Tịch Biên Gia Sản: Áo Bông Cũ Cứu Phu Quân

Chương 4

Cập nhật: 18/10/2026 01:00

Trước Sau

Trình Phát Audio Chương

Thưởng thức bản đọc audio chất lượng cao

Chương 4: Áo Bông Khâu Kẽ Chỉ
Màn đêm buông xuống kinh thành Thịnh Kinh tựa như một tấm màn nhung đen đặc quánh và lạnh lẽo, nuốt chửng lấy từng ngóc ngách của các dinh thự quyền quý chốn kinh kỳ hoa lệ. Ngoài hiên viện nhỏ phía Tây của Vĩnh Ninh bá phủ, từng cơn gió bấc gầm rú man dại qua những rặng ngói lưu ly phủ đầy sương muối, quất liên hồi vào những cành ngô đồng trơ trụi khẳng khiu phát ra những tiếng kêu răng rắc rợn người như xương cốt gãy vụn. Gió buốt len lỏi qua từng khe liếp cửa sổ chưa kịp dán kín giấy dầu, làm cho ngọn đèn dầu lạc đặt trên chiếc kỷ trà gỗ gụ chao đảo ngả nghiêng không ngừng, bấc đèn cháy đỏ rực hắt bóng một thân hình mảnh dẻ in dài chập chờn trên vách tường vôi trắng đã tróc lở từng mảng. Nơi góc phòng tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng gió rít từng hồi ngoài hiên vắng hòa cùng tiếng thở nhè nhẹ đè nén muôn trùng sóng gió của Thẩm Sở Vân. Nàng ngồi ngay ngắn bên mép chiếc giường gỗ tếch đã lên nước bóng mờ, đôi mắt đen láy thăm thẳm như làn nước mùa thu phẳng lặng, nhưng ẩn sâu dưới đáy mắt ấy là sự tỉnh táo, sắc sảo và kiên định phi thường của một người phụ nữ đã nhìn thấu thời cuộc.
Căn viện nhỏ phía Tây này vốn là nơi hẻo lánh và quạnh quẽ nhất trong toàn bộ cơ ngơi nguy nga bề thế rộng lớn của Vĩnh Ninh bá phủ, nơi chỉ dành cho con thứ và những kẻ không được sủng ái nương thân qua ngày đoạn tháng. Suốt ba năm làm dâu chốn hào môn vọng tộc, Vân Nương đã quá quen với cảnh gió lùa qua vách nứa mỗi độ đông về, quá quen với sự lạnh nhạt khinh khi của mẹ kế Ngu thị cùng những ánh mắt nhìn xoi mói, khinh khỉnh từ đám thê thiếp của Đại phòng. Người đời ở ngoài cổng phủ chỉ nhìn vào tấm biển sơn son thếp vàng chạm trổ rồng phượng của Bá phủ mà trầm trồ thèm muốn, khao khát được gả con gái vào chốn lầu son gác tía, chứ chẳng ai thấu hiểu được nỗi cay đắng ngậm ngùi của một nàng dâu xuất thân từ gia đình thương nhân dệt lụa vùng Giang Nam bước chân vào chốn quý tộc kinh kỳ đầy rẫy định kiến và khinh miệt. Nhưng giờ đây, khi nhìn lại tất cả, nàng bỗng nhận ra chính sự ghẻ lạnh và cô lập suốt ba năm ròng rã ấy lại vô tình tạo nên một khoảng trời riêng biệt an toàn, giúp Tam phòng tránh xa khỏi những mưu mô nhơ bẩn, những cuộc tranh giành quyền lực tanh tưởi và những phi vụ làm ăn phi pháp mà Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm cùng đích trưởng tử Ôn Diệu Tổ đang ngày đêm dốc sức lao vào như những con thiêu thân mù quáng.
Trước mặt nàng lúc này, trải rộng trên mặt phản gỗ bóng loáng, không phải là những tấm gấm Tô Châu ngũ sắc hay lụa Hàng Châu mềm mại mà đám thê thiếp trong Bá phủ vẫn thường tranh nhau may áo đón Tết, mà là một chiếc áo bông vải thô màu chàm đã bạc thếch. Chiếc áo này đã sờn rách ở mép cổ áo, hai bên vạt áo cũng đã tưa chỉ sau bao năm tháng dãi dầu sương gió, lớp vải thô ráp ngả màu xám xịt như lớp tro tàn nơi đáy bếp lạnh ngắt. Đây vốn là kỷ vật đơn sơ từ quê nhà Ô Trấn chốn Giang Nam mà ba năm trước nàng mang theo khi bước lên kiệu hoa về làm dâu chốn kinh kỳ hoa lệ. Ngày ấy, mẫu thân nàng đã tự tay chần từng thớ bông non, rơi nước mắt căn dặn nàng rằng con gái lấy chồng xa xứ như cánh chim bay giữa trời giông bão, chiếc áo vải thô này dẫu mộc mạc nhưng là hơi ấm của quê hương, có thể giữ cho tâm hồn nàng không bị bụi trần chốn phồn hoa làm cho vẩn đục. Suốt ba năm qua, dù bị chê cười là kẻ nhà quê nghèo hèn, Vân Nương vẫn trân trọng cất giữ chiếc áo ấy ở đáy chiếc rương gỗ hồi môn, thỉnh thoảng đem ra phơi nắng để giữ lại mùi hương cỏ cây quen thuộc của dòng sông quê mẹ.
Trong mắt đám nô bộc ranh mãnh và các vị phu nhân nơi Bá phủ xa hoa phù phiếm, chiếc áo vải thô kệch cỡm này chẳng khác nào một mớ giẻ rách của kẻ bần hàn cần phải vứt bỏ từ lâu, một vết nhơ nhắc nhở về xuất thân thương nhân thấp kém của nàng dâu thứ. Đã không ít lần Đại tẩu Tiền thị bĩu môi chế giễu trong những buổi thỉnh an sáng sớm, bóng gió bảo rằng Tam phòng nghèo túng đến mức phải giữ lại manh áo rách của phường dệt vải để làm của gia bảo truyền đời. Nhưng đối với Vân Nương, trong đêm đông định mệnh này, chiếc áo bông rách nát ấy lại chính là chiếc phao cứu sinh duy nhất, là ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết cho cả gia đình nàng khi phong ba bão táp ập xuống. Nàng hiểu quá rõ quy luật nghiệt ngã của chốn quan trường và thói đời bỉ ổi: khi tai ương giáng xuống, kẻ mang vàng ngọc trên người sẽ là kẻ chết trước tiên dưới lòng tham của đám sai nha, còn kẻ khoác manh áo rách tả tơi của kẻ nghèo hèn lại có cơ may sống sót qua lưỡi đao đồ tể.
Nàng đưa bàn tay thon thả khẽ vuốt ve bề mặt thô ráp của lớp vải chàm, đầu ngón tay lướt qua từng vết chắp vá đã bạc màu mà lòng trào dâng bao nỗi niềm cay đắng lẫn quyết tâm sắt đá. Cách đây chưa đầy nửa canh giờ, sau khi phát bạc lộ phí cùng văn tự bán thân cho Tiền chưởng quầy và những gia nhân thân tín trốn khỏi kinh thành, nàng đã một mình quay trở lại căn phòng này để khóa chặt then cài, sẵn sàng cho trận chiến sinh tử sắp tới. Tiếng khóc trăn trối của Trúc Nhi bên gối nàng đêm qua vẫn còn văng vẳng bên tai như một lời cảnh tỉnh đẫm máu. Trúc Nhi - đứa nhỏ trung thành được nàng cứu mạng từ thuở nhỏ ở Giang Nam - đã liều mình trúng tên độc trốn về báo tin dữ trước khi trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay nàng. Cái chết của Trúc Nhi đã đổi lấy sự thật kinh hoàng: Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm cùng bè lũ Đại phòng vì tham lam bổng lộc đã câu kết với Binh bộ tuồn sắt thép vũ khí cho man tộc Bắc Địch, mật báo đã lọt vào tay Hoàng đế và đội quân Cấm quân của Bắc Trấn Phủ Ty đã nhận lệnh mật vây phủ diệt môn.
Tiếng mõ cầm canh điểm dồn dập từ phía tháp chuông xa xăm dội lại trong màn mưa tuyết như những tiếng đếm ngược thời gian nghiệt ngã của số phận, giục giã nàng không được phép chậm trễ dù chỉ một cái chớp mắt. Nàng biết rõ tội danh phản quốc buôn vũ khí bị khép vào tội mưu đại nghịch trong luật lệnh của triều đình Đại Khang, hình phạt dành cho kẻ phạm tội là tru di tam tộc, nam tử trên mười sáu tuổi trảm quyết bêu đầu nơi ngọ môn, nữ quyến sung vào giáo phường ty hoặc đày ải ngàn dặm nơi biên ải hoang vu lạnh giá. Trong cơn ác mộng diệt môn ấy, Cấm quân sẽ lục soát từng tấc đất, phá tung từng hòm xiểng, lột sạch mọi thứ vàng bạc châu báu, tơ lụa nhung gấm trên người tôn thất quý tộc. Bất kỳ ai mang theo một thỏi vàng hay một chiếc trâm ngọc đều sẽ bị bọn chúng tước đoạt thẳng tay, thậm chí đánh cho tàn phế nếu dám hé răng chống cự. Nhưng một chiếc áo bông cũ rách nát bốc mùi ẩm mốc, vải thô xơ xác thủng lỗ chỗ, chắc chắn sẽ khiến những cặp mắt tham lam tàn độc kia khinh miệt quay đi, không thèm để mắt tới.
Hít sâu một luồng không khí lạnh buốt làm buốt nhói lồng ngực, Vân Nương với tay lấy cây kéo con bằng sắt gỉ cùng chiếc hộp may vá gia truyền đặt dưới chân giường. Nàng thuần thục dùng đầu mũi kéo sắc lẹm khẽ khàng rạch từng mũi chỉ chần bông bên trong lớp lót của chiếc áo chàm, động tác vô cùng cẩn trọng và chuẩn xác để không làm rách toạc lớp vải ngoài đã mục tơi theo năm tháng. Từng đường chỉ gai đứt phựt trong im lặng, để lộ ra lớp bông gòn bên trong đã ngả sang màu vàng ố vì thời gian và ẩm mốc, xơ xác và vón cục lại thành từng mảng lớn. Nhìn lớp bông xơ xác ấy, Vân Nương khẽ mỉm cười cay đắng trong bóng tối, bởi chính sự xơ xác và thô kệch tự nhiên này sẽ trở thành lớp ngụy trang hoàn mỹ nhất để che mắt những bàn tay thô bạo của bọn ngục tốt và sai nha nơi ngục tối.
Nàng xoay người kéo chiếc tráp gỗ nhỏ được giấu kín dưới ngăn kéo bàn trang điểm ra, mở nắp tráp bằng một chiếc chìa khóa đồng nhỏ xíu luôn đeo bên mình. Ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu rọi xuống mặt tráp, phản chiếu thứ ánh sáng bàng bạc lung linh của ba bọc vải thô nặng trĩu đựng hơn hai trăm lượng bạc vụn cắt nhỏ li ti, bên cạnh là một xấp ngân phiếu mỏng tanh của hiệu buôn Tứ Hải cùng một chiếc hộp gỗ trắc nhỏ xíu đựng dược liệu cứu mạng. Những mẩu bạc vụn này được cắt tỉ mỉ thành từng hạt nhỏ chỉ cỡ hạt sen hoặc đầu ngón tay cái, góc cạnh đã được mài nhẵn thín để không tạo ra những vết nhọn đâm thủng da thịt người mặc. Đây là toàn bộ số bạc còn lại sau khi nàng đã trích một phần lớn phát cho gia bộc trung thành phân tán trốn chạy, là giọt máu tài chính cuối cùng nàng giữ lại để mua chuộc lòng dạ quỷ dữ nơi cửa ngục tử thần.
Vân Nương không hề vội vã nhét bừa số bạc ấy vào áo, bởi nàng hiểu quá rõ thói quen khám xét thân thể của lũ quân binh Cấm quân khét tiếng hung hãn và lão luyện nơi chốn kinh kỳ. Đám ưng khuyển của Bắc Trấn Phủ Ty là những kẻ lọc lõi bậc nhất trần đời, chúng đã từng lục soát hàng trăm phủ đệ của các quan lại ngã ngựa, chỉ cần đưa tay sờ nắn qua vạt áo là biết ngay bên trong có giấu đồ vật hay không. Nếu bạc để trần cọ xát vào nhau, chỉ cần người mặc bước đi một bước hơi mạnh chân là sẽ phát ra những tiếng leng keng lách cách của kim loại va chạm, lập tức biến người đó thành miếng mồi ngon cho những lưỡi đao tham tàn. Hơn nữa, nếu bạc bị dồn thành từng cục lớn, lớp vải thô mỏng manh sẽ bị kéo trĩu xuống, tạo thành những vết cộm bất thường lộ liễu vô cùng khiến bất kỳ kẻ khám xét sơ sài nào cũng có thể phát hiện ra ngay lập tức.
Nàng cẩn thận lấy ra những mảnh vải lanh mềm màu xám tro đã được xé nhỏ từ trước, tỉ mỉ bọc từng mẩu bạc vụn vào trong từng mảnh vải lanh mềm mại. Trước đó, nàng đã cẩn thận tẩm một lớp mỏng dầu mè thơm lên từng mảnh vải lanh rồi hong khô trên bếp than, lớp dầu mỏng ấy vừa giúp vải lanh mềm dẻo hơn, vừa triệt tiêu hoàn toàn độ ma sát giữa kim loại và sợi vải, khiến cho hai mẩu bạc dẫu có va đập trực tiếp vào nhau cũng không thể phát ra bất kỳ một âm vang nào. Đôi bàn tay vốn quen thêu hoa dệt gấm nay làm những công việc thô ráp một cách nhanh thoăn thoắt, từng bọc bạc được bọc kín mít trong vải lanh trở nên mềm mại và hoàn toàn câm lặng, dù có đập mạnh vào nhau cũng chỉ phát ra những tiếng phịch trầm đục như những cục bông khô. Nàng nhặt từng bọc bạc lên thử gõ vào thành gỗ, quả nhiên không hề có một chút tạp âm kim loại nào lọt ra ngoài, hoàn toàn êm ái và kín kẽ.
Tiếp theo đó là công đoạn đòi hỏi sự khéo léo và tính toán chuẩn xác đến mức kinh ngạc của một nữ tử am tường cấu trúc y phục như Vân Nương. Nàng không dồn toàn bộ số bạc vào hai bên túi áo hay tập trung ở trước ngực, vì đó là những vị trí đầu tiên mà bàn tay lục soát của quan binh sẽ sờ nắn thô bạo. Nàng cầm cây kim khâu cong bằng sắt cứng, xâu một sợi chỉ gai se đôi chắc nịch, bắt đầu luồn từng mẩu bạc bọc vải vào sâu bên trong các thớ bông dọc theo đường viền gấu áo dưới cùng. Nàng phân bổ các mẩu bạc cách đều nhau chừng hai ngón tay, dùng kim chần chặt từng nút chỉ kép cố định vị trí của từng mẩu bạc vào giữa hai lớp vải thô và lớp bông gòn cũ. Từng mũi kim đưa lên hạ xuống đều đặn và dứt khoát, đường kim mũi chỉ thô kệch bên ngoài cố tình giả dạng nét khâu vụng về của người đàn bà quê mùa, nhưng bên trong lại được kết nối bằng những nút thắt vô cùng vững chắc không thể đứt gãy.
Sau khi đã nẹp kín toàn bộ viền gấu áo bằng một hàng bạc vụn nặng trĩu nhưng êm ái, Vân Nương tiếp tục chuyển sang hai bên nẹp ngực và bả vai của chiếc áo. Nàng khéo léo xếp những mẩu bạc nhỏ hơn dọc theo đường xương quai xanh và dọc hai bên sống lưng, nơi xương người gồ lên tự nhiên có thể che lấp đi độ cộm của kim loại. Nàng hiểu rằng khi bị áp giải hay tra khảo, thân thể con người luôn có xu hướng co ro cúi gập, những đường gân xương ở lưng và vai sẽ nổi rõ, nếu đặt các mẩu bạc bọc vải men theo những rãnh xương ấy thì bàn tay kẻ sờ nắn sẽ lầm tưởng đó là xương bả vai gầy gò của một nữ tử ốm yếu thiếu ăn. Nàng cẩn thận chần chỉ zích zắc để khóa chặt từng mẩu bạc tại vị trí cố định, đảm bảo dù người mặc có chạy nhảy hay bị xô ngã xuống đất thì những viên bạc cũng không bị xê dịch hay dồn ứ lại một chỗ.
Nhờ sự phân bổ trọng lượng đồng đều trên toàn bộ khung xương của chiếc áo, khi khoác lên mình, chiếc áo bông sẽ rũ xuống tự nhiên theo dáng người, chỉ tạo cảm giác hơi dày dặn và nặng nề như một chiếc áo bông chần rẻ tiền bị thấm hơi ẩm mùa đông chứ tuyệt đối không làm biến dạng phom áo hay để lộ bất kỳ vết gồ ghề đáng ngờ nào. Vân Nương đưa tay nâng nhẹ mép áo lên kiểm tra, cảm nhận độ cân bằng hoàn hảo giữa hai bên vai và vạt trước vạt sau. Không có bất kỳ điểm nào bị lệch trọng tâm, không có bất kỳ mẩu kim loại nào nhô ra ngoài lớp bông xơ xác. Đây là đỉnh cao của kỹ thuật may mặc mà chỉ những người thợ dệt lành nghề bậc nhất vùng sông nước Giang Nam mới có thể thấu triệt và thực hiện trọn vẹn trong một thời gian ngắn ngủi như vậy.
Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt kéo chỉ, từng thớ vải thô cọ xát vào đầu ngón tay làm da thịt bỏng rát, đầu ngón tay cái đã bị mũi kim sắt đâm thủng rướm máu đỏ tươi nhưng nàng dường như chẳng hề cảm thấy đau đớn. Nàng chỉ khẽ đưa ngón tay lên miệng mút nhẹ giọt máu tanh nồng rồi lại tiếp tục cắm cúi luồn kim, ánh mắt nàng chỉ chăm chú nhìn vào từng đường kim mũi chỉ với một sự tập trung tột độ. Mỗi một mũi kim đưa xuống là một lời thề quyết tâm giữ mạng, là một viên gạch xây nên bức tường thành bảo vệ phu quân và chính bản thân nàng trước cơn bão táp sắp giáng xuống đầu. Nàng không thể khóc, không được phép yếu mềm, bởi trong căn phòng này, nàng là điểm tựa duy nhất của Tam phòng, nàng gục ngã thì Thiệu Đường chắc chắn sẽ phải vùi thây nơi ngục tối.
Làm xong phần bạc vụn, Vân Nương dừng tay trong chốc lát, đưa tay áo lau đi những giọt mồ hôi lạnh đang rỉ ra trên vầng trán thanh tú dù gió ngoài hiên vẫn thổi buốt thấu xương tủy. Nàng cầm xấp ngân phiếu Tứ Hải lên, ánh mắt đăm chiêu nhìn từng tờ ngân phiếu mỏng tang được in bằng giấy da trâu đặc chế, phía trên đóng dấu triện đỏ chót của thương hội lớn nhất Đại Khang có thể đổi ra bạc nguyên ở bất kỳ phủ huyện nào trên khắp mười ba tỉnh. Tổng cộng có năm mươi tờ ngân phiếu mệnh giá một trăm lượng và năm mươi tờ mệnh giá năm mươi lượng, tổng giá trị lên tới năm ngàn lượng bạc trắng, tương đương với gia tài cả một đời của một gia đình trung lưu. Đây là số tiền bán tháo ba mươi mẫu điền trang màu mỡ và hai cửa tiệm hương liệu hồi môn mà nàng vừa thu về ban chiều, là toàn bộ hy vọng để nàng cứu vớt phu quân và xây dựng lại cuộc đời mới sau này.
Nàng cẩn thận vuốt thẳng từng góc nếp của xấp ngân phiếu, sau đó chia nhỏ chúng thành từng phần mười tờ một, ép phẳng phiu rồi gấp đôi lại theo chiều dọc thành những dải giấy dài và hẹp. Nàng dùng đầu kéo rạch một đường chỉ tinh vi ở mép trong của nẹp cổ áo chiếc áo chàm, nơi có lớp vải lót đôi dày dặn nhất thường dùng để giữ ấm cổ họng khi đi gió. Bằng sự khéo léo phi thường, Vân Nương luồn từng dải ngân phiếu mỏng tanh vào sâu bên trong nẹp cổ áo, dàn trải đều sang hai bên gáy rồi dùng chỉ màu chàm cùng tông màu khâu kín miệng rạch lại bằng những mũi thêu giấu mối tinh xảo đến mức dù có cầm kính lúp soi cũng khó lòng phát hiện ra dấu vết can thiệp. Giấy da trâu dẻo dai và không sợ nước, khi được khâu gọn gàng trong nẹp cổ áo chỉ tạo cảm giác như một lớp lót dựng cổ áo cứng cáp thông thường của y phục mùa đông.
Một nửa số ngân phiếu còn lại, nàng luồn vào mép trong của chiếc đai lưng vải thô đi kèm bộ y phục và dọc theo viền hai bên cổ tay áo, tạo thành một lớp đệm giấy êm ái hoàn toàn vô hại trước mọi sự sờ nắn thông thường. Chiếc đai lưng vải thô màu chàm này vốn là thứ đồ dùng rẻ tiền mà bọn nha dịch thường lơ là nhất khi khám xét, chúng chỉ chú ý đến những chiếc đai lưng nạm ngọc, dát vàng hay bịt bạc của các bậc vương tôn công tử. Nàng chần chỉ gai dọc theo chiều dài của đai lưng thành ba đường chỉ song song, giấu kín ba mươi tờ ngân phiếu năm mươi lượng vào giữa các đường chần chỉ ấy, biến chiếc đai lưng thành một kho bạc di động có thể rút ra từng tờ một khi cần thiết mà không làm rách hỏng cấu trúc của đai.
Khi những tờ ngân phiếu cuối cùng đã nằm yên vị trong kẽ áo, Vân Nương khẽ thở phào nhẹ nhõm, nhưng ánh mắt nàng lập tức chuyển sang chiếc hộp gỗ trắc nhỏ xíu còn lại trên bàn. Nàng cẩn thận mở nắp hộp, bên trong lót một lớp lụa đỏ điều êm ái, đặt ngay ngắn ba cây kim châm cứu bằng bạc ròng dài mảnh như râu tôm và mười viên hoàn thuốc tròn vo màu đen nhánh bóng loáng sáp ong. Thẩm gia vốn có truyền thống làm nghề y kết hợp buôn tơ lụa nhiều đời ở Giang Nam, trước khi xuất giá, phụ thân nàng đã đích thân bào chế và trao cho nàng chiếc hộp này để phòng thân khi gặp hoạn nạn nơi đất khách quê người. Mười hoàn thuốc này là tinh hoa dược liệu quý giá bậc nhất gồm bốn viên thuốc chỉ huyết có tác dụng cầm máu vết thương nội tạng và ngoại thương tức thì, ba viên giải độc hoàn có thể vô hiệu hóa chướng khí và độc tố thông thường, cùng ba viên hoàn trừ hàn trị sốt rét ác tính - căn bệnh tử thần phổ biến nhất chốn lao tù tăm tối ẩm thấp.
Vân Nương biết rõ chốn Chiêu Ngục của Bắc Trấn Phủ Ty là nơi địa ngục trần gian, nơi những đòn roi tra khảo dã man, rơm rạ mục nát và nước bẩn tù đọng có thể cướp đi sinh mạng của một người khỏe mạnh chỉ trong vòng ba ngày ngắn ngủi. Không có thuốc men cứu mạng kịp thời, dù có hàng vạn lượng bạc ròng trong tay cũng chỉ có thể trơ mắt nhìn người thân ngã xuống vì nhiễm trùng và bạo bệnh. Nàng dùng những mẩu sáp ong tự nhiên miết kín từng kẽ hở của các viên hoàn để tránh ẩm mốc xâm nhập, sau đó bọc mỗi viên vào một lớp vải dầu chống nước tuyệt đối. Nàng chọn vị trí dưới hai bên nách áo - nơi có lớp bông độn dày nhất và cũng là góc khuất tự nhiên của cơ thể mà bọn quan binh ít khi đưa tay vào xé toạc khi lục soát thô bạo - rạch hai đường nhỏ rồi nhét các hoàn thuốc cùng ba cây kim châm bạc vào sâu bên trong lớp bông xơ xác. Từng đường khâu cuối cùng được nàng siết chặt lại bằng chỉ gai thô, biến chiếc áo bông cũ kỹ thành một pháo đài sinh tồn bất khả xâm phạm.
Ba cây kim châm cứu bằng bạc ròng ấy lại càng có ý nghĩa trọng đại khôn lường. Trong chốn ngục lao tối tăm, khi bị đánh đập đến hôn mê bất tỉnh hay bị khí lạnh ngấm vào phế phủ gây nghẹt thở, chỉ cần một mũi kim bạc châm đúng vào các huyệt Nhân Trung, Hợp Cốc hay Dũng Tuyền là có thể kéo lại một mạng người từ cõi chết trở về. Hơn nữa, chất bạc ròng nguyên chất còn là công cụ hữu hiệu nhất để thử độc trong thức ăn và nước uống bẩn thỉu nơi ngục tù. Bằng việc giấu kín ba cây kim bạc trong lớp lót nách áo, Vân Nương đã chuẩn bị sẵn cho mình và phu quân một chiếc chìa khóa y thuật để đối phó với muôn ngàn hiểm nguy rình rập trong bóng tối.
Sau gần hai canh giờ cặm cụi không ngừng nghỉ dưới ánh đèn dầu leo lét, chiếc áo bông vải thô màu chàm đã được hoàn thiện trọn vẹn trong sự kín kẽ tuyệt đối. Vân Nương nâng chiếc áo lên bằng hai tay, cảm nhận sức nặng trầm đục của hơn hai trăm lượng bạc vụn cùng năm ngàn lượng ngân phiếu và dược liệu cứu mạng đang ẩn mình dưới lớp vải sờn rách tả tơi. Bề ngoài chiếc áo trông vẫn vô cùng tiều tụy, cổ áo sờn rách lòi cả sợi vải, vạt áo bạc phếch lốm đốm những vệt ố màu thời gian, trông chẳng khác nào manh áo của một kẻ ăn mày hay một người hầu nghèo khổ nhất chốn kinh thành. Nàng khẽ nở một nụ cười lạnh lùng đầy vẻ kiêu hãnh giữa bóng tối, một nụ cười của người đã nắm chắc trong tay vũ khí tối thượng để đương đầu với số phận nghiệt ngã.
Nàng nhanh chóng dọn dẹp sạch sẽ những sợi chỉ vụn và mảnh vải thừa trên bàn, ném tất cả vào trong chiếc chậu than đang cháy âm ỉ ở góc phòng để thiêu rụi mọi dấu vết. Đúng lúc ngọn lửa than vừa nuốt trọn những mảnh vụn cuối cùng thì tiếng bước chân quen thuộc nhè nhẹ vang lên từ phía hành lang nối liền với thư phòng bên cạnh. Cánh cửa gỗ khẽ kẹt một tiếng mở ra, một bóng người cao gầy trong chiếc áo lụa xanh nguyệt bạch bước vào phòng, mang theo một luồng gió lạnh buốt của đêm đông cùng mùi hương mực mới thơm ngát. Người bước vào chính là Ôn Thiệu Đường, Tam công tử của Vĩnh Ninh bá phủ, phu quân kết tóc ba năm qua của Thẩm Sở Vân.
Chàng thư sinh Ôn Thiệu Đường năm nay vừa tròn hai mươi mốt tuổi, gương mặt tuấn tú nhã nhặn như ngọc tạc, ánh mắt trong sáng và thanh thuần không gợn một chút bụi trần của chốn quan trường hiểm ác. Trên tay chàng vẫn còn cầm cuốn thi tập cổ chép tay bằng chữ chân phương tuyệt đẹp mà chàng vừa cặm cụi sao chép suốt cả buổi tối trong thư phòng. Thấy thê tử vẫn chưa đi ngủ mà lại ngồi thẫn thờ bên ngọn đèn dầu tàn lụi, trên tay lại cầm một chiếc áo bông vải thô rách rưới bạc màu, Thiệu Đường không khỏi ngạc nhiên bước nhanh lại gần, gương mặt lộ rõ vẻ băn khoăn và xót xa.
Chàng đưa tay khẽ nắm lấy bàn tay lạnh buốt của Vân Nương, giọng nói trầm ấm và dịu dàng như làn gió xuân thổi qua mặt hồ: "Vân Nương, đêm đã khuya khoắt thế này, gió bấc ngoài trời lại gầm rú dữ dội như muốn lật tung mái nhà, sao nàng vẫn chưa chịu lên giường an giấc? Bàn tay nàng lạnh ngắt như băng tuyết thế này, sao lại phải cặm cụi may vá chiếc áo vải thô cũ kỹ này làm gì cho tổn hại mắt ngọc? Chẳng phải trong rương của chúng ta vẫn còn chiếc áo choàng lông cừu ấm áp mà phụ thân ban thưởng năm ngoái sao, ngày mai hội thơ mùa đông ở Văn Uyên các bắt đầu rồi, nàng cứ mặc chiếc áo lông ấy cho ấm áp, việc gì phải khổ sở giữ lại manh áo rách này? Nàng xem này, ta vừa sao chép xong tập thơ Tống nho, nét chữ chân phương mực đọng óng ánh, ngày mai dâng lên các vị học sĩ chắc chắn sẽ được khen ngợi, khi ấy ta sẽ xin quan chưởng quản thưởng cho nàng vài xấp lụa Hàng Châu thật đẹp để nàng may áo mới đón mùa xuân."
Nghe những lời nói ngây thơ, chân thành và chan chứa ân tình mộc mạc của phu quân, lồng ngực Vân Nương như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt khiến nàng đau nhói đến tận tâm can. Phu quân của nàng là một kẻ sĩ thuần túy, cả đời chỉ biết đắm mình trong sách vở thánh hiền, nghiên cứu điển tịch cổ và khảo duyệt văn thư, hoàn toàn không hề hay biết rằng cái gia tộc hào nhoáng Vĩnh Ninh bá này đã mục ruỗng từ tận gốc rễ và sắp sửa biến thành một nấm mồ chôn sống hàng trăm sinh mạng. Chiếc áo choàng lông cừu hay những bộ gấm vóc lụa là mà chàng vừa nhắc tới, chỉ trong chốc lát nữa thôi sẽ trở thành những món mồi ngon bị quan binh Cấm quân giật phăng khỏi người, bị ném xuống bùn lầy giẫm đạp không thương tiếc. Chàng vẫn mơ về hội thơ, mơ về những lời khen ngợi của các bậc túc nho nơi Văn Uyên các, mà không biết rằng chiếc thòng lọng tử thần đã siết chặt ngang cổ họng của cả gia tộc.
Chàng thư sinh ấy đâu biết rằng những vị huynh trưởng cùng cha khác mẹ mà chàng luôn kính trọng, những người ngày ngày vỗ vai cười nói với chàng nơi tiền sảnh, lại chính là những kẻ buôn bán máu xương của tướng sĩ nơi biên cương. Bọn họ uống rượu bằng chén ngọc bích, ăn yến sào bằng thìa vàng, nhưng tiền bạc ấy đều thấm đẫm máu tươi của những đao thương phản quốc. Và giờ đây, khi lưới trời lồng lộng buông xuống, những kẻ gây tội tày đình ấy lại đang tìm cách đẩy chàng - đứa con thứ yếu thế nhất trong phủ - ra làm bia đỡ đạn để chịu tội thay cho chúng. Sự tàn độc của lòng dạ con người trong chốn hào môn này thật sự còn độc hại hơn cả nọc rắn độc chốn rừng sâu.
Vân Nương cố nén giọt nước mắt chực trào nơi khóe mi, nàng ngẩng đầu nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo không chút tì vết của Thiệu Đường, khẽ rút bàn tay mình ra khỏi tay chàng rồi đứng dậy. Nàng không trả lời câu hỏi của chàng về hội thơ hay chiếc áo lông cừu, mà lẳng lặng cởi bỏ chiếc áo khoác thêu hoa mẫu đơn bằng lụa mỏng bên ngoài, sau đó thong thả tròng chiếc áo bông vải thô màu chàm nặng trịch vào người. Chiếc áo vừa vặn ôm lấy bờ vai mảnh mai của nàng, lớp bạc vụn và ngân phiếu được giấu kín bên trong áp sát vào thân thể, mang lại một cảm giác nặng nề nhưng vô cùng vững chãi như một tấm giáp sắt vô hình che chắn lấy tấm thân liễu yếu đào tơ. Nàng khéo léo cài từng chiếc cúc vải sờn rách, vuốt phẳng vạt áo bạc màu, toàn bộ phong thái đài các của một thiếu phu nhân quyền quý bỗng chốc biến mất, thay vào đó là hình ảnh một người đàn bà nghèo khổ, bình dị và lam lũ như thể vừa bước ra từ một ngõ hẻm lầm than nào đó của chốn bình dân.
Thiệu Đường đứng ngây người nhìn thê tử biến hóa trước mắt mình, sự kinh ngạc trong mắt chàng càng lúc càng dâng cao: "Vân Nương, nàng... nàng làm sao thế? Nàng mặc chiếc áo này vào người làm gì giữa đêm hôm khuya khoắt thế này? Ánh mắt nàng đêm nay sao lại lạ lùng và nghiêm nghị đến thế, rốt cuộc trong phủ đã xảy ra chuyện gì mà ta không biết chăng? Sao nàng không nói cho ta nghe, có phải đại tẩu lại gây khó dễ cho nàng, hay phụ thân lại trách mắng chuyện tiền tiêu hàng tháng của Tam phòng chúng ta?"
Không để phu quân có thời gian suy đoán lung tung dẫn đến hoảng loạn, Vân Nương lập tức bước tới chiếc tủ gỗ lớn ở góc phòng, mở cánh tủ lấy ra một bộ y phục may bằng vải nỉ thô màu lam sẫm cũ kỹ của Thiệu Đường. Đây là bộ đồ giản dị nhất mà chàng từng mặc khi còn theo học ở trường làng năm xưa, không có bất kỳ hoa văn thêu thùa hay viền gấm quý giá nào. Nàng cầm bộ y phục bước lại gần chàng, giọng nói dịu dàng nhưng mang một uy lực dứt khoát không thể chối từ: "Thiệu Đường, nghe lời thiếp, chàng hãy cởi chiếc áo lụa nguyệt bạch này ra ngay lập tức, mặc bộ đồ vải nỉ này vào người. Cả đôi hài gấm thêu chỉ vàng dưới chân chàng nữa, hãy thay bằng đôi giày vải đế thô này đi! Đừng hỏi tại sao, chàng hãy làm ngay bây giờ cho thiếp!"
Thiệu Đường tròn xoe mắt, chàng định mở miệng cãi lại theo thói quen của một thư sinh nho nhã, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt nghiêm túc chưa từng có cùng ánh mắt sắc lạnh như kiếm thép của thê tử, chàng bỗng chốc nuốt ngược những lời định nói vào trong bụng. Bằng sự tin tưởng tuyệt đối dành cho người bạn đời đã cùng chung chăn gối ba năm qua, Thiệu Đường ngoan ngoãn cởi chiếc áo lụa quý giá ra, khoác lên mình bộ y phục vải nỉ thô ráp màu lam sẫm và xỏ chân vào đôi giày vải cũ. Khi chàng vừa mặc xong, Vân Nương liền đưa tay tháo chiếc trâm cài tóc bằng ngọc bích sáng loáng trên búi tóc của chàng xuống, nhét sâu vào gầm giường, rồi dùng một dải dây vải thô màu đen buộc gọn mái tóc dài của chàng lại theo kiểu của những văn nhân nghèo khó.
Xong xuôi mọi việc, Vân Nương kéo Thiệu Đường ngồi xuống mép giường, nàng với tay lấy từ trong chiếc hộp gỗ trên bàn ra một tấm thẻ bài nhỏ bằng gỗ đào đã lên nước bóng loáng. Tấm thẻ bài này có khắc bốn chữ son đỏ Văn Uyên Các Khảo, cùng con dấu niêm phong vuông vức của quan chưởng quản tàng thư viện quốc gia - minh chứng cho chức vụ khảo duyệt và sao chép cổ thư của Thiệu Đường suốt hai năm qua. Nàng nhét tấm thẻ bài gỗ ấy vào tận đáy túi áo trong của chàng, vỗ nhẹ lên ngực chàng như để truyền thêm hơi ấm và sức mạnh. Tấm thẻ bài gỗ đào này chính là cọng rơm cứu mạng duy nhất của chàng, là bằng chứng ngoại phạm bằng thép chứng minh chàng hoàn toàn vô can đối với những phi vụ buôn bán quân giới đẫm máu của phụ thân và đại ca chàng.
Nàng nhìn sâu vào tận đáy mắt của Ôn Thiệu Đường, giữ chặt lấy hai bờ vai gầy guộc của chàng bằng đôi bàn tay rắn rỏi khác thường, cất lời căn dặn với giọng nói tha thiết nhưng đanh thép như từng nhát búa gõ vào đá tảng: "Thiệu Đường, chàng hãy nhìn thẳng vào mắt thiếp và ghi nhớ từng lời từng chữ thiếp sắp nói sau đây, ngàn vạn lần không được phép quên dù chỉ một nửa câu! Bá phủ này sắp sửa sụp đổ rồi, đại họa ngập đầu sắp giáng xuống trong chớp mắt. Nhưng chàng phải nhớ kỹ một điều: Chàng là Ôn Thiệu Đường, là kẻ sĩ thanh bạch giữ mình trong sạch, suốt hai năm qua chàng chỉ biết ngày đêm vùi đầu vào sách vở, khảo duyệt thư tịch cổ tại Văn Uyên các, hai tai không nghe chuyện ngoài cửa sổ, tay không dính một đồng tiền bẩn thỉu của quan trường!"
Thiệu Đường run rẩy cả người, hai mắt trợn trừng kinh hãi khi nghe hai chữ đại họa từ miệng thê tử, chàng lắp bắp: "Vân Nương... nàng nói gì thế? Bá phủ sắp sụp đổ... phụ thân và đại ca... rốt cuộc họ đã làm ra chuyện tày đình gì? Có phải... có phải là chuyện quân giới ở Hắc Thủy Quan mà mấy hôm nay đại ca hay bàn tán lén lút trong thư phòng của phụ thân không? Chẳng lẽ... chẳng lẽ triều đình đã phát giác?"
Vân Nương lắc đầu thật mạnh, bàn tay siết chặt lấy vai chàng hơn nữa để ngăn chàng run rẩy: "Đừng hỏi thêm bất cứ điều gì nữa, biết càng nhiều lúc này chỉ càng khiến chàng mất mạng sớm hơn mà thôi! Lát nữa, dù trời long đất lở, dù Cấm quân có xông vào kề đao vào cổ hay phụ thân và đại ca có van xin chàng gánh tội thay, chàng tuyệt đối không được mềm lòng! Chàng không được nhận bừa bất cứ tội danh nào mà người khác gán ghép lên đầu mình, dù là một chữ ký hay một dấu điểm chỉ trên tờ giấy trắng cũng không được phép đặt xuống! Chàng chỉ việc khai đúng một sự thật duy nhất: Chàng là thư sinh sao chép sách ở Văn Uyên các, những việc khác chàng hoàn toàn không biết gì hết! Tấm thẻ bài gỗ đào trong ngực áo chàng chính là bằng chứng sống, chàng tuyệt đối phải giữ nó như giữ lấy mạng sống của mình! Chàng có nhớ rõ chưa?"
Nàng dừng lại một nhịp thở, ánh mắt ánh lên vẻ nghiêm khắc của một người thầy dặn dò đệ tử trước trận huyết chiến: "Khi vào trong đại lao, nếu bị bọn ngục tốt quát tháo hay đánh đập, chàng hãy cúi gầm mặt xuống đất, đừng nhìn thẳng vào mắt chúng để tránh chọc giận sự hung tàn của loài dã thú. Bất kể chúng có ép cung thế nào, chàng chỉ được nói chàng là kẻ chép sách, từng ngày từng tháng chàng đều có mặt ở Văn Uyên các, có sổ điểm danh và con dấu niêm phong của quan viện làm chứng. Chỉ cần chàng cắn chặt răng không nhận tội, thiếp nhất định sẽ có cách cứu chàng ra ngoài trời quang mây tạnh!"
Nhìn thấy ánh mắt rực lửa kiên cường và phong thái quyết đoán phi thường của người vợ vốn ngày thường luôn dịu dàng nhẫn nhịn, Ôn Thiệu Đường như bừng tỉnh khỏi cơn mê muội. Chàng cảm nhận được sức nặng vô hình từ đôi bàn tay của nàng truyền sang, nhận ra người phụ nữ trước mặt đang dùng cả tính mạng và trí tuệ để che chở cho sự trong sạch của mình. Một cảm giác hổ thẹn của đấng nam nhi xen lẫn niềm cảm kích sâu sắc trào dâng trong huyết quản, chàng hiểu rằng tai họa này tuyệt đối không phải là chuyện đùa, mà là biến cố diệt môn có thật đang cận kề gang tấc. Chàng nuốt nước bọt, gật đầu thật mạnh, giọng nói nghẹn ngào nhưng kiên định: "Vân Nương, ta nhớ kỹ rồi! Ta thề với trời đất, thề trước anh linh của mẫu thân đã khuất, dù có phải thịt nát xương tan, dù có phải chịu muôn ngàn đòn roi tra khảo, ta cũng tuyệt đối không nhận bừa bất cứ tội danh dơ bẩn nào để phụ lòng nàng!"
Vừa dứt lời thề son sắt ấy, một tia chớp mùa đông màu tím thẫm đột ngột xé rách toạc màn mây đen đặc quánh trên bầu trời kinh thành, rọi sáng rực cả căn phòng nhỏ trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Liền sau tia chớp rợn người ấy là một tiếng sét mùa đông kinh thiên động địa nổ bùng giữa không trung, tiếng sấm rền vang như tiếng trống trận của cõi âm giáng xuống trần gian, làm rung chuyển cả những thanh xà gồ gỗ lim trên mái nhà và khiến lớp bụi vôi trên vách tường rơi lả tả xuống sàn. Giữa mùa đông giá rét căm căm lại bỗng nhiên nổi sấm sét rền vang - đó là điềm triệu dị thường của một cuộc thảm sát đẫm máu, một khúc dạo đầu nghiệt ngã cho ngày tàn của một gia tộc quyền quý tột đỉnh. Người xưa thường bảo sấm sét mùa đông xuất hiện là khi trời cao nổi giận trước những tội ác tày đình nơi nhân thế, và đêm nay, lưỡi búa tầm sét của thiên đình đang nhắm thẳng vào đầu Vĩnh Ninh bá phủ.
Chưa kịp để hai người định thần lại sau tiếng sét kinh hoàng ấy, từ phía đại lộ Chu Tước xa xa ở đầu phố lớn, một chuỗi âm thanh hỗn loạn và dồn dập bắt đầu vọng lại, xé toạc màn đêm tĩnh mịch của kinh thành. Đó là tiếng vó ngựa bọc sắt nện thình thịch liên hồi trên mặt đường lát đá tảng, tiếng vó ngựa dồn dập như mưa rào đổ xuống mái tôn, cuốn theo tiếng bánh xe sắt nghiến ken két trên mặt đường tuyết đóng băng. Càng lúc âm thanh ấy càng trở nên rõ rệt và vang dội hơn, hòa lẫn cùng tiếng kim loại của đao kiếm va chạm leng keng rợn tóc gáy và tiếng hô quát thị uy hung hãn của hàng trăm kỵ binh thiện chiến.
Những đợt sóng âm thanh cuồng bạo ấy lao vun vút qua những con hẻm sâu, ầm ầm kéo thẳng về phía cổng lớn của Vĩnh Ninh bá phủ như một cơn lũ quét đen ngòm của tử thần. Ánh sáng lập lòe của hàng trăm ngọn đuốc đỏ rực bắt đầu hắt những vệt sáng ma quái lên những ngọn cây ngô đồng cao vút ngoài sân, biến màn đêm tuyết trắng thành một chiến trường rực lửa. Khí tức chết chóc của ngục tù và đao phủ đã áp sát ngay chân tường, báo hiệu giờ phán xét tàn khốc đã điểm. Phía tiền viện bắt đầu vang lên tiếng chó sủa râm ran lẫn trong tiếng la hét hoảng loạn của đám gia đinh gác cổng, tiếng phèng la báo động gõ dồn dập từng hồi chát chúa.
Trong căn phòng nhỏ chập chờn ánh nến, Ôn Thiệu Đường mặt cắt không còn giọt máu, hai bàn tay chàng bất giác run lên bần bật trước sự uy hiếp đáng sợ của đoàn quân đang ập tới. Chàng chưa từng thấy cảnh tượng này bao giờ, tiếng hô hào gầm thét ngoài phố như muốn xé nát tâm can chàng thư sinh chưa từng trải sóng gió. Nhưng đúng lúc ấy, một bàn tay nhỏ nhắn, thô ráp bởi những mũi kim gai nhưng vô cùng ấm áp và rắn rỏi đã vươn tới, nắm chặt lấy những ngón tay đang run rẩy của chàng. Thẩm Sở Vân đứng thẳng người trong manh áo bông chàm sờn rách, ánh mắt nàng lóe lên tia sáng kiên cường bất khuất như một ngọn đuốc không bao giờ tắt giữa giông bão. Nàng khẽ siết chặt tay phu quân, giọng nói trầm tĩnh vang lên bên tai chàng giữa tiếng vó ngựa rầm rập: "Thiệu Đường, bão táp tới rồi. Đừng sợ, có thiếp ở đây cùng chàng bước qua biển lửa!"

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Trọng Sinh Buông Tay, Hoa Khôi Vợ Cũ Khóc Cầu Tôi Quay Lại Ngôn Tình 11

Trọng Sinh Buông Tay, Hoa Khôi Vợ Cũ Khóc Cầu Tôi Quay Lại

Vô Thượng Cửu Thiên 3 ch.
Hoa Đô Thập Nhị Thoa Ngôn Tình 10

Hoa Đô Thập Nhị Thoa

Vô Thượng Cửu Thiên 8 ch.
Sáu Tháng Làm Vợ Anh Ngôn Tình 10

Sáu Tháng Làm Vợ Anh

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Khúc Gặp Gỡ Của Thời Gian Ngôn Tình 14

Khúc Gặp Gỡ Của Thời Gian

Vô Thượng Cửu Thiên 5 ch.
Ai Sẽ Ôm Em Khi Thấy Em Buồn Ngôn Tình 15

Ai Sẽ Ôm Em Khi Thấy Em Buồn

Vô Thượng Cửu Thiên 10 ch.
Phong Thần Châu Tiên Hiệp HOT 22

Phong Thần Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 15 ch.