: "Đại Sơn... chàng ráng ăn chút rau rừng lót dạ... nuốt lấy một miếng cho có sức..."
Triệu Đại Sơn nhìn vào bát canh rau lạnh ngắt, cổ họng nghẹn ứ; từng cơn đau buốt từ khớp xương gãy truyền thẳng lên óc khiến chàng rùng mình run lẩy bẩy. Chàng gắng gượng cắn được một cọng dưa muối mặn chát, nhưng rồi dạ dày cuộn lên từng cơn buồn nôn dữ dội; chàng lắc đầu quầy quậy, khó nhọc cất tiếng thì thào: "Ta... ta không nuốt nổi đâu... nàng đừng nhọc lòng nữa..." Triệu nương tử nhìn gương mặt hốc hác, đôi môi khô khốc nứt nẻ của trượng phu, nước mắt lại ứa ra như chuỗi ngọc đứt chỉ. Nàng nhẹ nhàng đỡ chàng nằm xuống, kéo tấm chăn bông vá víu đắp ngang bụng cho chàng, rồi cắn môi quay sang phía bà mẹ chồng mù đang lần mò chống gậy bước vào buồng.
Nuốt ngược tiếng nấc nghẹn vào lồng ngực, Triệu nương tử quỳ gối bên mép phản, cất giọng van nài tha thiết: "Nương... con thấy vết thương ở chân của Đại Sơn ngày càng sưng to thối rữa; nếu cứ để thế này thì chàng không sống nổi qua mùa đông đâu... Chi bằng nhà ta bán nốt hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài bãi bồi đi; lấy dăm ba lượng bạc đưa chàng lên huyện thành tìm đại phu giỏi nhất bốc thuốc cứu mạng..."
Chữ "bán ruộng" vừa thốt ra khỏi miệng, Triệu Tiền thị như bị sét đánh trúng tim đen. Bà lão mù nhảy dựng lên như con thú hoang giẫm phải than hồng, vung mạnh chiếc gậy tre gõ loảng xoảng vào chân phản; cánh tay gầy guộc như cành củi khô quờ quạng chộp lấy chiếc bát gỗ đựng cọng dưa thừa trên tay con dâu, dằn mạnh hắt thẳng vào mặt nàng. Nước dưa mặn chát lẫn cọng rau rách nát văng tung tóe lên trán, chảy ròng ròng xuống cằm Triệu nương tử; nhưng nàng không hề né tránh, chỉ trân trân quỳ im đón nhận.
Triệu Tiền thị nghiến răng ken két, ngón tay run rẩy chĩa thẳng vào sống mũi con dâu mà gầm rít thóa mạ: "Bán ruộng... lại đòi bán ruộng; tổ tiên nhà họ Triệu tích cóp được mười mấy mẫu ruộng màu mỡ đã bị cái thứ sao chổi nhà ngươi lừa bán sạch sành sanh; giờ chỉ còn trơ trọi hai mẫu đất hương hỏa màu mỡ cuối cùng, ngươi cũng muốn tước đoạt nốt hay sao; có phải ngươi tính bán hết đất cát lấy tiền rồi phủi đít dắt díu nhau đi theo cái thằng dã phu khốn nạn ngoài làng của ngươi không hả!"
Trước ánh mắt trừng trừng hoảng hốt và đau đớn của Triệu Đại Sơn trên giường bệnh, từng lời thóa mạ của mẹ chồng như ngọn lửa thiêu đốt lòng tự trọng của Triệu nương tử; mặt nàng đỏ bừng rồi lại trắng bệch, lồng ngực đập thình thịch liên hồi. Nàng nghẹn giọng cất lời phản bác: "Nương... người là phận bề trên... sao người lại có thể ngậm máu phun người, ăn nói hồ đồ bừa bãi như thế!"
Triệu Tiền thị cười khẩy một tiếng ghê rợn, ngửa mặt lên trần nhà gào thét mất hết thể diện: "Lão thái bà này mắt mù nhưng mũi không có điếc; cái mùi lẳng lơ tanh tưởi của ngươi ta đứng cách mười dặm còn ngửi thấy rành rành; từ ngày Đại Sơn gãy chân nằm liệt một chỗ, ngươi đã bắt đầu lén lút lượn lờ ra ngoài dụ dỗ đàn ông; hôm nay ta nói cho ngươi biết, hai mẫu ruộng này là gốc rễ của dòng họ Triệu, ai dám động vào một tấc đất thì bước qua xác chết của ta trước!"
Triệu Đại Sơn nằm trên phản, từng lời cãi cọ nhục nhã đập chan chát vào tai khiến chàng đau đớn đến mức hai mắt đỏ ngầu, móng tay cào rách cả chiếu cói rách bươm. Chàng thở hắt ra từng hơi dồn dập, cất giọng khản đặc đắng cay: "Nương... đừng nói nữa... con van nương... Ruộng đất tuyệt đối không được bán; bán hết ruộng rồi thì mẹ con nàng lấy gì mà bỏ vào mồm; cái chân này của con... đằng nào cũng là thứ phế thải vứt đi... không cần chữa trị làm gì nữa..." Triệu nương tử vội vàng nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của chồng, nức nở lắc đầu: "Nhưng thiếp không thể trơ mắt nhìn chàng nằm đây chịu thống khổ đến chết được!"
Triệu Tiền thị bĩu môi, dằn mạnh từng tiếng lạnh lùng tàn nhẫn: "Ruộng không được bán; nhưng chân của con trai ta cũng nhất định phải chữa; hai cái đứa vịt trời ăn hại ngoài kia nuôi tốn cơm tốn gạo ngần ấy năm, giờ là lúc chúng nó phải báo đáp công ơn dòng họ này rồi; sáng ngày mai ngươi ra đầu làng tìm mụ nha tử về đây, không cần biết là đứa lớn hay đứa nhỏ, cứ bán phắt đi một đứa lấy dăm ba lượng bạc; vừa có tiền thuốc thang cho cha nó, lại vừa bớt đi một cái mồm ăn chực!"
Nghe đến hai chữ "bán con", Triệu nương tử như bị một nhát dao đâm xuyên qua tim. Đó chính là nỗi kinh hoàng tột độ mà nàng luôn nơm nớp lo sợ bấy lâu nay. Bản năng của người làm mẹ khiến nàng vụt đứng dậy, hai mắt long lên sòng sọc, kiên quyết gạt phắt đi: "Không được; tuyệt đối không thể bán con; hai đứa nhỏ đều đã biết làm lụng đỡ đần việc nhà, từ sáng tới tối chỉ ăn rau dại sống qua ngày, chúng có tội tình gì mà người nỡ lòng đem bán chúng vào chốn hang hùm miệng cọp; ta nói cho nương biết, con còn sống một ngày thì không ai được phép đụng tới một sợi tóc của chúng nó!"
Ngoài khoảng sân đầy nắng, hai đứa trẻ Đại Hoa và Tiểu Hoa đã buông rơi cành cây từ lúc nào; từng câu từng chữ tàn nhẫn của người lớn vọng ra từ buồng tối đều đập rõ mồn một vào đôi tai non nớt. Tiểu Hoa sợ hãi níu chặt lấy vạt áo chị, nước mắt ràn rụa lã chã rơi xuống nền đất, cất tiếng thì thào run rẩy: "Tỷ ơi... muội sợ lắm... muội không muốn bị bán đi đâu..." Đại Hoa cắn chặt răng đến bật máu, đứa bé mười tuổi run run đưa bàn tay gầy gò thô ráp lên lau nước mắt cho em, nghẹn ngào vỗ về: "Tiểu Hoa đừng khóc... có nương bảo vệ chúng ta rồi... ngộ nhỡ... ngộ nhỡ bà nội nhất quyết đòi bán, tỷ sẽ xin đi thay muội... tỷ sẽ bảo người ta bắt tỷ đi..." Tiểu Hoa ôm chặt lấy cổ chị, nức nở lắc đầu lia lịa: "Không được... muội muốn ở với tỷ tỷ... muội không cho ai bắt tỷ đi đâu..." Hai đứa trẻ tội nghiệp ôm lấy nhau khóc thút thít giữa đống lúa ngổn ngang, tiếng khóc nghẹn ngào chìm nghỉm dưới cái nắng oi nồng của buổi trưa hè.
Trong buồng, Triệu Tiền thị điên cuồng vung gậy quát tháo ầm ĩ: "Ngươi là cái thá gì mà dám lên giọng chống đối ta; con cháu mang họ Triệu là tài sản của cái nhà này, một người đàn bà lăng loàn như ngươi chưa có tư cách mở mồm làm chủ!"
Tất cả sự dồn nén, uất ức và tủi nhục tích tụ suốt ba trăm sáu mươi ngày đêm đen tối bỗng chốc bùng nổ như núi lửa phun trào. Triệu nương tử không nhịn được nữa; nàng ngửa mặt cười vang một tràng the thé rồi gào lên trong làn nước mắt ràn rụa: "Làm chủ ư; nương mở mắt ra mà nhìn xem; suốt một năm qua Đại Sơn nằm liệt giường bất động, mẹ con già trẻ các người ăn cái gì, uống cái gì, thuốc men tiền bạc từ đâu chui ra; nếu không có người đàn bà này cắn răng nuốt nhục, đem thân xác nhơ nhớp này đi ngủ với đàn ông ngoài làng kiếm từng đồng từng cắc đem về, thì cả cái nhà họ Triệu này đã chết rấp, thối thây từ lâu rồi; ta nuôi các người sống sót, ta dựa vào đâu mà không có quyền bảo vệ con gái ta!"
Triệu Tiền thị há hốc mồm, chiếc gậy tre trên tay rơi tuột xuống đất đánh cộp một tiếng khô khốc. Bà ta run rẩy chỉ tay vào mặt con dâu, lắp bắp không thành tiếng: "Ngươi... ngươi thật sự dám thừa nhận... cái đồ tiện nhân không biết liêm sỉ..." Triệu nương tử gạt phắt nước mắt, gằn từng tiếng xé ruột xé gan: "Ta không biết liêm sỉ đấy; nhưng nhờ thứ không biết liêm sỉ ấy mà các người mới có cơm cháo nhét vào mồm; không có ta bán thân thì các người đã thành một đống xương tàn dưới ba tấc đất rồi!"
Một tiếng thét gào tuyệt vọng, khản đặc và thê lương đột ngột xé toạc căn buồng u tối: "Đủ rồi... câm miệng hết đi..." Triệu Đại Sơn nằm trên phản, lồng ngực phập phồng dữ dội như muốn nổ tung; hai mắt chàng trợn trừng đỏ quạch, những giọt nước mắt đục ngầu, cay đắng lăn dài trên đôi gò má hốc hác, chảy tràn vào khóe miệng đắng ngắt. Sự thật trần trụi và nhơ nhuốc bị phơi bày ngay trước mặt khiến lòng tự trọng của một đấng nam nhi hoàn toàn vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh găm vào tim. Chàng cắn chặt môi đến bật máu tươi, run rẩy gục đầu xuống gối, không thốt thêm được một lời nào nữa. Cả gian phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc, rợn người. Triệu nương tử lau vội dòng lệ nhạt nhòa, quay lưng bước nhanh ra khỏi buồng, ôm chặt lấy hai đứa con nhỏ ngoài sân mà nấc nghẹn từng cơn.
Màn đêm dần dần buông xuống thôn Thanh Sơn, bao trùm lên túp lều tranh xiêu vẹo một màu đen kịt, lạnh lẽo. Không gian tĩnh mịch đến rợn người, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe liếp nứa và tiếng côn trùng rỉ rả buồn bã bên bờ tường đất. Cả căn nhà im ắng lạ thường; Triệu Tiền thị sau trận cãi vã đã mệt lả thiếp đi ở góc thềm; ba mẹ con Triệu nương tử ôm nhau ngủ mê mệt nơi chái bếp sau một ngày dài kiệt sức.
Trong góc buồng tối đen như mực, Triệu Đại Sơn vẫn mở trừng trừng hai mắt nhìn lên nóc nhà tranh mục nát. Từng lời nói của thê tử, từng tiếng chửi rủa cay độc của mẹ già như những nhát búa tạ liên tục nện vào tâm can chàng. Người vợ mà chàng từng yêu thương, trân trọng đã phải chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề, bán rẻ thân xác để kiếm từng bát thuốc cứu mạng chàng; hai đứa con thơ dại máu mủ ruột rà sắp sửa bị tống vào tay phường buôn người; còn mảnh đất hương hỏa duy nhất của tổ tiên thì đứng trước nguy cơ tiêu tán sạch trơn. Chàng hiểu rõ mười mươi: nguồn cơn của mọi đau khổ, nhục nhã và lầm than này chỉ xuất phát từ một nguyên do duy nhất - đó là tấm thân tàn phế, vô dụng của chàng. Chừng nào chàng còn thoi thóp nằm đây ăn bám, thì gia đình này sẽ còn tiếp tục chìm sâu vào vũng bùn ô uế không lối thoát.
Nghĩ đến đó, một quyết định lạnh lùng và dứt khoát lóe lên trong đầu người đàn ông bất hạnh. Triệu Đại Sơn cắn chặt góc chăn để không phát ra một tiếng rên rỉ nhỏ nào; chàng gồng hết chút sức tàn nơi hai cánh tay chai sạn, bấu chặt vào mép phản gỗ mọt rồi từ từ kéo lê thân mình trườn xuống nền đất lạnh buốt. Từng tấc, từng tấc một... chiếc chân gãy gập vụn cọ xát vào mặt đất nham nhở làm chàng đau đớn đến run lẩy bẩy, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm manh áo rách. Chàng kiên trì bò trong bóng tối, hướng về góc tối nơi chân chạn bát - chỗ đặt chiếc hũ sành màu da lươn đựng thuốc trừ sâu mà chàng đã cẩn thận mua từ đầu mùa xuân để chuẩn bị phòng sâu bọ cho hai mẫu lúa phì nhiêu.
Bàn tay gầy guộc run rẩy sờ soạng trúng miệng hũ sành. Chàng cạy tung lớp nút lá chuối khô; một mùi hôi nồng nặc, cay xè và ngai ngái xộc thẳng lên sống mũi. Triệu Đại Sơn khẽ ngoái đầu nhìn về phía chái bếp - nơi ba mẹ con thê tử đang say ngủ; khóe mắt chàng lại ứa ra hai giọt lệ nóng hổi đắng cay. Chàng ngửa cổ, dốc thẳng miệng hũ sành vào cổ họng, nuốt ừng ực từng ngụm chất lỏng đen ngòm, cay xé. Chất độc ngấm nhanh như ngọn lửa thiêu đốt dạ dày, ruột gan chàng quặn thắt lại dữ dội, bọt mép trào ra tanh tưởi; hai bàn tay chàng cào cấu cấu xé xuống nền đất bùn. Nhưng chàng nghiến chặt hai hàm răng ken két, quyết không để bật ra một tiếng kêu rên; cho đến khi cả thân hình co giật mạnh rồi mềm oặt buông thõng, đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, chấm dứt một kiếp người cùng quẫn.
Đến nửa đêm canh ba, tiếng gào khóc thất thanh của Triệu Tiền thị bỗng nhiên xé toạc màn đêm tĩnh mịch của cả thôn làng: "Con ơi... Đại Sơn ơi... sao người con lạnh ngắt thế này... trời cao có mắt ơi, sao con lại nghĩ quẩn dại dột thế này hả con ơi!" Tiếng khóc than ai oán, thê lương như xé vải vang vọng khắp xóm thôn khiến những đàn chó trong làng sủa ran từng chặp; ánh đuốc lập lòe bắt đầu sáng lên từ các nếp nhà lân cận.
Gia đình Tiêu Trường Hà ở cách đó một bờ rào cũng choàng tỉnh giấc giữa cơn say ngủ. Tiêu Trường Hà vội vàng khoác áo tơi mở toang cánh cổng tre chạy bổ sang; Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc cũng hối hả nối gót theo sau. Khi bước chân vào gian buồng tranh rách nát, một cảnh tượng thảm khốc đập thẳng vào mắt mọi người: thi thể Triệu Đại Sơn nằm cong queo trên nền đất ẩm mốc, đôi mắt trợn trừng trắng dã không tài nào nhắm lại được, bên cạnh là chiếc hũ sành thuốc sâu vỡ toang, mùi hóa chất nồng nặc bốc lên sực nức cả gian phòng.
Hai đứa trẻ Đại Hoa và Tiểu Hoa quỳ rạp dưới chân cha, ôm lấy đôi bàn chân lạnh ngắt thâm tím mà khóc lóc thảm thiết, tiếng nấc xé lòng xé ruột làm những người hàng xóm chứng kiến không ai cầm được nước mắt. Triệu Tiền thị ngồi bệt dưới đất đấm ngực thùm thụp, vừa khóc vừa réo tên con dâu ra nguyền rủa: rằng chính cái đồ sao chổi táng tận lương tâm kia đã khắc chết con trai bà, làm ô uế thanh danh gia đình. Trong khi đó, Triệu nương tử ngồi chết lặng nơi góc tường tối tăm; nàng không khóc, không than van một lời, đôi mắt vô hồn nhìn trừng trừng vào thi thể trượng phu, toàn thân bất động như pho tượng đá đã bị rút cạn toàn bộ sinh khí.
Trời vừa rạng sáng, sương mù dày đặc còn bảng lảng giăng mắc khắp ngõ ngách thôn Thanh Sơn. Lý chính tay chống gậy vội vã bước vào sân, nhìn cảnh tượng hoang tàn, tang tóc mà chỉ biết lắc đầu thở dài sườn sượt. Thấy gia cảnh nhà họ Triệu trống trơn không có nổi một đồng dính túi, Lý chính liền bàn bạc với Tiêu Trường Hà và bà con chòm xóm gom góp tiền bạc; ông đích thân cử người chạy ra đầu thôn đặt mua một cỗ quan tài đóng bằng ván gỗ mỏng đem về khâm liệm cho người xấu số. Một người hàng xóm tốt bụng kiếm đâu được tấm vải bạt rách đem vào đắp tạm lên thân thể bất động của Triệu Đại Sơn.
Đứng giữa sân nhìn quanh quất, Lý chính cau mày cất giọng trầm ngâm với Tiêu Trường Hà: "Đại Sơn mất đi khi chưa có mụn con trai nào nối dõi tông đường; theo tục lệ từ xưa của làng ta, lúc phát tang và hạ huyệt bắt buộc phải có người cầm gậy đập chậu; chuyện này không thể chậm trễ, phải cử người sang thôn bên cạnh mời người anh họ ruột của nó là Triệu Đại Hà sang đây chủ trì tang sự mới mong linh hồn người chết được yên ổn." Dân làng nghe vậy đều gật đầu đồng thuận; một thanh niên trong xóm lập tức nhận lời chạy sang thôn bên đưa tin.
Đến đầu giờ Thìn, Triệu Đại Hà vội vã chống gậy sang tới nơi. Hắn trạc bốn mươi tuổi, dáng người phốp pháp, mặc chiếc áo vải thô màu xám tro còn khá mới. Vừa bước chân qua cánh cổng tre xiêu vẹo, hắn không hề chạy vội vào buồng để thắp một nén nhang cho người em họ xấu số hay cất lời an ủi bà thím mù lòa đang than khóc; ngược lại, đôi mắt hí ti hí của hắn đảo quanh quất một vòng từ trước ra sau. Hắn ngắm nghía khoảng sân phơi rộng rãi, săm soi dàn cột gỗ lim tuy đã ngả màu nhưng vẫn còn vững chãi của căn nhà ba gian; rồi phóng tầm mắt nhìn ra phía hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài bãi bồi ven sông, khóe miệng hắn khẽ giật giật, lộ rõ vẻ toan tính và hài lòng khôn tả.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo ngoài hiên, Triệu Tiền thị như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc gỗ; bà lão mù lòa quờ quạng đôi bàn tay gầy gò túm chặt lấy ống tay áo Triệu Đại Hà, kéo giật hắn vào một góc khuất chái nhà. Bà lão hạ thấp giọng, vừa khóc sụt sùi vừa rít qua kẽ răng đầy vẻ căm hờn: "Đại Hà ơi... em họ của con mệnh khổ quá con ơi; nó còn trẻ thế mà đã bị cái con tiện nhân rước từ ngoài về khắc chết tươi; hôm nay con là đích tôn của chi họ Triệu, con phải đứng ra làm chủ mối thù này cho em con; tống khứ ngay con đàn bà sao chổi độc ác ấy ra khỏi cổng nhà họ Triệu, không được cho nó tơ hào một hạt thóc hay một tấc đất nào của tổ tiên để lại!"
Nghe những lời xúi giục ấy, lòng dạ Triệu Đại Hà mừng rỡ như mở cờ trong bụng; đó chính là điều mà hắn thèm thuồng nhất bấy lâu nay. Nhưng ngoài mặt, hắn vẫn làm bộ làm tịch thở dài sườn sượt, ra vẻ đắn đo ngập ngừng: "Thím à... Đại Sơn vừa mới nằm xuống lạnh ngắt kia, mồ mả còn chưa kịp xanh cỏ; giờ mà chúng ta vội vã đuổi góa phụ và hai đứa cháu gái đi biệt xứ, con sợ dân làng Thanh Sơn dị nghị chê cười; rồi dưới suối vàng, linh hồn Đại Sơn nó lại oán trách con thì tội chết..."
Triệu Tiền thị nghiến chặt hai hàm răng rụng gần hết, giọng điệu trở nên độc địa, tàn nhẫn đến ghê người: "Oán trách cái nỗi gì; nếu không phải tại con tiện nhân đó thì con trai ta đâu có chết thảm thế này; ta chỉ hận không thể lột da xẻ thịt nó đền mạng cho con ta!" Bà lão mù ghé sát tai Triệu Đại Hà, thì thào dặn dò từng tiếng lạnh buốt: "Chuyện Đại Sơn uống thuốc trừ sâu tự vẫn tuyệt đối phải giấu kín như bưng; người tự sát là phường hèn hạ, mang tội bất hiếu với tổ tiên, chết đi sẽ bị người đời khinh bỉ phỉ nhổ vào mặt; con cứ việc rêu rao với làng xóm rằng nó phát bệnh cũ mà qua đời; sau khi chôn cất xong xuôi, con cứ lấy danh nghĩa trưởng họ đuổi cổ mẹ con nó đi; toàn bộ căn nhà này và hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài kia, ta giao trọn cho con cai quản!"
Cơn gió lạnh ban sớm khẽ lùa qua khe cửa liếp, làm lay động vạt áo rách rưới của Triệu nương tử vẫn đang ngồi hóa đá bên cỗ quan tài gỗ mỏng thô sơ. Triệu Đại Hà khẽ nheo đôi mắt lươn lại, bàn tay vỗ vỗ lên mu bàn tay gầy trơ xương của bà thím mù, trong lòng đã tính toán xong xuôi từng bước thôn tính mảnh đất sinh nhai cuối cùng của ba mẹ con góa phụ tội nghiệp.
Nắng chiều vàng rực trải dài trên con đường làng thôn Thanh Sơn. Tiếng trục gỗ quay tít mù hòa cùng tiếng lúa va đập rào rào, rào rào không ngớt trong khoảng sân rộng nhà họ Tiêu. Tiêu Mộc ngồi trên ghế thấp, đôi chân rắn rỏi đều đặn nhấn bàn đạp gỗ; bánh đà chuyển động vun vút, cuốn theo từng bó lúa chín vàng óng ả. Diệp Lạc Hân nhanh nhẹn đưa từng lọn lúa áp sát vào nan răng; chỉ trong chớp mắt, những hạt thóc mẩy tròn đã thi nhau bắn tung tóe vào lòng máng chắn hình thuyền, rụng xuống thành từng đống vàng ươm. Nhờ có cỗ máy tuốt lúa kỳ diệu ấy, chỉ đến chiều muộn ngày hôm sau, toàn bộ số lúa vụ mùa chất ngổn ngang của gia đình Từ Chính Hương đã được tuốt sạch bách, không sót lại một hạt.
Những bó rơm rạ khô ráo được Tiêu Tùng và Tiêu Trường Hà nhanh tay chất lại thành từng ụ cao ngất ngưởng bên hông nhà; toàn bộ mặt sân gạch sạch sẽ đều được tận dụng tối đa để phơi thóc mới. Mùi hương ngai ngái, ngọt lành của lúa vừa gặt thoang thoảng bay khắp ngõ xóm. Vợ Lý chính tay xách chiếc rổ tre đi ngang qua cổng, vừa ngước mắt nhìn vào đã giật nảy mình, đánh rơi cả củ khoai lang luộc xuống đất. Bà ta bước vội vào sân, ngơ ngác đảo mắt nhìn đống thóc đồ sộ rồi cất giọng the thé ngạc nhiên: "Trời đất ơi, sao nhà các người làm ăn nhanh như gió cuốn thế này; mới mấy hôm trước số lúa gặt về còn chưa bằng một nửa nhà ta cơ mà?"
Từ Chính Hương đang cầm chổi quét những cọng rơm vụn trên sân, nghe thấy thế liền ngẩng đầu lên, nét mặt rạng rỡ đầy hãnh diện. Bà vỗ vỗ vào thành gỗ của chiếc máy, cất tiếng cười giòn giã: "Đều nhờ vào cái cỗ máy đạp chân này cả đấy; con dâu thứ hai nhà ta vẽ kiểu, thằng hai thằng ba hì hục đóng mất mấy ngày; tuốt lúa nhanh gấp năm gấp mười lần đập đá!" Vợ Lý chính nghe xong hai mắt sáng rực, vội vàng chạy về nhà gọi đứa con trai lớn sang, xúm tay mượn ngay cỗ máy về dùng thử. Chuyện nhà Tiêu Trường Hà có bảo bối tuốt lúa thần kỳ chỉ trong nửa ngày đã truyền khắp cả thôn Thanh Sơn; người già, trẻ nhỏ, bà con lối xóm nườm nượp kéo đến xem chật ních cả cổng.
Thời điểm cuối tháng Bảy sang đầu tháng Tám vốn là những ngày nông dân bận rộn đến thắt ruột thắt gan; ban ngày vừa phải đội nắng chang chang phơi khô lúa mùa sớm để đóng bồ cất giữ, ban đêm lại phải tranh thủ cày bừa để cấy gấp lúa vụ hai xuống ruộng nước. Ai nấy đều thiếu nhân lực, tay chân nứt nẻ, lưng đau như gãy. Những người dân làng ngày thường ít khi qua lại cũng lục tục mang biếu củ khoai, mớ rau ghé sang lấy lòng Từ Chính Hương, khẩn khoản xin mượn chiếc máy về nhà dùng tạm một hôm. Thấy bà con dồn dập đến nài nỉ, Tiêu Trường Hà vốn là người chất phác, hào sảng; ông liền bàn bạc với vợ rồi bước ra cổng tuyên bố rành rọt: cỗ máy này làm ra là để đỡ đần sức người, gia đình ông không giữ làm của riêng; nhưng để tránh chuyện tranh giành mất lòng chòm xóm, ông giao quyền phân chia cho Lý chính; ai muốn mượn cứ sang nhà Lý chính bốc số thứ tự, tới lượt nhà ai thì người đó dắt xe sang khiêng máy về.
Trong dòng người chen chúc đứng ngóng trông bên hàng rào nhà họ Tiêu, có một bóng dáng phụ nữ gầy guộc, tiều tụy đứng nép mình sau gốc cây hòe. Đó là Triệu nương tử. Gia cảnh nhà nàng ở cuối thôn cùng cực đến mức không ai muốn nhắc tới; trượng phu Triệu Đại Sơn vào mùa thu năm ngoái không may trượt chân ngã từ trên vách núi gãy lìa xương cẳng chân, nằm liệt giường teo tóp suốt cả một năm ròng rã. Bao nhiêu ruộng cằn, đồ đạc trong nhà đều lần lượt bị đem bán lấy tiền mua thuốc thang; giờ đây cả gia đình chỉ còn trông cậy vào hai mẫu ruộng phì nhiêu màu mỡ ngoài bãi bồi. Lúa gặt về chất đống ngoài sân đất ẩm ướt, nhưng không có đàn ông khỏe mạnh vung chày đập lúa, thóc đã bắt đầu có dấu hiệu ủ men bốc mùi chua nồng.
Triệu nương tử đánh bạo bước qua ngạch cửa, đôi bàn tay đen đúa nắm chặt vạt áo vải thô chắp vá chằng chịt, cất giọng rụt rè van nài: "Thím Tiêu... thím cho nhà cháu mượn chiếc máy dùng trước nửa buổi được không... chân Đại Sơn nhà cháu đau nhức quá, hai đứa nhỏ lại sức yếu không đập nổi..." Từ Chính Hương vừa quay người lại, thoáng nhìn thấy gương mặt hốc hác của Triệu nương tử thì nụ cười trên môi lập tức tắt ngấm. Bà nhớ tới những lời đồn thổi nhơ nhuốc ngoài làng bấy lâu nay về việc người đàn bà này có quan hệ mờ ám với đám đàn ông buôn chuyến, liền sa sầm nét mặt. Từ Chính Hương buông thừng cột rơm xuống đất cái cộp, giọng nói trở nên lạnh tanh: "Lý chính đã định ra quy củ rồi, ai muốn mượn thì sang bên ấy mà xếp lượt; nhà họ Tiêu chúng ta là người đàng hoàng, không chứa chấp chuyện chen ngang lộn xộn; ngươi mau về đi, đừng đứng đây làm vướng bận lối đi của người khác!"
Những lời xua đuổi cạn tình cạn nghĩa như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào mặt Triệu nương tử giữa trưa hè oi ả. Xung quanh, mấy bà hàng xóm bắt đầu liếc mắt nhìn nhau rồi xì xào chỉ trỏ; những ánh mắt khinh miệt, châm chọc dồn dập đổ dồn về phía nàng. Triệu nương tử cắn chặt bờ môi khô nứt đến mức ứa máu tanh tưởi; nàng không dám ngẩng đầu, lẳng lặng quay gót bước nhanh ra khỏi ngõ, nước mắt tủi nhục trào ra lăn dài trên đôi gò má xám ngoét.
Về đến túp lều tranh xiêu vẹo ở góc cuối làng, đập vào mắt nàng là cảnh tượng thắt lòng thắt ruột. Dưới cái nắng gắt ban trưa nung đốt mặt đất nứt nẻ, hai đứa con gái nhỏ Đại Hoa và Tiểu Hoa đang còng lưng dùng những đoạn cành cây nhỏ đập thùm thụp, thùm thụp vào từng bó lúa rải rác trên nền đất. Tiếng đập lúa yếu ớt, rời rạc; mồ hôi nhễ nhại làm bết dính những lọn tóc cháy nắng vào trán hai đứa trẻ. Bàn tay nhỏ xíu của Tiểu Hoa đã đỏ ửng, trầy da tưa máu; nhưng đứa bé chỉ dám mím môi, không dám kêu than nửa lời.
Ngồi trên bậu cửa gỗ mục nát ngoài hiên là Triệu Tiền thị - người mẹ chồng mù lòa hai mắt của nàng. Bà lão ngồi tựa lưng vào vách đất, hai hốc mắt sâu hoắm đảo qua đảo lại vô hồn, đôi tai dỏng lên nghe tiếng bước chân ngoài cổng. Vừa ngửi thấy mùi gió lay động vạt áo quen thuộc, Triệu Tiền thị liền đập mạnh chiếc gậy tre xuống nền đất nghe chan chát, cất giọng the thé the thé chửi rủa rền rĩ: "Cái đồ sao chổi táng tận lương tâm kia, rốt cuộc ngươi đã đi đực ở đâu cả buổi sáng nay mới chịu vác cái mặt về hả; chiếm hố phân mà không chịu đẻ trứng, bao nhiêu năm chỉ rặn ra hai cái thứ của nợ vịt trời vô tích sự; lại còn khắc chết cái chân của con trai ta; trời cao đất dày ơi, sao kẻ gãy chân liệt giường không phải là cái thứ đàn bà lăng loàn như ngươi chứ!"
Những lời nguyền rủa cay nghiệt ấy Triệu nương tử đã phải nuốt vào trong suốt một năm qua đến mức chai sạn cõi lòng. Nàng không hé răng cãi lại nửa lời, chỉ lẳng lặng bước qua sân, dịu dàng xoa đầu hai đứa con thơ rồi bảo chúng ngồi nghỉ dưới bóng râm gốc ổi. Nàng vén tạp dề bước vào gian bếp chật hẹp nồng nặc mùi tro than; mở nắp nồi đất sứt mẻ, nàng gắp ra một nắm rau rừng già luộc nhạt thếch, với tay mở hũ sành múc ra một củ cải muối khô khốc, dùng con dao cùn băm nhỏ rồi trộn đều vào bát gỗ.
Triệu nương tử bưng bát rau vào căn buồng trong tối tăm, ngột ngạt. Không khí trong phòng đặc quánh mùi thuốc nam thiu thối lẫn với mùi ẩm mốc của đống chăn chiếu cũ rách. Trên chiếc phản gỗ ọp ẹp kê sát vách đất, Triệu Đại Sơn nằm cong queo như một xác chết khô; chiếc chân phải của chàng sưng vù, tím bầm, những vết lở loét bắt đầu rỉ nước vàng tanh nồng. Nghe tiếng bước chân thê tử, Triệu Đại Sơn khó nhọc mở hé đôi mắt đục ngầu, hơi thở khò khè đứt quãng. Nàng ngồi xuống mép giường, cẩn thận luồn tay đỡ lưng chồng tựa vào vách nứa, run rẩy bưng thìa rau muối đưa đến tận miệng chàng: "Đại Sơn... chàng ráng ăn chút rau rừng lót dạ... nuốt lấy một miếng cho có sức..."
Triệu Đại Sơn nhìn vào bát canh rau lạnh ngắt, cổ họng nghẹn ứ; từng cơn đau buốt từ khớp xương gãy truyền thẳng lên óc khiến chàng rùng mình run lẩy bẩy. Chàng gắng gượng cắn được một cọng dưa muối mặn chát, nhưng rồi dạ dày cuộn lên từng cơn buồn nôn dữ dội; chàng lắc đầu quầy quậy, khó nhọc cất tiếng thì thào: "Ta... ta không nuốt nổi đâu... nàng đừng nhọc lòng nữa..." Triệu nương tử nhìn gương mặt hốc hác, đôi môi khô khốc nứt nẻ của trượng phu, nước mắt lại ứa ra như chuỗi ngọc đứt chỉ. Nàng nhẹ nhàng đỡ chàng nằm xuống, kéo tấm chăn bông vá víu đắp ngang bụng cho chàng, rồi cắn môi quay sang phía bà mẹ chồng mù đang lần mò chống gậy bước vào buồng.
Nuốt ngược tiếng nấc nghẹn vào lồng ngực, Triệu nương tử quỳ gối bên mép phản, cất giọng van nài tha thiết: "Nương... con thấy vết thương ở chân của Đại Sơn ngày càng sưng to thối rữa; nếu cứ để thế này thì chàng không sống nổi qua mùa đông đâu... Chi bằng nhà ta bán nốt hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài bãi bồi đi; lấy dăm ba lượng bạc đưa chàng lên huyện thành tìm đại phu giỏi nhất bốc thuốc cứu mạng..."
Chữ "bán ruộng" vừa thốt ra khỏi miệng, Triệu Tiền thị như bị sét đánh trúng tim đen. Bà lão mù nhảy dựng lên như con thú hoang giẫm phải than hồng, vung mạnh chiếc gậy tre gõ loảng xoảng vào chân phản; cánh tay gầy guộc như cành củi khô quờ quạng chộp lấy chiếc bát gỗ đựng cọng dưa thừa trên tay con dâu, dằn mạnh hắt thẳng vào mặt nàng. Nước dưa mặn chát lẫn cọng rau rách nát văng tung tóe lên trán, chảy ròng ròng xuống cằm Triệu nương tử; nhưng nàng không hề né tránh, chỉ trân trân quỳ im đón nhận.
Triệu Tiền thị nghiến răng ken két, ngón tay run rẩy chĩa thẳng vào sống mũi con dâu mà gầm rít thóa mạ: "Bán ruộng... lại đòi bán ruộng; tổ tiên nhà họ Triệu tích cóp được mười mấy mẫu ruộng màu mỡ đã bị cái thứ sao chổi nhà ngươi lừa bán sạch sành sanh; giờ chỉ còn trơ trọi hai mẫu đất hương hỏa màu mỡ cuối cùng, ngươi cũng muốn tước đoạt nốt hay sao; có phải ngươi tính bán hết đất cát lấy tiền rồi phủi đít dắt díu nhau đi theo cái thằng dã phu khốn nạn ngoài làng của ngươi không hả!"
Trước ánh mắt trừng trừng hoảng hốt và đau đớn của Triệu Đại Sơn trên giường bệnh, từng lời thóa mạ của mẹ chồng như ngọn lửa thiêu đốt lòng tự trọng của Triệu nương tử; mặt nàng đỏ bừng rồi lại trắng bệch, lồng ngực đập thình thịch liên hồi. Nàng nghẹn giọng cất lời phản bác: "Nương... người là phận bề trên... sao người lại có thể ngậm máu phun người, ăn nói hồ đồ bừa bãi như thế!"
Triệu Tiền thị cười khẩy một tiếng ghê rợn, ngửa mặt lên trần nhà gào thét mất hết thể diện: "Lão thái bà này mắt mù nhưng mũi không có điếc; cái mùi lẳng lơ tanh tưởi của ngươi ta đứng cách mười dặm còn ngửi thấy rành rành; từ ngày Đại Sơn gãy chân nằm liệt một chỗ, ngươi đã bắt đầu lén lút lượn lờ ra ngoài dụ dỗ đàn ông; hôm nay ta nói cho ngươi biết, hai mẫu ruộng này là gốc rễ của dòng họ Triệu, ai dám động vào một tấc đất thì bước qua xác chết của ta trước!"
Triệu Đại Sơn nằm trên phản, từng lời cãi cọ nhục nhã đập chan chát vào tai khiến chàng đau đớn đến mức hai mắt đỏ ngầu, móng tay cào rách cả chiếu cói rách bươm. Chàng thở hắt ra từng hơi dồn dập, cất giọng khản đặc đắng cay: "Nương... đừng nói nữa... con van nương... Ruộng đất tuyệt đối không được bán; bán hết ruộng rồi thì mẹ con nàng lấy gì mà bỏ vào mồm; cái chân này của con... đằng nào cũng là thứ phế thải vứt đi... không cần chữa trị làm gì nữa..." Triệu nương tử vội vàng nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của chồng, nức nở lắc đầu: "Nhưng thiếp không thể trơ mắt nhìn chàng nằm đây chịu thống khổ đến chết được!"
Triệu Tiền thị bĩu môi, dằn mạnh từng tiếng lạnh lùng tàn nhẫn: "Ruộng không được bán; nhưng chân của con trai ta cũng nhất định phải chữa; hai cái đứa vịt trời ăn hại ngoài kia nuôi tốn cơm tốn gạo ngần ấy năm, giờ là lúc chúng nó phải báo đáp công ơn dòng họ này rồi; sáng ngày mai ngươi ra đầu làng tìm mụ nha tử về đây, không cần biết là đứa lớn hay đứa nhỏ, cứ bán phắt đi một đứa lấy dăm ba lượng bạc; vừa có tiền thuốc thang cho cha nó, lại vừa bớt đi một cái mồm ăn chực!"
Nghe đến hai chữ "bán con", Triệu nương tử như bị một nhát dao đâm xuyên qua tim. Đó chính là nỗi kinh hoàng tột độ mà nàng luôn nơm nớp lo sợ bấy lâu nay. Bản năng của người làm mẹ khiến nàng vụt đứng dậy, hai mắt long lên sòng sọc, kiên quyết gạt phắt đi: "Không được; tuyệt đối không thể bán con; hai đứa nhỏ đều đã biết làm lụng đỡ đần việc nhà, từ sáng tới tối chỉ ăn rau dại sống qua ngày, chúng có tội tình gì mà người nỡ lòng đem bán chúng vào chốn hang hùm miệng cọp; ta nói cho nương biết, con còn sống một ngày thì không ai được phép đụng tới một sợi tóc của chúng nó!"
Ngoài khoảng sân đầy nắng, hai đứa trẻ Đại Hoa và Tiểu Hoa đã buông rơi cành cây từ lúc nào; từng câu từng chữ tàn nhẫn của người lớn vọng ra từ buồng tối đều đập rõ mồn một vào đôi tai non nớt. Tiểu Hoa sợ hãi níu chặt lấy vạt áo chị, nước mắt ràn rụa lã chã rơi xuống nền đất, cất tiếng thì thào run rẩy: "Tỷ ơi... muội sợ lắm... muội không muốn bị bán đi đâu..." Đại Hoa cắn chặt răng đến bật máu, đứa bé mười tuổi run run đưa bàn tay gầy gò thô ráp lên lau nước mắt cho em, nghẹn ngào vỗ về: "Tiểu Hoa đừng khóc... có nương bảo vệ chúng ta rồi... ngộ nhỡ... ngộ nhỡ bà nội nhất quyết đòi bán, tỷ sẽ xin đi thay muội... tỷ sẽ bảo người ta bắt tỷ đi..." Tiểu Hoa ôm chặt lấy cổ chị, nức nở lắc đầu lia lịa: "Không được... muội muốn ở với tỷ tỷ... muội không cho ai bắt tỷ đi đâu..." Hai đứa trẻ tội nghiệp ôm lấy nhau khóc thút thít giữa đống lúa ngổn ngang, tiếng khóc nghẹn ngào chìm nghỉm dưới cái nắng oi nồng của buổi trưa hè.
Trong buồng, Triệu Tiền thị điên cuồng vung gậy quát tháo ầm ĩ: "Ngươi là cái thá gì mà dám lên giọng chống đối ta; con cháu mang họ Triệu là tài sản của cái nhà này, một người đàn bà lăng loàn như ngươi chưa có tư cách mở mồm làm chủ!"
Tất cả sự dồn nén, uất ức và tủi nhục tích tụ suốt ba trăm sáu mươi ngày đêm đen tối bỗng chốc bùng nổ như núi lửa phun trào. Triệu nương tử không nhịn được nữa; nàng ngửa mặt cười vang một tràng the thé rồi gào lên trong làn nước mắt ràn rụa: "Làm chủ ư; nương mở mắt ra mà nhìn xem; suốt một năm qua Đại Sơn nằm liệt giường bất động, mẹ con già trẻ các người ăn cái gì, uống cái gì, thuốc men tiền bạc từ đâu chui ra; nếu không có người đàn bà này cắn răng nuốt nhục, đem thân xác nhơ nhớp này đi ngủ với đàn ông ngoài làng kiếm từng đồng từng cắc đem về, thì cả cái nhà họ Triệu này đã chết rấp, thối thây từ lâu rồi; ta nuôi các người sống sót, ta dựa vào đâu mà không có quyền bảo vệ con gái ta!"
Triệu Tiền thị há hốc mồm, chiếc gậy tre trên tay rơi tuột xuống đất đánh cộp một tiếng khô khốc. Bà ta run rẩy chỉ tay vào mặt con dâu, lắp bắp không thành tiếng: "Ngươi... ngươi thật sự dám thừa nhận... cái đồ tiện nhân không biết liêm sỉ..." Triệu nương tử gạt phắt nước mắt, gằn từng tiếng xé ruột xé gan: "Ta không biết liêm sỉ đấy; nhưng nhờ thứ không biết liêm sỉ ấy mà các người mới có cơm cháo nhét vào mồm; không có ta bán thân thì các người đã thành một đống xương tàn dưới ba tấc đất rồi!"
Một tiếng thét gào tuyệt vọng, khản đặc và thê lương đột ngột xé toạc căn buồng u tối: "Đủ rồi... câm miệng hết đi..." Triệu Đại Sơn nằm trên phản, lồng ngực phập phồng dữ dội như muốn nổ tung; hai mắt chàng trợn trừng đỏ quạch, những giọt nước mắt đục ngầu, cay đắng lăn dài trên đôi gò má hốc hác, chảy tràn vào khóe miệng đắng ngắt. Sự thật trần trụi và nhơ nhuốc bị phơi bày ngay trước mặt khiến lòng tự trọng của một đấng nam nhi hoàn toàn vỡ vụn thành trăm ngàn mảnh găm vào tim. Chàng cắn chặt môi đến bật máu tươi, run rẩy gục đầu xuống gối, không thốt thêm được một lời nào nữa. Cả gian phòng rơi vào một khoảng lặng chết chóc, rợn người. Triệu nương tử lau vội dòng lệ nhạt nhòa, quay lưng bước nhanh ra khỏi buồng, ôm chặt lấy hai đứa con nhỏ ngoài sân mà nấc nghẹn từng cơn.
Màn đêm dần dần buông xuống thôn Thanh Sơn, bao trùm lên túp lều tranh xiêu vẹo một màu đen kịt, lạnh lẽo. Không gian tĩnh mịch đến rợn người, chỉ còn nghe thấy tiếng gió rít qua khe liếp nứa và tiếng côn trùng rỉ rả buồn bã bên bờ tường đất. Cả căn nhà im ắng lạ thường; Triệu Tiền thị sau trận cãi vã đã mệt lả thiếp đi ở góc thềm; ba mẹ con Triệu nương tử ôm nhau ngủ mê mệt nơi chái bếp sau một ngày dài kiệt sức.
Trong góc buồng tối đen như mực, Triệu Đại Sơn vẫn mở trừng trừng hai mắt nhìn lên nóc nhà tranh mục nát. Từng lời nói của thê tử, từng tiếng chửi rủa cay độc của mẹ già như những nhát búa tạ liên tục nện vào tâm can chàng. Người vợ mà chàng từng yêu thương, trân trọng đã phải chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề, bán rẻ thân xác để kiếm từng bát thuốc cứu mạng chàng; hai đứa con thơ dại máu mủ ruột rà sắp sửa bị tống vào tay phường buôn người; còn mảnh đất hương hỏa duy nhất của tổ tiên thì đứng trước nguy cơ tiêu tán sạch trơn. Chàng hiểu rõ mười mươi: nguồn cơn của mọi đau khổ, nhục nhã và lầm than này chỉ xuất phát từ một nguyên do duy nhất - đó là tấm thân tàn phế, vô dụng của chàng. Chừng nào chàng còn thoi thóp nằm đây ăn bám, thì gia đình này sẽ còn tiếp tục chìm sâu vào vũng bùn ô uế không lối thoát.
Nghĩ đến đó, một quyết định lạnh lùng và dứt khoát lóe lên trong đầu người đàn ông bất hạnh. Triệu Đại Sơn cắn chặt góc chăn để không phát ra một tiếng rên rỉ nhỏ nào; chàng gồng hết chút sức tàn nơi hai cánh tay chai sạn, bấu chặt vào mép phản gỗ mọt rồi từ từ kéo lê thân mình trườn xuống nền đất lạnh buốt. Từng tấc, từng tấc một... chiếc chân gãy gập vụn cọ xát vào mặt đất nham nhở làm chàng đau đớn đến run lẩy bẩy, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm manh áo rách. Chàng kiên trì bò trong bóng tối, hướng về góc tối nơi chân chạn bát - chỗ đặt chiếc hũ sành màu da lươn đựng thuốc trừ sâu mà chàng đã cẩn thận mua từ đầu mùa xuân để chuẩn bị phòng sâu bọ cho hai mẫu lúa phì nhiêu.
Bàn tay gầy guộc run rẩy sờ soạng trúng miệng hũ sành. Chàng cạy tung lớp nút lá chuối khô; một mùi hôi nồng nặc, cay xè và ngai ngái xộc thẳng lên sống mũi. Triệu Đại Sơn khẽ ngoái đầu nhìn về phía chái bếp - nơi ba mẹ con thê tử đang say ngủ; khóe mắt chàng lại ứa ra hai giọt lệ nóng hổi đắng cay. Chàng ngửa cổ, dốc thẳng miệng hũ sành vào cổ họng, nuốt ừng ực từng ngụm chất lỏng đen ngòm, cay xé. Chất độc ngấm nhanh như ngọn lửa thiêu đốt dạ dày, ruột gan chàng quặn thắt lại dữ dội, bọt mép trào ra tanh tưởi; hai bàn tay chàng cào cấu cấu xé xuống nền đất bùn. Nhưng chàng nghiến chặt hai hàm răng ken két, quyết không để bật ra một tiếng kêu rên; cho đến khi cả thân hình co giật mạnh rồi mềm oặt buông thõng, đôi mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định, chấm dứt một kiếp người cùng quẫn.
Đến nửa đêm canh ba, tiếng gào khóc thất thanh của Triệu Tiền thị bỗng nhiên xé toạc màn đêm tĩnh mịch của cả thôn làng: "Con ơi... Đại Sơn ơi... sao người con lạnh ngắt thế này... trời cao có mắt ơi, sao con lại nghĩ quẩn dại dột thế này hả con ơi!" Tiếng khóc than ai oán, thê lương như xé vải vang vọng khắp xóm thôn khiến những đàn chó trong làng sủa ran từng chặp; ánh đuốc lập lòe bắt đầu sáng lên từ các nếp nhà lân cận.
Gia đình Tiêu Trường Hà ở cách đó một bờ rào cũng choàng tỉnh giấc giữa cơn say ngủ. Tiêu Trường Hà vội vàng khoác áo tơi mở toang cánh cổng tre chạy bổ sang; Diệp Lạc Hân cùng Tiêu Mộc cũng hối hả nối gót theo sau. Khi bước chân vào gian buồng tranh rách nát, một cảnh tượng thảm khốc đập thẳng vào mắt mọi người: thi thể Triệu Đại Sơn nằm cong queo trên nền đất ẩm mốc, đôi mắt trợn trừng trắng dã không tài nào nhắm lại được, bên cạnh là chiếc hũ sành thuốc sâu vỡ toang, mùi hóa chất nồng nặc bốc lên sực nức cả gian phòng.
Hai đứa trẻ Đại Hoa và Tiểu Hoa quỳ rạp dưới chân cha, ôm lấy đôi bàn chân lạnh ngắt thâm tím mà khóc lóc thảm thiết, tiếng nấc xé lòng xé ruột làm những người hàng xóm chứng kiến không ai cầm được nước mắt. Triệu Tiền thị ngồi bệt dưới đất đấm ngực thùm thụp, vừa khóc vừa réo tên con dâu ra nguyền rủa: rằng chính cái đồ sao chổi táng tận lương tâm kia đã khắc chết con trai bà, làm ô uế thanh danh gia đình. Trong khi đó, Triệu nương tử ngồi chết lặng nơi góc tường tối tăm; nàng không khóc, không than van một lời, đôi mắt vô hồn nhìn trừng trừng vào thi thể trượng phu, toàn thân bất động như pho tượng đá đã bị rút cạn toàn bộ sinh khí.
Trời vừa rạng sáng, sương mù dày đặc còn bảng lảng giăng mắc khắp ngõ ngách thôn Thanh Sơn. Lý chính tay chống gậy vội vã bước vào sân, nhìn cảnh tượng hoang tàn, tang tóc mà chỉ biết lắc đầu thở dài sườn sượt. Thấy gia cảnh nhà họ Triệu trống trơn không có nổi một đồng dính túi, Lý chính liền bàn bạc với Tiêu Trường Hà và bà con chòm xóm gom góp tiền bạc; ông đích thân cử người chạy ra đầu thôn đặt mua một cỗ quan tài đóng bằng ván gỗ mỏng đem về khâm liệm cho người xấu số. Một người hàng xóm tốt bụng kiếm đâu được tấm vải bạt rách đem vào đắp tạm lên thân thể bất động của Triệu Đại Sơn.
Đứng giữa sân nhìn quanh quất, Lý chính cau mày cất giọng trầm ngâm với Tiêu Trường Hà: "Đại Sơn mất đi khi chưa có mụn con trai nào nối dõi tông đường; theo tục lệ từ xưa của làng ta, lúc phát tang và hạ huyệt bắt buộc phải có người cầm gậy đập chậu; chuyện này không thể chậm trễ, phải cử người sang thôn bên cạnh mời người anh họ ruột của nó là Triệu Đại Hà sang đây chủ trì tang sự mới mong linh hồn người chết được yên ổn." Dân làng nghe vậy đều gật đầu đồng thuận; một thanh niên trong xóm lập tức nhận lời chạy sang thôn bên đưa tin.
Đến đầu giờ Thìn, Triệu Đại Hà vội vã chống gậy sang tới nơi. Hắn trạc bốn mươi tuổi, dáng người phốp pháp, mặc chiếc áo vải thô màu xám tro còn khá mới. Vừa bước chân qua cánh cổng tre xiêu vẹo, hắn không hề chạy vội vào buồng để thắp một nén nhang cho người em họ xấu số hay cất lời an ủi bà thím mù lòa đang than khóc; ngược lại, đôi mắt hí ti hí của hắn đảo quanh quất một vòng từ trước ra sau. Hắn ngắm nghía khoảng sân phơi rộng rãi, săm soi dàn cột gỗ lim tuy đã ngả màu nhưng vẫn còn vững chãi của căn nhà ba gian; rồi phóng tầm mắt nhìn ra phía hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài bãi bồi ven sông, khóe miệng hắn khẽ giật giật, lộ rõ vẻ toan tính và hài lòng khôn tả.
Nghe tiếng bước chân lạo xạo ngoài hiên, Triệu Tiền thị như kẻ sắp chết đuối vớ được cọc gỗ; bà lão mù lòa quờ quạng đôi bàn tay gầy gò túm chặt lấy ống tay áo Triệu Đại Hà, kéo giật hắn vào một góc khuất chái nhà. Bà lão hạ thấp giọng, vừa khóc sụt sùi vừa rít qua kẽ răng đầy vẻ căm hờn: "Đại Hà ơi... em họ của con mệnh khổ quá con ơi; nó còn trẻ thế mà đã bị cái con tiện nhân rước từ ngoài về khắc chết tươi; hôm nay con là đích tôn của chi họ Triệu, con phải đứng ra làm chủ mối thù này cho em con; tống khứ ngay con đàn bà sao chổi độc ác ấy ra khỏi cổng nhà họ Triệu, không được cho nó tơ hào một hạt thóc hay một tấc đất nào của tổ tiên để lại!"
Nghe những lời xúi giục ấy, lòng dạ Triệu Đại Hà mừng rỡ như mở cờ trong bụng; đó chính là điều mà hắn thèm thuồng nhất bấy lâu nay. Nhưng ngoài mặt, hắn vẫn làm bộ làm tịch thở dài sườn sượt, ra vẻ đắn đo ngập ngừng: "Thím à... Đại Sơn vừa mới nằm xuống lạnh ngắt kia, mồ mả còn chưa kịp xanh cỏ; giờ mà chúng ta vội vã đuổi góa phụ và hai đứa cháu gái đi biệt xứ, con sợ dân làng Thanh Sơn dị nghị chê cười; rồi dưới suối vàng, linh hồn Đại Sơn nó lại oán trách con thì tội chết..."
Triệu Tiền thị nghiến chặt hai hàm răng rụng gần hết, giọng điệu trở nên độc địa, tàn nhẫn đến ghê người: "Oán trách cái nỗi gì; nếu không phải tại con tiện nhân đó thì con trai ta đâu có chết thảm thế này; ta chỉ hận không thể lột da xẻ thịt nó đền mạng cho con ta!" Bà lão mù ghé sát tai Triệu Đại Hà, thì thào dặn dò từng tiếng lạnh buốt: "Chuyện Đại Sơn uống thuốc trừ sâu tự vẫn tuyệt đối phải giấu kín như bưng; người tự sát là phường hèn hạ, mang tội bất hiếu với tổ tiên, chết đi sẽ bị người đời khinh bỉ phỉ nhổ vào mặt; con cứ việc rêu rao với làng xóm rằng nó phát bệnh cũ mà qua đời; sau khi chôn cất xong xuôi, con cứ lấy danh nghĩa trưởng họ đuổi cổ mẹ con nó đi; toàn bộ căn nhà này và hai mẫu ruộng màu mỡ ngoài kia, ta giao trọn cho con cai quản!"
Cơn gió lạnh ban sớm khẽ lùa qua khe cửa liếp, làm lay động vạt áo rách rưới của Triệu nương tử vẫn đang ngồi hóa đá bên cỗ quan tài gỗ mỏng thô sơ. Triệu Đại Hà khẽ nheo đôi mắt lươn lại, bàn tay vỗ vỗ lên mu bàn tay gầy trơ xương của bà thím mù, trong lòng đã tính toán xong xuôi từng bước thôn tính mảnh đất sinh nhai cuối cùng của ba mẹ con góa phụ tội nghiệp.