Chương 3: Bán Tháo Điền Trang
Buổi trưa mùa đông xám xịt và ảm đạm bao trùm khắp kinh thành Thịnh Kinh, những đám mây chì nặng trĩu sà xuống sát rạt những mái ngói rêu phong của Vĩnh Ninh bá phủ; gió bấc từng cơn gầm rú rít qua những tàng cây khẳng khiu trơ trụi, cuốn theo những bông tuyết lả tả rơi rụng xuống mặt sân vắng lặng không một bóng người. Cái rét thấu xương thấu tủy của tiết tháng Chạp buốt giá như những mũi kim châm nhọn hoắt đâm xuyên qua từng lớp áo, khiến vạn vật đều co ro run rẩy trong sự im lìm ngột ngạt; ngay cả đàn chim sẻ nâu thường ngày ríu rít chuyền cành cũng trốn tiệt dưới những gờ mái ngói đóng băng trắng xóa. Toàn bộ cơ ngơi bề thế của Vĩnh Ninh bá phủ lúc này tựa như một con thuyền gỗ khổng lồ mục ruỗng đang chầm chậm chìm vào đáy biển sâu; bên ngoài tuy vẫn còn giữ được vẻ nguy nga lộng lẫy của bậc huân quý danh gia với những bức tường sơn đỏ son và những cánh cổng chạm trổ hoa văn tinh xảo, nhưng bên trong thì tử khí đã bắt đầu bốc lên ngùn ngụt, lạnh lẽo đến rợn người. Tam phòng tuy là một góc viện nhỏ nằm ở phía tây nam của hoa viên rộng lớn, nhưng vốn bị dòng chính Đại phòng cô lập và ghẻ lạnh suốt bao năm qua; mẹ kế Ngu thị nắm quyền quản gia luôn tìm cách cắt xén than sưởi và bổng lộc hàng tháng, khiến viện nhỏ vào mùa đông luôn lạnh ngắt như hầm băng, chỉ có chiếc lò đồng nhỏ đốt chút than vụn leo lét chẳng đủ sưởi ấm gian phòng. Phía sau hoa viên hoang vắng của Tam phòng, nơi góc tường rào ẩm mốc khuất sau lùm trúc vàng úa xơ xác, một cánh cửa ngách bằng gỗ mục phủ đầy rêu xanh khẽ cựa mình rung rinh phát ra những tiếng cọt kẹt rất nhỏ. Một bóng người gầy gò khoác chiếc áo tơi rách bươm tả tơi, đầu đội chiếc nón lá sụp che kín hơn nửa khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn, lấm lét đảo mắt nhìn quanh bốn phía như sợ hãi bất kỳ ánh mắt rình rập nào từ xa vọng lại. Người ấy bước từng bước ngập ngừng trên lớp tuyết mỏng chưa kịp tan, đôi giày vải sờn rách dẫm lên cành cây khô gãy tạo nên tiếng lạo xạo khẽ khàng, rồi nhanh như một chiếc bóng lọt qua khe cửa hẹp, lẻn thẳng vào gian mật thất nằm sâu sau hòn non bộ nhân tạo.
Đó chính là Tiền chưởng quầy, người gia bộc cố cựu đã ngoài năm mươi tuổi, từng theo chân phụ thân của Thẩm Sở Vân từ những ngày hàn vi buôn bán tơ lụa và thảo dược ở vùng sông nước Giang Nam trù phú. Cánh cửa gỗ dày khép lại ngay sau lưng lão, tiếng then cài lách cách rơi vào ổ khóa bằng đồng đặc mang lại chút cảm giác an toàn mong manh giữa buổi trưa lạnh giá cắt da cắt thịt. Tiền chưởng quầy cởi chiếc nón lá đẫm nước tuyết tan, lộ ra mái tóc hoa râm rối bời và khuôn mặt nhăn nheo hằn sâu những vết chân chim phong sương; lão thở dốc từng hồi liên tiếp, từng luồng khói trắng mờ đục phả ra từ kẽ môi tím tái vì lạnh buốt. Để đến được gian mật thất này, lão đã phải đi bộ vòng vèo qua ba con ngõ nhỏ lầy lội tuyết bẩn ở phía nam kinh thành, tận mắt chứng kiến các toán Cấm quân của Bắc Trấn Phủ Ty nai nịt gọn gàng, tay lăm lăm trường thương giáo mác đang ngấm ngầm lập trạm chốt chặn tại ngã tư Cửa Nam; ánh mắt sắc lẹm của những tên lính gác lục soát từng cỗ xe ngựa chở hàng khiến lão linh cảm rõ rệt một tai ương ngập đầu sắp sửa giáng xuống chốn kinh kỳ này. Gian mật thất này vốn là nơi chứa các hòm hương liệu cao cấp và sổ sách riêng của hồi môn mà nàng mang theo lúc xuất giá, bốn bề ốp ván gỗ thông khô ráo ngăn ẩm, mùi trầm hương dịu nhẹ thoang thoảng quyện cùng mùi long não thảo mộc Giang Nam tạo nên một bầu không khí trang nghiêm và ngột ngạt đến nghẹt thở. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hạt lạc đặt trên chiếc bàn gỗ lim mộc mạc, Thẩm Sở Vân ngồi đó tĩnh lặng như một pho tượng tạc bằng ngọc thạch; nàng mặc bộ y phục bằng vải thô màu cỏ úa giản dị, trên đầu không hề cài một chiếc trâm vàng hoa lệ nào của bậc thiếu phu nhân quyền quý, nhưng đôi mắt đen láy thăm thẳm của nàng lại bừng lên một tia sáng sắc sảo, lạnh lùng đến rợn người, khiến lão Tiền vừa ngẩng đầu nhìn lên đã bất giác rùng mình ớn lạnh.
Tiền chưởng quầy khẽ chắp hai tay trước ngực, giọng nói run rẩy vì hơi lạnh và cả sự hoang mang tột độ: "Bẩm tiểu thư, lão nô nhận được phong mật thư có phong ấn chu sa của người thì vội vã đội mưa tuyết chạy đến ngay, chẳng dám chậm trễ nửa bước chân; ngoài phố lớn lúc này yên ắng đến rợn người, nhưng binh lính đi tuần của nha môn kinh thành và cấm vệ quân lại đông hơn mọi ngày gấp mấy lần; các ngả đường ra vào kinh đô đều có trạm kiểm soát gắt gao; người buôn kẻ bán ngoài chợ ai nấy đều dọn hàng sớm, thì thào to nhỏ như sắp có giông bão lớn giáng xuống chốn kinh kỳ; chẳng hay tiểu thư khẩn cấp triệu lão nô vào mật thất giữa lúc tuyết rơi gió rét thế này là có điều chi đại sự cần căn dặn?"
Vân Nương không đáp lại ngay, nàng lặng lẽ nâng chén trà nóng đưa lên môi nhấp một ngụm nhỏ, nhưng chén trà trên bàn đã nguội ngắt tự bao giờ; ánh mắt nàng nhìn qua làn khói đèn mỏng manh, dừng lại thật lâu trên khuôn mặt đầy âu lo của người quản gia trung thành. Nàng nhớ tới người cha quá cố nơi quê nhà Giang Nam xa xôi, một người thầy thuốc kiêm thương nhân đôn hậu đã dành trọn cả đời mình để bốc thuốc cứu người và tích góp từng đồng tiền sạch sẽ; nàng nhớ tới những ngày êm đềm bên dòng sông nhỏ đầy hoa đăng rực rỡ xứ Ô Trấn, nơi phụ thân từng cầm tay dạy nàng cách phân biệt từng loại hương liệu quý, dạy nàng cách nhìn thấu lòng người và giữ vững tâm can trước sóng gió cuộc đời. Người từng dặn nàng rằng, một người phụ nữ xuất giá tòng phu nơi đất khách quê người, của cải hồi môn chính là rễ cọc sinh mệnh, không có nó thì dẫu có nhẫn nhịn đến đâu cũng sẽ bị người ta chà đạp đến tận bùn đen; thế nhưng giờ đây, chính khối của cải ấy lại sắp sửa trở thành chiếc thòng lọng siết cổ toàn bộ gia đình nếu nàng không kịp thời chặt đứt. Ba năm trước, khi nàng vừa bước chân vào cánh cổng son của Bá phủ, mẹ kế Ngu thị đã từng ngọt nhạt bóng gió đòi nàng nộp toàn bộ văn tự điền sản hồi môn cho phủ đệ quản lý chung; khi ấy nàng đã khéo léo viện dẫn luật lệ của Đại Khang triều quy định rõ ràng rằng của hồi môn của nữ tử xuất giá thuộc quyền sở hữu độc lập bất khả xâm phạm để kiên quyết giữ lại; hành động ấy khiến Đại phòng ôm hận trong lòng, Đại tẩu Tiền thị bĩu môi khinh miệt chê nàng xuất thân con buôn hạ đẳng, còn Ngu thị thì ngấm ngầm tìm mọi cách cắt xén chi tiêu của Tam phòng. Nàng lại nhớ tới thi thể lạnh ngắt của nha hoàn Trúc Nhi vừa được nàng tự tay giấu tạm dưới hầm than đá tối tăm sau vườn hoa vào rạng sáng ngày hôm nay; vết thương do mũi tên có rãnh xé thịt của Cấm quân cắm ngập vào bả vai Trúc Nhi, mùi chu sa độc tanh tưởi và lời trăn trối cuối cùng của con bé cứ như những ngọn lửa thiêu đốt tâm can nàng từng giây từng phút; trước khi nhắm mắt, Trúc Nhi đã nhét vào tay nàng chiếc ngọc bội gia truyền hình hoa mai của thân phụ, dặn nàng phải sống sót bằng mọi giá. Nỗi đau xót tột cùng như hàng ngàn mũi dao cào xé buồng phổi, nhưng trên gương mặt thanh tú nhã nhặn của nàng tuyệt nhiên không để lộ một gợn sóng cảm xúc nào; sự điềm tĩnh phi thường trong đôi mắt nàng lúc này chính là tấm khiên vững chắc nhất, là vũ khí duy nhất để nàng đương đầu với cơn giông bão ngút trời sắp sửa bổ nhào xuống đầu toàn bộ gia tộc.
Nàng khẽ thở dài một tiếng, âm thanh nhẹ như làn gió thoảng nhưng lại nặng trĩu sức nặng ngàn cân: "Lão Tiền, lão đã theo cha ta hơn ba mươi năm, từ lúc thân phụ ta còn là một gã thương nhân trẻ tuổi lặn lội khắp bến sông Ô Trấn gom từng kiện tơ tằm, hái từng gốc thảo dược; lão đã nhìn ta lớn lên từ thuở còn để chỏm, bế bồng ta qua bao ngày thơ bé; trong mắt ta, lão không chỉ là người quản lý sản nghiệp tài ba mà còn là người thân duy nhất mà ta có thể trao trọn niềm tin giữa chốn kinh thành đầy rẫy hiểm nguy lang sói này. Ba năm trước khi ta bước chân vào cánh cổng son của Vĩnh Ninh bá phủ, cha ta trước lúc lâm chung từng căn dặn rằng nhân tâm nơi kinh kỳ hiểm ác khôn lường, hào môn thế gia nhìn ngoài thì rực rỡ gấm hoa nhưng bên trong chứa đầy nọc độc lang sói; hôm nay ta mạo hiểm gọi lão vào đây, chính là để trao cho lão một trọng trách thiêng liêng liên quan trực tiếp đến sự sống còn của toàn bộ chúng ta, không được phép xảy ra nửa điểm sai sót."
Nói đoạn, Vân Nương giơ tay rút chiếc trâm cài bằng bạc trên mái tóc mai của mình xuống; chiếc trâm trông có vẻ đơn sơ thô phác, màu bạc đã hơi xỉn đi vì thời gian, nhưng phần đuôi nhọn lại được khéo léo gọt giũa thành hình một chiếc răng cưa nhỏ xíu, vừa vặn với một lỗ khóa bí mật nằm ẩn sâu dưới chân chiếc bàn gỗ lim. Nàng cúi người, tra đầu trâm vào khe hẹp rồi xoay nhẹ nửa vòng; một tiếng cạch giòn tan vang lên trong không gian tĩnh mịch, một ngăn kéo bí mật dưới đáy tráp gỗ từ từ trượt ra phía trước. Bên trong ngăn kéo lót vải lụa đỏ thắm là những cuộn giấy dày cộp được buộc chặt bằng dây gai thô, trên mỗi cuộn đều có dấu niêm phong màu đỏ tươi của quan nha sở tại và chữ ký tay son đỏ của thân phụ nàng lúc sinh thời.
Vân Nương đưa hai tay nâng toàn bộ xấp giấy tờ đó đặt lên mặt bàn gỗ lim, đẩy thẳng về phía trước mặt Tiền chưởng quầy; ánh đèn dầu vàng vọt rọi xuống những dòng chữ son nghiêm cẩn ghi rõ khế ước sở hữu ba mươi mẫu điền trang màu mỡ bậc nhất nằm ven bờ sông Vĩnh Định ở ngoại thành kinh kỳ, cùng hai bản văn tự chứng nhận quyền sở hữu hai cửa tiệm buôn bán hương liệu thảo mộc tọa lạc ngay trên con phố Chu Tước phồn hoa tấp nập. Ba mươi mẫu điền trang kia vốn là dải đất phù sa màu mỡ bậc nhất ven sông, ba năm liền chưa từng mất mùa, mỗi vụ thu hoạch đều cho ra hàng ngàn thạch thóc tốt, trang trại tằm tơ và vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả, mang lại nguồn lợi tức ổn định hàng trăm lượng bạc mỗi mùa thu; trên mảnh đất ấy có hơn hai mươi hộ tá điền cần cù chất phác của lão Điền đầu mục nương tựa sinh sống, quanh năm chăm chút từng bờ mương dẫn nước ngọt ngào; còn hai cửa tiệm hương liệu trên phố Chu Tước lại là huyết mạch thông thương quý giá, chuyên nhập khẩu xạ hương, trầm hương, long não và các vị thuốc nam bắc quý hiếm từ phương Nam chuyển ra kinh thành bán cho các phủ đệ vương công quý tộc, việc buôn bán đang vào độ thịnh vượng nhất của tháng Chạp. Đây là toàn bộ của hồi môn quý giá nhất mà thân phụ Thẩm gia đã chắt chiu dành dụm suốt nửa đời người buôn ba xuôi ngược, trải qua biết bao ghềnh thác hiểm trở trên sông nước mới tích góp được, nhằm mục đích làm rễ cọc sinh mệnh độc lập, làm chỗ dựa vững chắc cho nàng phòng thân khi phải gả vào chốn danh gia vọng tộc đầy rẫy bất trắc; nhờ có khối sản nghiệp độc lập này mà ba năm qua, dù làm dâu thứ trong một phủ Bá tước quyền thế, nàng vẫn ngẩng cao đầu sống tự lập, không phải cúi mình ngửa tay phụ thuộc vào bất kỳ đồng tiền bổng lộc nào nơi hậu viện.
Tiền chưởng quầy mở to đôi mắt đục ngầu, nhìn xấp khế ước quen thuộc mà ngón tay lão đã từng nâng niu qua hàng trăm lần kiểm kê sổ sách mỗi dịp cuối năm; lão run giọng hỏi, trong lòng dấy lên một nỗi bất an tột cùng: "Tiểu thư... đây chẳng phải là toàn bộ căn cơ hồi môn của người sao? Mùa màng năm nay tuy có chút giá rét khắc nghiệt nhưng ba mươi mẫu ruộng màu mỡ ven sông Vĩnh Định kia vẫn thu về mấy trăm thạch thóc tốt, đất đai màu mỡ chưa từng mất mùa bao giờ; hai tiệm hương liệu trên phố Chu Tước việc làm ăn cũng đang vào độ thịnh vượng nhất của tháng Chạp, khách khứa ra vào nườm nượp mua sắm hương trầm tế lễ cuối năm, các phủ quan lớn đều đặt cọc mua hàng tết; cớ sao người lại đem toàn bộ khế ước gốc ra giữa lúc này?"
Vân Nương nhìn thẳng vào mắt lão Tiền, ánh mắt nàng sắc lạnh như lưỡi kiếm vừa rút khỏi bao, từng câu từng chữ thốt ra từ đôi môi mỏng đều đanh thép như tiếng đá gõ vào kim loại: "Lão Tiền, hãy nghe cho thật rõ từng lời ta nói đây: Lão hãy cầm lấy toàn bộ đống khế ước điền trang và cửa tiệm này, lập tức ra ngoài phố, tìm cho bằng được các thương hội lớn nhất ở kinh thành, bán tháo toàn bộ số sản nghiệp này ngay trong buổi chiều hôm nay; bất kể là ai mua, bất kể họ ép giá đến mức nào, dù chỉ bán được với nửa giá, thậm chí bằng một phần ba giá trị thực tế của thị trường, lão cũng phải ký giấy trao tay, sang tên đổi chủ dứt điểm tại nha môn ngay trước khi mặt trời lặn!"
Lời nói của Vân Nương như một tiếng sấm sét giữa trời quang nổ tung bên tai Tiền chưởng quầy, làm cho lão già cả đời từng trải chốn thương trường cũng phải bàng hoàng rụng rời chân tay; lão ngã quỵ xuống nền gạch buốt giá, hai đầu gối đập mạnh xuống sàn phát ra tiếng thịch nặng nề, đôi bàn tay run rẩy chắp lại van lơn trong nước mắt: "Tiểu thư! Người mất trí rồi sao? Đây là mồ hôi, là nước mắt, là xương tủy cả đời của lão gia gom góp lại để lại cho người phòng thân! Ngày người xuất giá từ Ô Trấn lên kinh kỳ, lão gia trước khi nhắm mắt xuôi tay đã nắm chặt tay lão nô dặn dò trăm ngàn lần rằng ba mươi mẫu ruộng và hai tiệm hương liệu này chính là lá bùa hộ mệnh cuối cùng của người; người làm dâu thứ trong một phủ Bá tước quyền thế, phu quân Ôn Thiệu Đường thì chỉ biết vùi đầu vào kinh thư thánh hiền chẳng màng thế sự, người lại không có con nối dõi, mẹ kế Ngu thị thì cay nghiệt ngày đêm dòm ngó bòn rút của hồi môn, Đại tẩu Tiền thị thì kiêu căng hợm hĩnh khinh miệt dâu thứ; nếu hôm nay người bán tháo đi toàn bộ chỗ dựa tiền bạc này thì ngày sau người sống làm sao nổi giữa những mưu mô toan tính nơi hậu viện? Xin tiểu thư nghĩ lại, ngàn lần vạn lần xin tiểu thư hãy nghĩ lại cho thân phận của mình!"
Lão Tiền vừa khóc vừa đập trán xuống nền gạch, giọng lão nghẹn ngào xé ruột xé gan: "Tiểu thư ơi! Ba mươi mẫu ruộng ven sông Vĩnh Định kia, năm xưa lão gia phải lặn lội suốt ba tháng ròng rã, tiếp đãi biết bao quan lại nha môn, bồi đắp từng con mương dẫn nước mới mua trọn được mảnh đất bờ xôi ruộng mật ấy; bao nhiêu gia đình tá điền của lão Điền coi người như ân nhân cứu mạng, năm ngoái khi gặp đợt hạn hán nhỏ, chính tiểu thư đã xuất bạc riêng đào thêm giếng khơi cứu cả vụ lúa nếp, vợ lão Điền sinh con trai còn xin lấy họ Thẩm để nhớ ơn cứu đói; hai cửa tiệm hương liệu trên phố Chu Tước là nơi lão gia đặt trọn tâm huyết, từng viên long não, từng thanh quế hương đều được tuyển lựa kỹ càng từ phương Nam mang ra; bao nhiêu mồ hôi nước mắt của đám gia nhân chúng ta đổ xuống nơi đó suốt hai mươi năm qua; bây giờ bán tháo trong một buổi chiều với giá rẻ mạt như cho không, khác nào đem ruột gan của chính mình vứt cho chó ăn? Tiểu thư, người hãy thương lấy vong linh của lão gia dưới suối vàng, đừng hành động bồng bột như vậy!"
Nhìn thấy giọt nước mắt già nua của người quản gia trung bộc lăn dài trên đôi gò má gầy guộc răn reo, trái tim Vân Nương như thắt lại vì xót xa; nhưng nàng không cho phép bản thân mềm lòng trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc này. Nàng đứng dậy, vòng qua chiếc bàn gỗ lim, cúi người dùng hai bàn tay mảnh dẻo đỡ lấy cánh tay gầy gò của Tiền chưởng quầy, dùng sức kéo lão đứng dậy rồi ấn lão ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông; bàn tay nàng áp chặt lên mu bàn tay lạnh ngắt của lão, truyền đi một luồng hơi ấm kiên định và quả quyết lạ thường.
Vân Nương ghé sát tai lão Tiền, hạ thấp giọng xuống mức chỉ đủ cho hai người nghe thấy, từng lời nói như khắc sâu vào tâm khảm: "Lão Tiền, lão hãy tỉnh táo lại mà nhìn cho rõ thế cục! Người còn thì của còn, của mất đi rồi ngày sau bằng đôi bàn tay và khối óc này ta còn có thể gầy dựng lại từ đầu; nhưng nếu người đã mất mạng, đầu rơi máu chảy thì đống giấy tờ khế ước này rốt cuộc để lại cho ai hưởng? Lão có biết không, cái phủ Vĩnh Ninh bá nguy nga lộng lẫy này sắp sửa biến thành một bãi tha ma chôn chung, thành một vạc dầu sôi lửa bỏng rồi!"
Tiền chưởng quầy tròn mắt kinh hãi, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng, hai mắt lão nhìn chằm chằm vào dung nhan lạnh tanh của tiểu thư: "Bãi tha ma... vạc dầu sôi... tiểu thư... người nói vậy rốt cuộc là có ý gì? Bá phủ xưa nay là huân quý triều đình, có tước vị thế tập, hoàng ân bao la, sao có thể trong chớp mắt biến thành bãi tha ma được?"
Vân Nương hít một hơi thật sâu, ánh mắt nàng liếc qua khung cửa sổ đóng kín mít, nơi gió bấc vẫn đang gầm rú từng cơn liên hồi: "Sáng sớm hôm nay, nha hoàn Trúc Nhi đã trút hơi thở cuối cùng trong tay ta sau khi trúng tên độc của cấm vệ quân; con bé dùng cả tính mạng để mang về một tin tức kinh thiên động địa mà cả kinh thành này còn chưa ai hay biết: Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm và đích trưởng tử Ôn Diệu Tổ vì thói xa hoa vô độ, đam mê cờ bạc và muốn duy trì danh thế hão huyền đã câu kết với quan lại thối nát của Binh bộ, lén lút tuồn bán hàng vạn kiện thiết giáp và vũ khí quân dụng qua cửa ải Hắc Thủy cho man tộc Bắc Địch để trục lợi hàng chục vạn lượng bạc ròng; chuyến hàng lậu gần nhất đã bị Cấm quân Bắc Trấn Phủ Ty giăng lưới bắt sống toàn bộ tại biên giới phía Bắc; hoàng đế đã nổi trận lôi đình, mật chỉ phong tỏa kinh thành và chuẩn bị hạ lệnh tịch biên toàn bộ gia sản, bắt giam tru di tam tộc Vĩnh Ninh bá phủ trong vòng không quá hai ngày tới!"
Mỗi lời Vân Nương thốt ra như một nhát búa tạ giáng thẳng vào thần kinh của Tiền chưởng quầy, khiến toàn thân lão run rẩy bần bật, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang xám ngoét như tro tàn; lão mở to miệng nhưng không thốt nên lời, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi liên tiếp. Tru di tam tộc, tịch biên gia sản, đó là bản án tàn khốc và ghê rợn nhất của vương triều Đại Khang, một khi Cấm quân kéo đến vây phủ thì ngọc đá đều tan, gà chó cũng không tha; đàn ông con trai từ mười sáu tuổi trở lên đều phải chịu tội chém đầu bêu xác nơi ngã tư chợ, nữ quyến thì bị tống giam vào Chiêu Ngục, sau đó sung vào giáo phường ty chịu muôn vàn nhục nhã ê chề hoặc lưu đày ngàn dặm làm nô lệ nơi biên thùy giá buốt quanh năm tuyết phủ; gia sản từ dinh thự, ruộng vườn đến manh áo dải yếm đều bị tịch thu sung công khố.
Vân Nương nắm chặt lấy bả vai lão Tiền, giọng nói đanh thép không chút dao động: "Lão hiểu rồi chứ? Một khi Cấm quân phá cổng xông vào, toàn bộ phủ đệ này sẽ bị phong tỏa như nêm cối; bất kỳ hòm xiểng, vàng bạc, châu báu, tơ lụa hay khế ước nào còn sót lại trong phủ đều sẽ bị niêm phong sung vào quốc khố; nếu ba mươi mẫu điền trang và hai tiệm hương liệu kia vẫn còn đứng tên ta trên sổ sách của nha môn, triều đình sẽ coi đó là tài sản của dâu con Bá phủ và lập tức tịch thu sạch bách; không những thế, đám mật thám tàn bạo của Bắc Trấn Phủ Ty sẽ lần theo dấu vết tìm đến tận tiệm hương liệu trên phố Chu Tước, bắt giam toàn bộ gia nhân tiểu nhị vào ngục tối khảo đả tra tấn dã man để truy tìm tài sản giấu giếm; đến lúc đó, không chỉ có ta mất mạng, mà ngay cả lão và mấy chục mạng người trung thành theo ta từ Giang Nam lên cũng sẽ chết oan chết uổng dưới lưỡi đao vô tình của đao phủ!"
Nàng tiếp tục phân tích sâu sắc hơn: "Lão có nghĩ đến số phận của gia đình lão Điền và hơn hai mươi hộ tá điền ven sông Vĩnh Định không? Nếu điền trang bị quan nha tịch thu sung công khố, bọn họ sẽ bị quy vào diện nông nô của gia tộc phạm tội phản quốc, nhẹ thì bị quan binh đuổi cùng giết tận tước đoạt toàn bộ thóc giống mùa đông, nặng thì bị bắt đi đày làm phu dịch biên thùy đào hào đắp lũy đến kiệt sức mà chết; chi bằng trong chiều nay lão đem bán đứt cho các hội buôn lớn, họ có tiền tài có thế lực, họ sẽ tiếp tục thuê mướn tá điền cày cấy, con cái của lão Điền vẫn còn có manh áo manh quần và bát cơm ấm bụng qua mùa đông giá rét này; đó mới là cách cứu người thực sự, giữ lại cái gốc nghĩa tình cho Thẩm gia chúng ta!"
Lão Tiền nghe đến đây thì toàn thân toát mồ hôi lạnh dù gió đông ngoài kia vẫn rít gào buốt giá; sự kinh hãi ban đầu dần nhường chỗ cho sự thấu hiểu sâu sắc trước tầm nhìn xa trông rộng và sự quyết đoán phi thường của tiểu thư. Lão nhìn người con gái mảnh mai trước mặt, một thiếu phụ mới ngoài hai mươi tuổi, ngày thường chỉ lặng lẽ lo toan việc nội trợ may vá nơi xó vườn, vậy mà khi đứng trước bờ vực diệt vong của cả một dòng họ lại có thể giữ được cái đầu lạnh tanh và sự phán đoán chuẩn xác đến từng đường tơ kẽ tóc như thế này. Lão nhận ra rằng, nếu không dứt khoát chặt đứt cánh tay để tự cứu mạng, thì tất cả bọn họ sẽ cùng chìm xuống bùn đen tanh hôi của Bá phủ mà không còn lấy một cơ hội ngóc đầu lên.
Vân Nương tiếp tục căn dặn, giọng nói của nàng rành rọt, khúc chiết, không để sót một kẽ hở nào trong kế hoạch tẩu tán tài sản: "Bán tháo trong chiều nay là con đường sống duy nhất của chúng ta; nhưng lão phải nhớ kỹ những điều ta dặn sau đây: Thứ nhất, tuyệt đối không được tham lam nhận vàng nén lớn, bạc thỏi nguyên khối hay những thứ trâm ngọc, ngọc bích cồng kềnh; những thứ đó một khi Cấm quân khám xét người sẽ bị phát hiện và lột sạch ngay tức khắc, thậm chí còn chuốc thêm tội danh giấu giếm của cải triều đình. Toàn bộ tiền bán đất và tiệm phải quy đổi ra hai loại duy nhất: loại thứ nhất là bạc vụn nhỏ, cắt tỉa cẩn thận thành từng mẩu vụn chỉ nặng từ một đến hai lượng, góc cạnh mài nhẵn để tiện khâu giấu vào nẹp áo vải thô; loại thứ hai là ngân phiếu của tiền trang Tứ Hải, chỉ lấy loại mệnh giá năm mươi đến một trăm lượng bạc nguyên, bởi ngân phiếu Tứ Hải có chi nhánh thông hành khắp mười ba tỉnh thành thiên hạ, giấy mỏng dễ cất giấu trong lớp lót y phục mà không ai để ý."
Lão Tiền gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, ánh mắt lộ rõ vẻ thán phục khôn cùng: "Lão nô hiểu rồi! Tiền trang Tứ Hải thanh danh uy tín bậc nhất khắp trong nam ngoài bắc, tiền trang này do các thương gia lớn liên kết lập ra, chỉ nhận ngân phiếu không nhận người, người cầm phiếu đến đổi bạc không cần xuất trình giấy thông hành của quan phủ; sau này dù có trôi dạt đến chân trời góc bể nào cũng có thể đổi ra bạc trắng để sinh nhai; tiểu thư tính toán chu toàn như thần, lão nô xin ghi lòng tạc dạ từng lời!"
Vân Nương khẽ mỉm cười cay đắng, nàng vỗ nhẹ lên vai lão Tiền: "Còn một việc hệ trọng nữa: Chiều nay khi lão đi giao dịch, hãy làm cho thật kín kẽ; hãy tìm đến các hội buôn lớn của đất Sơn Tây hoặc thương nhân tơ lụa phía Nam đang có sẵn lượng tiền mặt lớn tại kinh thành; nói với họ rằng chủ nhân cần tiền gấp để giải cứu một chuyến thuyền hàng lụa quý bị nạn chìm dưới khúc sông Hoàng Hà, chấp nhận bán rẻ đứt đoạn lấy bạc mặt trong ngày; sau khi công chứng giấy tờ tại nha môn xong xuôi, lão hãy lập tức đến tiền trang đổi ngân phiếu và sai người cắt bạc vụn ngay tại chỗ, tuyệt đối không được nán lại nửa khắc, cũng không được để bất kỳ ai bám theo tung tích của mình."
Nàng dừng lại một chút, ánh mắt lóe lên vẻ sắc sảo: "Nếu họ có ép giá xuống bốn ngàn năm ngàn lượng, lão cũng không được chần chừ; thà lấy về năm ngàn lượng bạc trắng cứu mạng còn hơn ôm khế ước mười vạn lượng mà đầu rơi xuống đất; tiền bạc đối với chúng ta bây giờ là công cụ sinh tồn, không phải thứ để tích lũy khoe khoang; chỉ cần có bạc vụn và ngân phiếu Tứ Hải trong tay, vào trong ngục tối chúng ta mới có thể mua chuộc ngục tốt, đổi lấy từng bát cháo nóng, từng manh chăn khô và thuốc thang cầm cự mạng sống; trong chốn lao tù tăm tối của Bắc Trấn Phủ Ty, một nén vàng to chỉ khiến bọn cai ngục nảy lòng tham giết người diệt khẩu, nhưng từng mẩu bạc vụn nhỏ một hai lượng lại là thứ bọn chúng có thể lén lút nhét ngay vào túi áo lót mà không sợ đồng liêu nhòm ngó; lão nhớ cho thật kỹ điều đó!"
Tiền chưởng quầy chắp tay cúi rạp người, trong mắt bừng lên ngọn lửa quyết tâm của một người gia bộc trung kiên sẵn sàng xả thân vì chủ: "Tiểu thư yên tâm! Lão già này lăn lộn chốn thương trường kinh kỳ mấy mươi năm, quen biết không ít chưởng quầy máu mặt của các bang hội buôn bán lớn; lão biết rõ ai có đủ tiền mặt và ai biết giữ kín miệng; xin người cứ ở trong phủ đợi tin, chậm nhất là khi trời vừa chập tối, lão nô nhất định sẽ mang trọn vẹn số bạc vụn và ngân phiếu về giao tận tay người!"
Nói xong, lão Tiền cẩn thận gom toàn bộ xấp khế ước nhét sâu vào trong lớp áo lót rách nát, buộc chặt dải đai lưng bằng vải thô, rồi khoác lại chiếc áo tơi tả tơi lên người. Lão đội chiếc nón lá ướt sũng tuyết, khẽ hé mở cánh cửa gỗ ngách, đảo mắt quan sát một lượt xung quanh; thấy hoa viên vẫn vắng tanh không một bóng người, lão cúi đầu chào từ biệt Vân Nương rồi thoăn thoắt lách mình qua khe cửa, hòa mình vào màn mưa tuyết mịt mùng đang mỗi lúc một dày đặc ngoài kia.
Cánh cửa ngách đóng lại, tiếng then cài buông xuống, trả lại gian mật thất sự yên ắng đến rợn người; Vân Nương đứng tựa lưng vào mép bàn gỗ lim, lắng nghe tiếng bước chân của lão Tiền xa dần rồi tan biến hẳn trong tiếng gió gầm rú. Nàng thở hắt ra một hơi dài, đưa tay vuốt lại những lọn tóc mai lòa xòa trước trán; ngực nàng phập phồng theo từng nhịp đập gấp gáp, mồ hôi lạnh rỉ ra ướt đẫm tấm lưng áo thô. Nàng biết bước đi đầu tiên này mang tính quyết định sống còn; nếu lão Tiền trót lọt tẩu tán được sản nghiệp trong chiều nay, nàng sẽ có đủ ngân lượng để xoay xở trong ngục tối; còn nếu có bất kỳ sơ suất nào để lọt tin tức ra ngoài, chiếc thòng lọng của án tru di sẽ lập tức siết chặt lấy cổ họng của nàng trước thời hạn.
Nàng bước ra khỏi mật thất, men theo con đường lát đá quanh co phủ đầy tuyết trắng quay trở về gian phòng chính của Tam phòng. Nhìn qua khe cửa sổ thư phòng bên cạnh, nàng thấy Ôn Thiệu Đường vẫn đang ngồi ngay ngắn bên bàn đọc sách, ngọn nến thơm thắp sáng khuôn mặt tuấn tú, thư sinh của chàng; chàng chăm chú nắn nót từng nét chữ chân phương trên trang giấy bản, thỉnh thoảng lại dừng bút mỉm cười đăm chiêu như đang ngâm ngợi một vần thơ tuyệt tác của người xưa. Nhìn thấy vẻ mặt vô tư lự, thánh thiện và ngây ngô của phu quân, lòng Vân Nương lại dâng lên một nỗi xót xa vô bờ bến. Chàng sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong những lời ca tụng sáo rỗng của thi thư thánh hiền, chưa từng nếm trải mùi vị tanh tưởi của quyền lực hay sự hiểm độc của lòng người nơi quan trường; chàng nào hay biết rằng chiếc áo gấm chàng vừa ướm thử hôm qua hay những tấm thiệp mời dự hội ngâm thơ thưởng mai kia thực chất chỉ là những chiếc vòng hoa phủ lên cỗ quan tài đang chực chờ nuốt chửng cả gia tộc.
Vân Nương khẽ đẩy cửa bước vào thư phòng, trên tay bưng chiếc khay con đựng một ấm trà gừng nóng hổi bốc khói nghi ngút; thấy thê tử bước vào, Ôn Thiệu Đường vội vàng đặt bút lông xuống nghiên mực, mỉm cười rạng rỡ đón lấy chén trà từ tay nàng: "Vân Nương, trời lạnh thế này sao nàng không ở trong phòng sưởi ấm mà lại ra ngoài? Ta vừa chép xong một đoạn trong khúc thi ca mùa đông, chữ viết hôm nay rất có thần thái; nàng xem, đợi qua đợt rét này, ta sẽ mang tặng cho các huynh đệ tại thi xã ngâm vịnh."
Chàng lại hào hứng trải rộng một tờ giấy tuyên thành vừa viết xong, chỉ vào những dòng chữ mực đen bóng bẩy: "Nàng xem, đây là bài luận về đức độ của bậc quân vương và sự thịnh trị thái bình của triều đình; phụ thân và đại ca ngày đêm lo toan việc quân cơ nơi biên ải, ta là con thứ bất tài không thể xông pha trận mạc, chỉ mong dùng ngòi bút này để tán dương công đức của triều đình, làm rạng danh cho gia tộc Vĩnh Ninh bá chúng ta."
Nhìn ánh mắt trong veo không gợn chút bụi trần của chồng, từng lời nói ngây ngô của chàng như những nhát dao cứa vào tim Vân Nương; nàng nuốt ngược giọt lệ vào lòng, nhẹ nhàng đặt tay lên vai chàng, mỉm cười dịu dàng nói: "Phu quân viết chữ rất đẹp, ý tứ rất thanh cao; nhưng mùa đông năm nay buốt giá hơn mọi năm, gió độc hoành hành, chàng chớ nên ra ngoài nhiều kẻo nhiễm phong hàn; thiệp mời dự tiệc ngâm thơ của các công tử thế gia chàng hãy viết thư từ chối hết đi, ở yên trong thư phòng tĩnh tâm đọc sách, đó mới là việc của kẻ sĩ quân tử."
Ôn Thiệu Đường ngẩn người một chút, chàng gật đầu ngoan ngoãn: "Vân Nương nói phải, ta cũng thấy mấy ngày nay kinh thành có vẻ xao động khác thường, không khí ngột ngạt khó tả; thôi thì ta nghe lời nàng, ở nhà bầu bạn cùng thi thư và nàng là vui nhất rồi."
Nàng nhìn phu quân, ánh mắt sâu thẳm khẽ dặn thêm: "Chàng hãy nhớ kỹ, những bản thảo cổ tịch mà chàng sao chép từ Văn Uyên các, cùng chiếc thẻ bài điểm danh bằng gỗ đàn hương và ấn ký tàng thư son đỏ, chàng phải luôn giữ chặt trong túi áo lót bên người, tuyệt đối không được để thất lạc hay đưa cho bất kỳ ai mượn; đó là công sức khảo cứu của chàng, cũng là kỷ vật quý giá nhất của đời người đèn sách."
Nàng nhấn mạnh từng chữ: "Dù là phụ thân hay đại ca có hỏi mượn, chàng cũng tuyệt đối không được giao ra; những thứ đó là bằng chứng duy nhất chứng minh tâm huyết và sự trong sạch của chàng trong những ngày tháng miệt mài nơi viện sách; hãy hứa với thiếp rằng chàng sẽ luôn giữ chúng bên mình như tính mạng của chính mình."
Ôn Thiệu Đường tuy có chút ngạc nhiên trước lời dặn dò trang trọng khác thường của thê tử, nhưng vốn tính kính trọng và tin tưởng nàng tuyệt đối, chàng liền gật đầu lia lịa: "Nàng yên tâm, thẻ bài và ấn ký khảo duyệt của Văn Uyên các ta luôn mang theo bên mình như bùa hộ mệnh, không bao giờ rời nửa bước."
Dặn dò phu quân xong xuôi, Vân Nương lui về gian phòng ngủ của mình; thời gian của buổi chiều hôm ấy trôi qua chậm chạp và nặng nề tựa như từng giọt chì nóng rỉ rả rơi xuống đáy lòng; tiếng gió rít qua khe cửa sổ nghe như tiếng than khóc ai oán của những oan hồn nơi cõi âm. Vân Nương không ngồi yên một chỗ, nàng cẩn thận thu dọn những vật dụng cần thiết trong gian phòng ngủ: nàng chọn ra hai bộ y phục may bằng vải nỉ sẫm màu cũ kỹ nhất của Thiệu Đường, kiểm tra lại từng chiếc cúc áo, từng đường kim mũi chỉ; nàng gom lại những hoàn thuốc chỉ huyết, thuốc tán giải độc và viên thuốc trị sốt rét gia truyền mà nàng đã cất công điều chế từ các loại thảo mộc quý của tiệm hương liệu; tất cả đều được xếp ngay ngắn trong một chiếc túi vải nhỏ giấu kín dưới gầm giường.
Mỗi một khắc trôi qua là một lần tim nàng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực; nàng liên tục đảo mắt nhìn đồng hồ cát đặt trên góc bàn phấn, từng hạt cát mịn li ti chầm chậm rơi xuống như đang đếm ngược từng canh giờ sinh tử cuối cùng của Vĩnh Ninh bá phủ. Nàng lo lắng tự hỏi: Liệu lão Tiền có gặp trắc trở gì trên phố không? Liệu các thương hội có ép giá quá đáng hay sinh nghi ngờ mà báo quan không? Liệu Cấm quân có bất thần ập đến trước giờ hẹn không? Hàng ngàn câu hỏi xoay vần như bão lốc trong tâm trí, nhưng bề ngoài nàng vẫn giữ vững vẻ bình thản đến lạ kỳ, không để lộ ra một chút sơ hở nào trước mặt đám nha hoàn phục dịch của viện lớn thỉnh thoảng đi qua.
Trong khi đó ngoài phố lớn của kinh thành Thịnh Kinh, Tiền chưởng quầy đang phải trải qua những giờ phút căng thẳng đến nghẹt thở; gió bấc thốc từng cơn tuyết lạnh vào mặt làm rát bỏng làn da nhăn nheo của lão già. Với kinh nghiệm mấy mươi năm buôn ba, lão không dám đến các tiệm cầm đồ nhỏ lẻ vì sợ bị dòm ngó; lão đi thẳng vào khu Nam thành, tìm đến tổng hội buôn Vạn Hưng của các thương nhân đất Sơn Tây; đây là hội buôn nổi tiếng giàu có nứt đố đổ vách, chuyên thu mua điền sản và mở mang các tuyến buôn bán tơ lụa ngũ cốc liên tỉnh.
Bước vào phòng khách lớn của Vạn Hưng thương hội, Tiền chưởng quầy nén sự run rẩy trong lòng, trưng ra vẻ mặt của một quản gia đang lâm vào cảnh đường cùng vì tai bay vạ gió; lão lấy ra xấp khế ước đỏ rực của ba mươi mẫu điền trang màu mỡ ven sông Vĩnh Định và hai tiệm hương liệu phố Chu Tước, gặp trực tiếp đại chưởng quầy của thương hội. Lão bịa ra câu chuyện rằng chủ nhân ở quê nhà gặp nạn lớn, một chuyến thuyền chở vải lụa thượng hạng nhập từ phương Nam bị đắm giữa khúc sông Hoàng Hà nước xiết, cần gấp một lượng tiền mặt khổng lồ trong ngày hôm nay để đền bù hợp đồng và cứu vớt người nhà, chấp nhận bán đứt toàn bộ sản nghiệp với giá rẻ như cho không.
Đại chưởng quầy của Vạn Hưng thương hội họ Mã là một con cáo già khét tiếng nơi thương trường, nhìn thấy khế ước thật, con dấu thật của nha môn cùng vị trí đắc địa của điền trang và cửa tiệm thì trong lòng mừng rơn; nhưng ngoài mặt hắn vẫn làm ra vẻ khó khăn, ép giá không thương tiếc: "Mảnh đất và hai tiệm này ngày thường chí ít cũng đáng giá một vạn hai ngàn lượng bạc; nhưng lúc này cuối năm tiền mặt eo hẹp, lại cần lấy tiền ngay trong buổi chiều, thương hội chúng ta chỉ có thể trả cho ông năm ngàn ba trăm lượng bạc trắng; nếu đồng ý thì lập tức ra nha môn làm thủ tục sang tên đổi chủ, còn nếu không thì mời ông đi nơi khác!"
Nghe đối phương ép giá chưa bằng một nửa giá trị thực tế, tim lão Tiền đau như có dao cứa từng khúc ruột; nhưng nhớ tới lời dặn đanh thép của Vân Nương: "Thà lấy về năm ngàn lượng bạc cứu mạng còn hơn ôm khế ước mười vạn lượng mà đầu rơi xuống đất", lão Tiền cắn răng gật đầu dứt khoát: "Được! Năm ngàn ba trăm lượng thì năm ngàn ba trăm lượng! Nhưng ta có một điều kiện: Năm ngàn lượng phải đổi bằng ngân phiếu của tiền trang Tứ Hải loại một trăm lượng bạc; còn ba trăm lượng kia phải chi trả bằng bạc vụn cắt nhỏ từ một đến hai lượng, không được thiếu một đồng!"
Thấy bên bán dứt khoát khác thường, đại chưởng quầy Vạn Hưng thương hội lập tức phái người theo Tiền chưởng quầy đến nha môn Hộ bộ khu Nam thành; nhờ vào các mối quan hệ tiền bạc sẵn có của thương hội lớn, các viên thư lại nha môn nhanh chóng làm thủ tục sang tên đổi chủ, đóng dấu son xác nhận chuyển nhượng toàn bộ ba mươi mẫu điền trang và hai tiệm hương liệu sang tên của hội buôn Sơn Tây ngay trước giờ đóng cửa nha môn. Ngay sau đó, lão Tiền theo họ sang tiền trang Tứ Hải bên cạnh, nhận đủ năm mươi tờ ngân phiếu mệnh giá một trăm lượng và trực tiếp giám sát thợ bạc dùng búa sắt và kìm lớn cắt nhỏ hơn ba trăm lượng bạc trắng thành từng mẩu vụn tròn trịa; tiếng búa gõ lách cách vang lên trong căn phòng kín của tiền trang như từng nhịp đập của sự sống đang được giải thoát.
Khi mọi việc hoàn tất, bóng chiều tà bắt đầu ngả dần về hướng tây, nhuộm đỏ rực một góc trời kinh kỳ bằng một thứ ánh sáng đỏ quạch như máu loãng; tuyết trên mái ngói bắt đầu tan chảy thành từng giọt nước lạnh buốt rớt tong tỏng xuống thềm đá hoa viên. Tiếng chuông chiều từ ngôi chùa cổ phía xa xa ngân vang từng hồi trầm đục, báo hiệu giờ đóng cửa của các cổng thành và các nha môn trong nội đô; bóng tối sập xuống rất nhanh, nuốt chửng những tàng cây xơ xác trong một màn sương mù mịt mùng và u ám.
Đúng vào lúc tiếng mõ canh một vừa điểm từ tháp vọng lâu đầu phố, phía sau cánh cửa ngách của hoa viên bỗng vang lên tiếng gõ khẽ khàng nhưng dứt khoát: ba tiếng dài, tiếp theo là hai tiếng ngắn ngắt quãng. Đó chính là ám hiệu bí mật mà Vân Nương và Tiền chưởng quầy đã quy ước từ trước; nghe thấy âm thanh quen thuộc ấy, tảng đá đè nặng trong lồng ngực nàng bấy lâu nay mới khẽ dịch chuyển đôi chút. Nàng khoác vội chiếc áo choàng màu chàm, bước thoăn thoắt trên nền tuyết lạnh ra mở then cài cửa ngách.
Cánh cửa vừa hé mở, một luồng gió lạnh thấu xương ùa vào mang theo hơi thở dồn dập của Tiền chưởng quầy; lão lách người vào trong, trên vai vác theo một chiếc đòn gánh ngụy trang bằng hai bó củi mục ướt sũng tuyết, nhưng bên dưới lớp củi ấy lại treo lủng lẳng ba chiếc bọc vải thô dày cộp màu xám tro. Thân hình lão Tiền ướt đẫm từ đầu đến chân, những giọt nước tuyết tan bám trên râu tóc đã bắt đầu đông cứng lại thành những giọt băng li ti, đôi môi lão run rẩy không ngừng vì lạnh, nhưng trong đôi mắt trũng sâu lại ánh lên niềm vui sướng nghẹn ngào của người vừa hoàn thành một đại sự kinh thiên động địa.
Vân Nương nhanh chóng đóng chặt then cửa, đỡ lấy chiếc đòn gánh trên vai lão rồi cùng lão rảo bước vào sâu trong gian mật thất; nàng chốt chặt cửa trong, thắp thêm một ngọn nến sáp để xua đi bóng tối dày đặc đang bao trùm căn phòng.
Tiền chưởng quầy thở hổn hển, lão đặt ba chiếc bọc vải thô lên mặt bàn gỗ lim; tiếng kim loại va chạm vào nhau phát ra những âm thanh nặng trịch, chắc nịch nhưng lại không hề có tiếng leng keng lanh lảnh của những thỏi bạc đúc nguyên khối. Lão đưa tay mở nút thắt của chiếc bọc thứ nhất, để lộ ra hàng trăm mẩu bạc vụn sáng lấp lánh dưới ánh nến; từng mẩu bạc đều được cắt gọt tỉ mỉ, mài nhẵn các góc nhọn thành những viên nhỏ cỡ đốt ngón tay cái, mỗi viên nặng đúng từ một đến hai lượng bạc trắng. Chiếc bọc thứ hai và thứ ba cũng chứa đầy những mẩu bạc vụn tương tự, tổng cộng nặng trĩu tay ước chừng hơn ba trăm lượng bạc nguyên.
Tiếp đó, Tiền chưởng quầy run rẩy thò tay vào sâu trong lớp áo lót sát ngực, nơi hơi ấm cơ thể của lão vẫn còn vương vấn, rút ra một chiếc túi da hươu nhỏ được khâu chỉ sáp chống thấm nước tuyệt đối. Lão mở miệng túi da, cẩn thận lấy ra một xấp giấy mỏng tanh nhưng dai mịn, trên bề mặt in hoa văn chìm tinh xảo của tiền trang Tứ Hải cùng dấu triện đỏ tươi như son của chưởng quản đại nhân; đó là năm mươi tờ ngân phiếu Tứ Hải thông hành, mỗi tờ có mệnh giá tròn một trăm lượng bạc, tổng cộng trị giá đúng năm ngàn lượng bạc trắng tinh khiết có thể đổi lấy tiền mặt tại bất kỳ phân hiệu nào trên khắp cõi sơn hà.
Lão Tiền quỳ sụp xuống bên cạnh bàn, giọng nói nghẹn ngào xúc động đến mức rơi lệ: "Bẩm tiểu thư, lão nô không phụ sự ủy thác của người! Chiều nay lão nô đã tìm đến thẳng hội buôn Vạn Hưng của đất Sơn Tây; bọn họ vừa gom được một lượng tiền mặt khổng lồ để chuẩn bị nhập hàng lụa mùa xuân; khi nghe lão nô nói chủ nhân cần tiền gấp giải cứu tàu hàng chìm chấp nhận bán rẻ đứt đoạn ba mươi mẫu ruộng màu mỡ và hai tiệm hương liệu với giá năm ngàn ba trăm lượng bạc, bọn họ mừng như bắt được vàng, lập tức cử người cùng lão nô đến nha môn Hộ bộ làm thủ tục sang tên đổi chủ ngay trước giờ đóng cửa; toàn bộ số bạc này lão nô đã ép bọn họ quy đổi ra năm ngàn lượng ngân phiếu Tứ Hải loại một trăm lượng và hơn ba trăm lượng bạc vụn cắt nhỏ đúng như lời người căn dặn; mọi dấu vết giấy tờ cũ đều đã được xóa sạch trên sổ bạ của quan phủ, từ nay về sau sản nghiệp đó không còn nửa điểm liên can nào đến Thẩm gia hay Vĩnh Ninh bá phủ nữa!"
Vân Nương nhìn đống bạc vụn và xấp ngân phiếu đặt ngay ngắn trước mắt, đôi mắt nàng hoe đỏ, một giọt nước mắt nóng hổi khẽ lăn dài trên gò má rồi rơi xuống chiếc bàn gỗ lim; đây là thành quả của sự nhẫn nại, của mồ hôi nước mắt mà cha nàng để lại, dù đã bị mất đi hơn một nửa giá trị do phải bán tháo trong cơn hoảng loạn, nhưng nó đã kịp thời hóa thân thành thứ vũ khí sinh tồn tối thượng giúp nàng và phu quân có cơ hội sống sót qua cơn phong ba bão táp sắp tới. Nàng đưa tay chạm vào từng mẩu bạc vụn lạnh ngắt, cảm nhận được sức nặng của sinh mệnh và trách nhiệm đang đè nặng lên đôi vai của mình.
Nàng hít một hơi sâu, lấy lại sự bình tĩnh sắc đá vốn có, rồi quay sang nhìn Tiền chưởng quầy đang quỳ dưới đất; nàng bước tới mở chiếc ngăn kéo nhỏ phía trên bàn, lấy ra một chiếc tráp sơn then nhỏ nhắn; mở nắp tráp ra, bên trong là mười mấy tờ giấy tuyên thành viết chữ mực đen ngay ngắn, góc dưới có điểm chỉ dấu vân tay đỏ chói; đó chính là toàn bộ văn tự bán thân của Tiền chưởng quầy cùng toàn bộ đám gia nhân, tiểu nhị thân tín đã theo hầu Thẩm gia suốt bao năm qua tại tiệm hương liệu.
Vân Nương cầm xấp văn tự bán thân trên tay, ánh mắt nhìn lão Tiền tràn ngập sự biết ơn và trân trọng: "Lão Tiền, ba mươi năm qua gia đình lão đã tận tụy vì Thẩm gia chúng ta, coi sóc cửa tiệm chu đáo, trung thành một dạ không hề có nửa điểm gian dối; ân tình đó Thẩm Sở Vân ta khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn không bao giờ quên."
Nói đoạn, trước ánh mắt sững sờ kinh ngạc của Tiền chưởng quầy, Vân Nương cầm lấy cây kéo nhỏ trên bàn, dứt khoát cắt đứt đôi từng tờ văn tự bán thân, rồi đưa thẳng vào ngọn lửa nến đang bập bùng cháy; ngọn lửa bùng lên liếm trọn những mép giấy vàng úa, thiêu rụi từng dòng chữ ước thúc nô bộc, biến tất cả thành những tàn tro đen nhánh rơi lả tả xuống chiếc đĩa đồng.
Tiền chưởng quầy bàng hoàng kêu lên một tiếng thất thanh: "Tiểu thư! Người... người làm gì vậy?"
Vân Nương mỉm cười dịu dàng, nụ cười hiếm hoi nở trên môi nàng giữa những ngày giông bão tăm tối: "Từ giờ phút này trở đi, lão và toàn bộ gia nhân dưới trướng không còn là nô bộc của ai nữa; các người đều là những người tự do, có quyền tự quyết định vận mệnh và cuộc sống của chính mình; triều đình dù có lục soát hay tịch biên Bá phủ cũng tuyệt đối không thể bắt các người chịu tội liên đới nô tịch được nữa!"
Chưa dừng lại ở đó, Vân Nương đưa tay vốc trọn một bọc vải thô đựng đúng một trăm lượng bạc vụn cắt nhỏ, đặt thẳng vào hai bàn tay thô ráp đang run rẩy của Tiền chưởng quầy; nàng nắm chặt lấy tay lão, giọng nói tha thiết nhưng vô cùng nghiêm cẩn: "Số bạc vụn này là phần thưởng và tiền dưỡng lão mà ta dành riêng cho lão cùng anh em gia nhân; lão hãy cầm lấy, lập tức quay về tiệm hương liệu, thu dọn toàn bộ hành lý cần thiết của mọi người; nội trong đêm nay, ngay khi cổng thành phía Tây mở cho dân phu chở củi ra vào lúc rạng sáng, lão phải dẫn theo cả gia quyến và toàn bộ đám gia nhân rời khỏi kinh thành ngay lập tức; hãy trốn về miền quê hẻo lánh hoặc xuôi thuyền về lại Giang Nam sinh sống, đổi tên họ làm ăn lương thiện; tuyệt đối không được nán lại kinh kỳ dù chỉ một khắc, cũng không được quay lại tìm ta hay dò la tin tức của Bá phủ!"
Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đẫm lệ của người quản gia già, dặn dò cặn kẽ đường đi nước bước: "Hãy đi theo cổng Tây qua bến đò Lục Hợp, tránh xa trục đường lớn phía Bắc nơi quân đội đang tập kết binh mã; hãy thuê xe bò cũ chở phụ nữ và trẻ nhỏ, ăn mặc giả dạng làm dân tị nạn lánh rét mùa đông; số bạc vụn này lão hãy chia nhỏ ra cho từng người khâu giấu vào đế giày vải và nẹp đai lưng, phòng khi gặp cướp bóc dọc đường; hãy nhớ kỹ, nếu sau này nghe tin Vĩnh Ninh bá phủ bị tịch biên hay tru di, các người tuyệt đối không được manh động đến gần Chiêu Ngục; Thẩm Sở Vân ta có cách tự bảo vệ mình và Thiệu Đường; chỉ cần các người sống sót bình an ngoài kia, Thẩm gia chúng ta coi như vẫn còn lưu lại một dòng máu nghĩa tình; nếu ai hỏi đến, các người chỉ cần nói rằng cửa tiệm đã bán tháo cho người khác và các người đã bị đuổi đi từ lâu; hãy sống cho thật tốt, thay ta chăm sóc mồ mả tổ tiên nơi quê nhà!"
Tiền chưởng quầy ôm bọc bạc vụn vào lòng, nhìn đống tro tàn của văn tự bán thân còn vương khói khét lẹt trên đĩa đồng, rồi lại nhìn khuôn mặt kiên định nhưng chan chứa tình người của tiểu thư; những giọt nước mắt già nua tuôn rơi lã chã làm ướt đẫm vạt áo tơi rách rưới; lão quỳ rạp người xuống nền đá buốt giá, dập đầu ba lạy sát đất, tiếng trán va vào sàn đá vang lên cồm cộp giữa đêm đông tĩnh mịch: "Ơn tái sinh của tiểu thư... lão nô dù có thịt nát xương tan cũng không báo đáp hết được! Lão gia trên trời có linh thiêng nhất định sẽ phù hộ cho tiểu thư và Tam công tử tai qua nạn khỏi, bình an vô sự qua khỏi kiếp nạn này! Lão nô xin thề trước vong linh của lão gia, đời đời kiếp kiếp con cháu họ Tiền sẽ luôn ghi nhớ đại ân đại đức của người! Lão nô xin bái tạ tiểu thư!"
Vân Nương nâng lão dậy, ánh mắt nàng ngấn lệ nhưng giọng nói vẫn kiên quyết: "Mau đi đi lão Tiền! Thời gian không còn nhiều nữa đâu, giông bão đã kéo đến tận đầu ngõ rồi; hãy bảo trọng lấy thân mình!"
Tiền chưởng quầy gạt nước mắt, lão cẩn thận giấu bọc bạc vụn vào sâu trong ngực áo, khoác lại chiếc áo tơi rách rồi bước ra cửa ngách; trước khi bước chân ra ngoài màn đêm, lão dừng lại quay đầu nhìn tiểu thư lần cuối cùng, ánh mắt chan chứa muôn vàn lưu luyến và xót xa khôn xiết. Lão khẽ cúi đầu chào, rồi bóng dáng còng còng của người quản gia già nhanh chóng hòa lẫn vào màn mưa tuyết mịt mù, tan biến vào bóng đêm đen đặc quánh như mực của kinh thành.
Vân Nương khóa chặt then cửa ngách, chốt ba lần khóa cẩn thận rồi quay trở lại bên bàn mật thất; nàng lặng lẽ thu dọn hai bọc vải thô đựng hơn hai trăm lượng bạc vụn còn lại cùng túi da hươu chứa năm ngàn lượng ngân phiếu Tứ Hải giấu vào chiếc làn mây cũ phủ đầy vải gai; nàng mang chiếc làn trở về gian phòng ngủ của mình, đặt ngay ngắn dưới chân giường gỗ rồi phủ một lớp rơm khô cùng vài mảnh chiếu rách lên trên để ngụy trang.
Đúng vào lúc nàng vừa đặt chiếc làn mây xuống, từ phía tháp chuông canh giữa trung tâm kinh thành, tiếng mõ điểm canh ba bỗng nhiên vang lên dồn dập, từng tiếng cắc cắc đều đặn nhưng dồn dập xé toạc màn đêm tĩnh mịch; tiếng chuông đồng vọng lại từ xa xa nghe rờn rợn, thê lương như tiếng thở dài của tử thần đang sải từng bước chân lạnh lẽo tiến về phía Vĩnh Ninh bá phủ.
Bóng tối của đêm đông tháng Chạp dày đặc bao trùm khắp không gian, cái lạnh buốt giá dường như đã đóng băng cả hơi thở của con người; Vân Nương đứng lặng bên ngọn đèn dầu le lói, nhìn qua khung cửa sổ hướng về phía cổng lớn của Bá phủ. Nàng biết, ngày cuối cùng trước khi thảm họa tịch biên giáng xuống đã chính thức bắt đầu; chỉ còn chưa đầy một ngày đêm nữa, Cấm quân giáp trụ sáng lóa sẽ phá tung cánh cổng son kia, biến nơi này thành địa ngục trần gian; và giờ đây, cuộc chiến sinh tồn thực sự của nàng - cuộc chiến khâu giấu kho báu cứu mạng vào từng đường kim mũi chỉ của chiếc áo bông rách nát - đã đến lúc phải bắt đầu.
Buổi trưa mùa đông xám xịt và ảm đạm bao trùm khắp kinh thành Thịnh Kinh, những đám mây chì nặng trĩu sà xuống sát rạt những mái ngói rêu phong của Vĩnh Ninh bá phủ; gió bấc từng cơn gầm rú rít qua những tàng cây khẳng khiu trơ trụi, cuốn theo những bông tuyết lả tả rơi rụng xuống mặt sân vắng lặng không một bóng người. Cái rét thấu xương thấu tủy của tiết tháng Chạp buốt giá như những mũi kim châm nhọn hoắt đâm xuyên qua từng lớp áo, khiến vạn vật đều co ro run rẩy trong sự im lìm ngột ngạt; ngay cả đàn chim sẻ nâu thường ngày ríu rít chuyền cành cũng trốn tiệt dưới những gờ mái ngói đóng băng trắng xóa. Toàn bộ cơ ngơi bề thế của Vĩnh Ninh bá phủ lúc này tựa như một con thuyền gỗ khổng lồ mục ruỗng đang chầm chậm chìm vào đáy biển sâu; bên ngoài tuy vẫn còn giữ được vẻ nguy nga lộng lẫy của bậc huân quý danh gia với những bức tường sơn đỏ son và những cánh cổng chạm trổ hoa văn tinh xảo, nhưng bên trong thì tử khí đã bắt đầu bốc lên ngùn ngụt, lạnh lẽo đến rợn người. Tam phòng tuy là một góc viện nhỏ nằm ở phía tây nam của hoa viên rộng lớn, nhưng vốn bị dòng chính Đại phòng cô lập và ghẻ lạnh suốt bao năm qua; mẹ kế Ngu thị nắm quyền quản gia luôn tìm cách cắt xén than sưởi và bổng lộc hàng tháng, khiến viện nhỏ vào mùa đông luôn lạnh ngắt như hầm băng, chỉ có chiếc lò đồng nhỏ đốt chút than vụn leo lét chẳng đủ sưởi ấm gian phòng. Phía sau hoa viên hoang vắng của Tam phòng, nơi góc tường rào ẩm mốc khuất sau lùm trúc vàng úa xơ xác, một cánh cửa ngách bằng gỗ mục phủ đầy rêu xanh khẽ cựa mình rung rinh phát ra những tiếng cọt kẹt rất nhỏ. Một bóng người gầy gò khoác chiếc áo tơi rách bươm tả tơi, đầu đội chiếc nón lá sụp che kín hơn nửa khuôn mặt khắc khổ đầy nếp nhăn, lấm lét đảo mắt nhìn quanh bốn phía như sợ hãi bất kỳ ánh mắt rình rập nào từ xa vọng lại. Người ấy bước từng bước ngập ngừng trên lớp tuyết mỏng chưa kịp tan, đôi giày vải sờn rách dẫm lên cành cây khô gãy tạo nên tiếng lạo xạo khẽ khàng, rồi nhanh như một chiếc bóng lọt qua khe cửa hẹp, lẻn thẳng vào gian mật thất nằm sâu sau hòn non bộ nhân tạo.
Đó chính là Tiền chưởng quầy, người gia bộc cố cựu đã ngoài năm mươi tuổi, từng theo chân phụ thân của Thẩm Sở Vân từ những ngày hàn vi buôn bán tơ lụa và thảo dược ở vùng sông nước Giang Nam trù phú. Cánh cửa gỗ dày khép lại ngay sau lưng lão, tiếng then cài lách cách rơi vào ổ khóa bằng đồng đặc mang lại chút cảm giác an toàn mong manh giữa buổi trưa lạnh giá cắt da cắt thịt. Tiền chưởng quầy cởi chiếc nón lá đẫm nước tuyết tan, lộ ra mái tóc hoa râm rối bời và khuôn mặt nhăn nheo hằn sâu những vết chân chim phong sương; lão thở dốc từng hồi liên tiếp, từng luồng khói trắng mờ đục phả ra từ kẽ môi tím tái vì lạnh buốt. Để đến được gian mật thất này, lão đã phải đi bộ vòng vèo qua ba con ngõ nhỏ lầy lội tuyết bẩn ở phía nam kinh thành, tận mắt chứng kiến các toán Cấm quân của Bắc Trấn Phủ Ty nai nịt gọn gàng, tay lăm lăm trường thương giáo mác đang ngấm ngầm lập trạm chốt chặn tại ngã tư Cửa Nam; ánh mắt sắc lẹm của những tên lính gác lục soát từng cỗ xe ngựa chở hàng khiến lão linh cảm rõ rệt một tai ương ngập đầu sắp sửa giáng xuống chốn kinh kỳ này. Gian mật thất này vốn là nơi chứa các hòm hương liệu cao cấp và sổ sách riêng của hồi môn mà nàng mang theo lúc xuất giá, bốn bề ốp ván gỗ thông khô ráo ngăn ẩm, mùi trầm hương dịu nhẹ thoang thoảng quyện cùng mùi long não thảo mộc Giang Nam tạo nên một bầu không khí trang nghiêm và ngột ngạt đến nghẹt thở. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu hạt lạc đặt trên chiếc bàn gỗ lim mộc mạc, Thẩm Sở Vân ngồi đó tĩnh lặng như một pho tượng tạc bằng ngọc thạch; nàng mặc bộ y phục bằng vải thô màu cỏ úa giản dị, trên đầu không hề cài một chiếc trâm vàng hoa lệ nào của bậc thiếu phu nhân quyền quý, nhưng đôi mắt đen láy thăm thẳm của nàng lại bừng lên một tia sáng sắc sảo, lạnh lùng đến rợn người, khiến lão Tiền vừa ngẩng đầu nhìn lên đã bất giác rùng mình ớn lạnh.
Tiền chưởng quầy khẽ chắp hai tay trước ngực, giọng nói run rẩy vì hơi lạnh và cả sự hoang mang tột độ: "Bẩm tiểu thư, lão nô nhận được phong mật thư có phong ấn chu sa của người thì vội vã đội mưa tuyết chạy đến ngay, chẳng dám chậm trễ nửa bước chân; ngoài phố lớn lúc này yên ắng đến rợn người, nhưng binh lính đi tuần của nha môn kinh thành và cấm vệ quân lại đông hơn mọi ngày gấp mấy lần; các ngả đường ra vào kinh đô đều có trạm kiểm soát gắt gao; người buôn kẻ bán ngoài chợ ai nấy đều dọn hàng sớm, thì thào to nhỏ như sắp có giông bão lớn giáng xuống chốn kinh kỳ; chẳng hay tiểu thư khẩn cấp triệu lão nô vào mật thất giữa lúc tuyết rơi gió rét thế này là có điều chi đại sự cần căn dặn?"
Vân Nương không đáp lại ngay, nàng lặng lẽ nâng chén trà nóng đưa lên môi nhấp một ngụm nhỏ, nhưng chén trà trên bàn đã nguội ngắt tự bao giờ; ánh mắt nàng nhìn qua làn khói đèn mỏng manh, dừng lại thật lâu trên khuôn mặt đầy âu lo của người quản gia trung thành. Nàng nhớ tới người cha quá cố nơi quê nhà Giang Nam xa xôi, một người thầy thuốc kiêm thương nhân đôn hậu đã dành trọn cả đời mình để bốc thuốc cứu người và tích góp từng đồng tiền sạch sẽ; nàng nhớ tới những ngày êm đềm bên dòng sông nhỏ đầy hoa đăng rực rỡ xứ Ô Trấn, nơi phụ thân từng cầm tay dạy nàng cách phân biệt từng loại hương liệu quý, dạy nàng cách nhìn thấu lòng người và giữ vững tâm can trước sóng gió cuộc đời. Người từng dặn nàng rằng, một người phụ nữ xuất giá tòng phu nơi đất khách quê người, của cải hồi môn chính là rễ cọc sinh mệnh, không có nó thì dẫu có nhẫn nhịn đến đâu cũng sẽ bị người ta chà đạp đến tận bùn đen; thế nhưng giờ đây, chính khối của cải ấy lại sắp sửa trở thành chiếc thòng lọng siết cổ toàn bộ gia đình nếu nàng không kịp thời chặt đứt. Ba năm trước, khi nàng vừa bước chân vào cánh cổng son của Bá phủ, mẹ kế Ngu thị đã từng ngọt nhạt bóng gió đòi nàng nộp toàn bộ văn tự điền sản hồi môn cho phủ đệ quản lý chung; khi ấy nàng đã khéo léo viện dẫn luật lệ của Đại Khang triều quy định rõ ràng rằng của hồi môn của nữ tử xuất giá thuộc quyền sở hữu độc lập bất khả xâm phạm để kiên quyết giữ lại; hành động ấy khiến Đại phòng ôm hận trong lòng, Đại tẩu Tiền thị bĩu môi khinh miệt chê nàng xuất thân con buôn hạ đẳng, còn Ngu thị thì ngấm ngầm tìm mọi cách cắt xén chi tiêu của Tam phòng. Nàng lại nhớ tới thi thể lạnh ngắt của nha hoàn Trúc Nhi vừa được nàng tự tay giấu tạm dưới hầm than đá tối tăm sau vườn hoa vào rạng sáng ngày hôm nay; vết thương do mũi tên có rãnh xé thịt của Cấm quân cắm ngập vào bả vai Trúc Nhi, mùi chu sa độc tanh tưởi và lời trăn trối cuối cùng của con bé cứ như những ngọn lửa thiêu đốt tâm can nàng từng giây từng phút; trước khi nhắm mắt, Trúc Nhi đã nhét vào tay nàng chiếc ngọc bội gia truyền hình hoa mai của thân phụ, dặn nàng phải sống sót bằng mọi giá. Nỗi đau xót tột cùng như hàng ngàn mũi dao cào xé buồng phổi, nhưng trên gương mặt thanh tú nhã nhặn của nàng tuyệt nhiên không để lộ một gợn sóng cảm xúc nào; sự điềm tĩnh phi thường trong đôi mắt nàng lúc này chính là tấm khiên vững chắc nhất, là vũ khí duy nhất để nàng đương đầu với cơn giông bão ngút trời sắp sửa bổ nhào xuống đầu toàn bộ gia tộc.
Nàng khẽ thở dài một tiếng, âm thanh nhẹ như làn gió thoảng nhưng lại nặng trĩu sức nặng ngàn cân: "Lão Tiền, lão đã theo cha ta hơn ba mươi năm, từ lúc thân phụ ta còn là một gã thương nhân trẻ tuổi lặn lội khắp bến sông Ô Trấn gom từng kiện tơ tằm, hái từng gốc thảo dược; lão đã nhìn ta lớn lên từ thuở còn để chỏm, bế bồng ta qua bao ngày thơ bé; trong mắt ta, lão không chỉ là người quản lý sản nghiệp tài ba mà còn là người thân duy nhất mà ta có thể trao trọn niềm tin giữa chốn kinh thành đầy rẫy hiểm nguy lang sói này. Ba năm trước khi ta bước chân vào cánh cổng son của Vĩnh Ninh bá phủ, cha ta trước lúc lâm chung từng căn dặn rằng nhân tâm nơi kinh kỳ hiểm ác khôn lường, hào môn thế gia nhìn ngoài thì rực rỡ gấm hoa nhưng bên trong chứa đầy nọc độc lang sói; hôm nay ta mạo hiểm gọi lão vào đây, chính là để trao cho lão một trọng trách thiêng liêng liên quan trực tiếp đến sự sống còn của toàn bộ chúng ta, không được phép xảy ra nửa điểm sai sót."
Nói đoạn, Vân Nương giơ tay rút chiếc trâm cài bằng bạc trên mái tóc mai của mình xuống; chiếc trâm trông có vẻ đơn sơ thô phác, màu bạc đã hơi xỉn đi vì thời gian, nhưng phần đuôi nhọn lại được khéo léo gọt giũa thành hình một chiếc răng cưa nhỏ xíu, vừa vặn với một lỗ khóa bí mật nằm ẩn sâu dưới chân chiếc bàn gỗ lim. Nàng cúi người, tra đầu trâm vào khe hẹp rồi xoay nhẹ nửa vòng; một tiếng cạch giòn tan vang lên trong không gian tĩnh mịch, một ngăn kéo bí mật dưới đáy tráp gỗ từ từ trượt ra phía trước. Bên trong ngăn kéo lót vải lụa đỏ thắm là những cuộn giấy dày cộp được buộc chặt bằng dây gai thô, trên mỗi cuộn đều có dấu niêm phong màu đỏ tươi của quan nha sở tại và chữ ký tay son đỏ của thân phụ nàng lúc sinh thời.
Vân Nương đưa hai tay nâng toàn bộ xấp giấy tờ đó đặt lên mặt bàn gỗ lim, đẩy thẳng về phía trước mặt Tiền chưởng quầy; ánh đèn dầu vàng vọt rọi xuống những dòng chữ son nghiêm cẩn ghi rõ khế ước sở hữu ba mươi mẫu điền trang màu mỡ bậc nhất nằm ven bờ sông Vĩnh Định ở ngoại thành kinh kỳ, cùng hai bản văn tự chứng nhận quyền sở hữu hai cửa tiệm buôn bán hương liệu thảo mộc tọa lạc ngay trên con phố Chu Tước phồn hoa tấp nập. Ba mươi mẫu điền trang kia vốn là dải đất phù sa màu mỡ bậc nhất ven sông, ba năm liền chưa từng mất mùa, mỗi vụ thu hoạch đều cho ra hàng ngàn thạch thóc tốt, trang trại tằm tơ và vườn cây ăn trái quanh năm trĩu quả, mang lại nguồn lợi tức ổn định hàng trăm lượng bạc mỗi mùa thu; trên mảnh đất ấy có hơn hai mươi hộ tá điền cần cù chất phác của lão Điền đầu mục nương tựa sinh sống, quanh năm chăm chút từng bờ mương dẫn nước ngọt ngào; còn hai cửa tiệm hương liệu trên phố Chu Tước lại là huyết mạch thông thương quý giá, chuyên nhập khẩu xạ hương, trầm hương, long não và các vị thuốc nam bắc quý hiếm từ phương Nam chuyển ra kinh thành bán cho các phủ đệ vương công quý tộc, việc buôn bán đang vào độ thịnh vượng nhất của tháng Chạp. Đây là toàn bộ của hồi môn quý giá nhất mà thân phụ Thẩm gia đã chắt chiu dành dụm suốt nửa đời người buôn ba xuôi ngược, trải qua biết bao ghềnh thác hiểm trở trên sông nước mới tích góp được, nhằm mục đích làm rễ cọc sinh mệnh độc lập, làm chỗ dựa vững chắc cho nàng phòng thân khi phải gả vào chốn danh gia vọng tộc đầy rẫy bất trắc; nhờ có khối sản nghiệp độc lập này mà ba năm qua, dù làm dâu thứ trong một phủ Bá tước quyền thế, nàng vẫn ngẩng cao đầu sống tự lập, không phải cúi mình ngửa tay phụ thuộc vào bất kỳ đồng tiền bổng lộc nào nơi hậu viện.
Tiền chưởng quầy mở to đôi mắt đục ngầu, nhìn xấp khế ước quen thuộc mà ngón tay lão đã từng nâng niu qua hàng trăm lần kiểm kê sổ sách mỗi dịp cuối năm; lão run giọng hỏi, trong lòng dấy lên một nỗi bất an tột cùng: "Tiểu thư... đây chẳng phải là toàn bộ căn cơ hồi môn của người sao? Mùa màng năm nay tuy có chút giá rét khắc nghiệt nhưng ba mươi mẫu ruộng màu mỡ ven sông Vĩnh Định kia vẫn thu về mấy trăm thạch thóc tốt, đất đai màu mỡ chưa từng mất mùa bao giờ; hai tiệm hương liệu trên phố Chu Tước việc làm ăn cũng đang vào độ thịnh vượng nhất của tháng Chạp, khách khứa ra vào nườm nượp mua sắm hương trầm tế lễ cuối năm, các phủ quan lớn đều đặt cọc mua hàng tết; cớ sao người lại đem toàn bộ khế ước gốc ra giữa lúc này?"
Vân Nương nhìn thẳng vào mắt lão Tiền, ánh mắt nàng sắc lạnh như lưỡi kiếm vừa rút khỏi bao, từng câu từng chữ thốt ra từ đôi môi mỏng đều đanh thép như tiếng đá gõ vào kim loại: "Lão Tiền, hãy nghe cho thật rõ từng lời ta nói đây: Lão hãy cầm lấy toàn bộ đống khế ước điền trang và cửa tiệm này, lập tức ra ngoài phố, tìm cho bằng được các thương hội lớn nhất ở kinh thành, bán tháo toàn bộ số sản nghiệp này ngay trong buổi chiều hôm nay; bất kể là ai mua, bất kể họ ép giá đến mức nào, dù chỉ bán được với nửa giá, thậm chí bằng một phần ba giá trị thực tế của thị trường, lão cũng phải ký giấy trao tay, sang tên đổi chủ dứt điểm tại nha môn ngay trước khi mặt trời lặn!"
Lời nói của Vân Nương như một tiếng sấm sét giữa trời quang nổ tung bên tai Tiền chưởng quầy, làm cho lão già cả đời từng trải chốn thương trường cũng phải bàng hoàng rụng rời chân tay; lão ngã quỵ xuống nền gạch buốt giá, hai đầu gối đập mạnh xuống sàn phát ra tiếng thịch nặng nề, đôi bàn tay run rẩy chắp lại van lơn trong nước mắt: "Tiểu thư! Người mất trí rồi sao? Đây là mồ hôi, là nước mắt, là xương tủy cả đời của lão gia gom góp lại để lại cho người phòng thân! Ngày người xuất giá từ Ô Trấn lên kinh kỳ, lão gia trước khi nhắm mắt xuôi tay đã nắm chặt tay lão nô dặn dò trăm ngàn lần rằng ba mươi mẫu ruộng và hai tiệm hương liệu này chính là lá bùa hộ mệnh cuối cùng của người; người làm dâu thứ trong một phủ Bá tước quyền thế, phu quân Ôn Thiệu Đường thì chỉ biết vùi đầu vào kinh thư thánh hiền chẳng màng thế sự, người lại không có con nối dõi, mẹ kế Ngu thị thì cay nghiệt ngày đêm dòm ngó bòn rút của hồi môn, Đại tẩu Tiền thị thì kiêu căng hợm hĩnh khinh miệt dâu thứ; nếu hôm nay người bán tháo đi toàn bộ chỗ dựa tiền bạc này thì ngày sau người sống làm sao nổi giữa những mưu mô toan tính nơi hậu viện? Xin tiểu thư nghĩ lại, ngàn lần vạn lần xin tiểu thư hãy nghĩ lại cho thân phận của mình!"
Lão Tiền vừa khóc vừa đập trán xuống nền gạch, giọng lão nghẹn ngào xé ruột xé gan: "Tiểu thư ơi! Ba mươi mẫu ruộng ven sông Vĩnh Định kia, năm xưa lão gia phải lặn lội suốt ba tháng ròng rã, tiếp đãi biết bao quan lại nha môn, bồi đắp từng con mương dẫn nước mới mua trọn được mảnh đất bờ xôi ruộng mật ấy; bao nhiêu gia đình tá điền của lão Điền coi người như ân nhân cứu mạng, năm ngoái khi gặp đợt hạn hán nhỏ, chính tiểu thư đã xuất bạc riêng đào thêm giếng khơi cứu cả vụ lúa nếp, vợ lão Điền sinh con trai còn xin lấy họ Thẩm để nhớ ơn cứu đói; hai cửa tiệm hương liệu trên phố Chu Tước là nơi lão gia đặt trọn tâm huyết, từng viên long não, từng thanh quế hương đều được tuyển lựa kỹ càng từ phương Nam mang ra; bao nhiêu mồ hôi nước mắt của đám gia nhân chúng ta đổ xuống nơi đó suốt hai mươi năm qua; bây giờ bán tháo trong một buổi chiều với giá rẻ mạt như cho không, khác nào đem ruột gan của chính mình vứt cho chó ăn? Tiểu thư, người hãy thương lấy vong linh của lão gia dưới suối vàng, đừng hành động bồng bột như vậy!"
Nhìn thấy giọt nước mắt già nua của người quản gia trung bộc lăn dài trên đôi gò má gầy guộc răn reo, trái tim Vân Nương như thắt lại vì xót xa; nhưng nàng không cho phép bản thân mềm lòng trong khoảnh khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc này. Nàng đứng dậy, vòng qua chiếc bàn gỗ lim, cúi người dùng hai bàn tay mảnh dẻo đỡ lấy cánh tay gầy gò của Tiền chưởng quầy, dùng sức kéo lão đứng dậy rồi ấn lão ngồi xuống chiếc ghế đẩu bằng gỗ thông; bàn tay nàng áp chặt lên mu bàn tay lạnh ngắt của lão, truyền đi một luồng hơi ấm kiên định và quả quyết lạ thường.
Vân Nương ghé sát tai lão Tiền, hạ thấp giọng xuống mức chỉ đủ cho hai người nghe thấy, từng lời nói như khắc sâu vào tâm khảm: "Lão Tiền, lão hãy tỉnh táo lại mà nhìn cho rõ thế cục! Người còn thì của còn, của mất đi rồi ngày sau bằng đôi bàn tay và khối óc này ta còn có thể gầy dựng lại từ đầu; nhưng nếu người đã mất mạng, đầu rơi máu chảy thì đống giấy tờ khế ước này rốt cuộc để lại cho ai hưởng? Lão có biết không, cái phủ Vĩnh Ninh bá nguy nga lộng lẫy này sắp sửa biến thành một bãi tha ma chôn chung, thành một vạc dầu sôi lửa bỏng rồi!"
Tiền chưởng quầy tròn mắt kinh hãi, hơi thở nghẹn ứ nơi cổ họng, hai mắt lão nhìn chằm chằm vào dung nhan lạnh tanh của tiểu thư: "Bãi tha ma... vạc dầu sôi... tiểu thư... người nói vậy rốt cuộc là có ý gì? Bá phủ xưa nay là huân quý triều đình, có tước vị thế tập, hoàng ân bao la, sao có thể trong chớp mắt biến thành bãi tha ma được?"
Vân Nương hít một hơi thật sâu, ánh mắt nàng liếc qua khung cửa sổ đóng kín mít, nơi gió bấc vẫn đang gầm rú từng cơn liên hồi: "Sáng sớm hôm nay, nha hoàn Trúc Nhi đã trút hơi thở cuối cùng trong tay ta sau khi trúng tên độc của cấm vệ quân; con bé dùng cả tính mạng để mang về một tin tức kinh thiên động địa mà cả kinh thành này còn chưa ai hay biết: Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm và đích trưởng tử Ôn Diệu Tổ vì thói xa hoa vô độ, đam mê cờ bạc và muốn duy trì danh thế hão huyền đã câu kết với quan lại thối nát của Binh bộ, lén lút tuồn bán hàng vạn kiện thiết giáp và vũ khí quân dụng qua cửa ải Hắc Thủy cho man tộc Bắc Địch để trục lợi hàng chục vạn lượng bạc ròng; chuyến hàng lậu gần nhất đã bị Cấm quân Bắc Trấn Phủ Ty giăng lưới bắt sống toàn bộ tại biên giới phía Bắc; hoàng đế đã nổi trận lôi đình, mật chỉ phong tỏa kinh thành và chuẩn bị hạ lệnh tịch biên toàn bộ gia sản, bắt giam tru di tam tộc Vĩnh Ninh bá phủ trong vòng không quá hai ngày tới!"
Mỗi lời Vân Nương thốt ra như một nhát búa tạ giáng thẳng vào thần kinh của Tiền chưởng quầy, khiến toàn thân lão run rẩy bần bật, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang xám ngoét như tro tàn; lão mở to miệng nhưng không thốt nên lời, hai hàm răng va vào nhau lập cập thành từng hồi liên tiếp. Tru di tam tộc, tịch biên gia sản, đó là bản án tàn khốc và ghê rợn nhất của vương triều Đại Khang, một khi Cấm quân kéo đến vây phủ thì ngọc đá đều tan, gà chó cũng không tha; đàn ông con trai từ mười sáu tuổi trở lên đều phải chịu tội chém đầu bêu xác nơi ngã tư chợ, nữ quyến thì bị tống giam vào Chiêu Ngục, sau đó sung vào giáo phường ty chịu muôn vàn nhục nhã ê chề hoặc lưu đày ngàn dặm làm nô lệ nơi biên thùy giá buốt quanh năm tuyết phủ; gia sản từ dinh thự, ruộng vườn đến manh áo dải yếm đều bị tịch thu sung công khố.
Vân Nương nắm chặt lấy bả vai lão Tiền, giọng nói đanh thép không chút dao động: "Lão hiểu rồi chứ? Một khi Cấm quân phá cổng xông vào, toàn bộ phủ đệ này sẽ bị phong tỏa như nêm cối; bất kỳ hòm xiểng, vàng bạc, châu báu, tơ lụa hay khế ước nào còn sót lại trong phủ đều sẽ bị niêm phong sung vào quốc khố; nếu ba mươi mẫu điền trang và hai tiệm hương liệu kia vẫn còn đứng tên ta trên sổ sách của nha môn, triều đình sẽ coi đó là tài sản của dâu con Bá phủ và lập tức tịch thu sạch bách; không những thế, đám mật thám tàn bạo của Bắc Trấn Phủ Ty sẽ lần theo dấu vết tìm đến tận tiệm hương liệu trên phố Chu Tước, bắt giam toàn bộ gia nhân tiểu nhị vào ngục tối khảo đả tra tấn dã man để truy tìm tài sản giấu giếm; đến lúc đó, không chỉ có ta mất mạng, mà ngay cả lão và mấy chục mạng người trung thành theo ta từ Giang Nam lên cũng sẽ chết oan chết uổng dưới lưỡi đao vô tình của đao phủ!"
Nàng tiếp tục phân tích sâu sắc hơn: "Lão có nghĩ đến số phận của gia đình lão Điền và hơn hai mươi hộ tá điền ven sông Vĩnh Định không? Nếu điền trang bị quan nha tịch thu sung công khố, bọn họ sẽ bị quy vào diện nông nô của gia tộc phạm tội phản quốc, nhẹ thì bị quan binh đuổi cùng giết tận tước đoạt toàn bộ thóc giống mùa đông, nặng thì bị bắt đi đày làm phu dịch biên thùy đào hào đắp lũy đến kiệt sức mà chết; chi bằng trong chiều nay lão đem bán đứt cho các hội buôn lớn, họ có tiền tài có thế lực, họ sẽ tiếp tục thuê mướn tá điền cày cấy, con cái của lão Điền vẫn còn có manh áo manh quần và bát cơm ấm bụng qua mùa đông giá rét này; đó mới là cách cứu người thực sự, giữ lại cái gốc nghĩa tình cho Thẩm gia chúng ta!"
Lão Tiền nghe đến đây thì toàn thân toát mồ hôi lạnh dù gió đông ngoài kia vẫn rít gào buốt giá; sự kinh hãi ban đầu dần nhường chỗ cho sự thấu hiểu sâu sắc trước tầm nhìn xa trông rộng và sự quyết đoán phi thường của tiểu thư. Lão nhìn người con gái mảnh mai trước mặt, một thiếu phụ mới ngoài hai mươi tuổi, ngày thường chỉ lặng lẽ lo toan việc nội trợ may vá nơi xó vườn, vậy mà khi đứng trước bờ vực diệt vong của cả một dòng họ lại có thể giữ được cái đầu lạnh tanh và sự phán đoán chuẩn xác đến từng đường tơ kẽ tóc như thế này. Lão nhận ra rằng, nếu không dứt khoát chặt đứt cánh tay để tự cứu mạng, thì tất cả bọn họ sẽ cùng chìm xuống bùn đen tanh hôi của Bá phủ mà không còn lấy một cơ hội ngóc đầu lên.
Vân Nương tiếp tục căn dặn, giọng nói của nàng rành rọt, khúc chiết, không để sót một kẽ hở nào trong kế hoạch tẩu tán tài sản: "Bán tháo trong chiều nay là con đường sống duy nhất của chúng ta; nhưng lão phải nhớ kỹ những điều ta dặn sau đây: Thứ nhất, tuyệt đối không được tham lam nhận vàng nén lớn, bạc thỏi nguyên khối hay những thứ trâm ngọc, ngọc bích cồng kềnh; những thứ đó một khi Cấm quân khám xét người sẽ bị phát hiện và lột sạch ngay tức khắc, thậm chí còn chuốc thêm tội danh giấu giếm của cải triều đình. Toàn bộ tiền bán đất và tiệm phải quy đổi ra hai loại duy nhất: loại thứ nhất là bạc vụn nhỏ, cắt tỉa cẩn thận thành từng mẩu vụn chỉ nặng từ một đến hai lượng, góc cạnh mài nhẵn để tiện khâu giấu vào nẹp áo vải thô; loại thứ hai là ngân phiếu của tiền trang Tứ Hải, chỉ lấy loại mệnh giá năm mươi đến một trăm lượng bạc nguyên, bởi ngân phiếu Tứ Hải có chi nhánh thông hành khắp mười ba tỉnh thành thiên hạ, giấy mỏng dễ cất giấu trong lớp lót y phục mà không ai để ý."
Lão Tiền gật đầu lia lịa như gà mổ thóc, ánh mắt lộ rõ vẻ thán phục khôn cùng: "Lão nô hiểu rồi! Tiền trang Tứ Hải thanh danh uy tín bậc nhất khắp trong nam ngoài bắc, tiền trang này do các thương gia lớn liên kết lập ra, chỉ nhận ngân phiếu không nhận người, người cầm phiếu đến đổi bạc không cần xuất trình giấy thông hành của quan phủ; sau này dù có trôi dạt đến chân trời góc bể nào cũng có thể đổi ra bạc trắng để sinh nhai; tiểu thư tính toán chu toàn như thần, lão nô xin ghi lòng tạc dạ từng lời!"
Vân Nương khẽ mỉm cười cay đắng, nàng vỗ nhẹ lên vai lão Tiền: "Còn một việc hệ trọng nữa: Chiều nay khi lão đi giao dịch, hãy làm cho thật kín kẽ; hãy tìm đến các hội buôn lớn của đất Sơn Tây hoặc thương nhân tơ lụa phía Nam đang có sẵn lượng tiền mặt lớn tại kinh thành; nói với họ rằng chủ nhân cần tiền gấp để giải cứu một chuyến thuyền hàng lụa quý bị nạn chìm dưới khúc sông Hoàng Hà, chấp nhận bán rẻ đứt đoạn lấy bạc mặt trong ngày; sau khi công chứng giấy tờ tại nha môn xong xuôi, lão hãy lập tức đến tiền trang đổi ngân phiếu và sai người cắt bạc vụn ngay tại chỗ, tuyệt đối không được nán lại nửa khắc, cũng không được để bất kỳ ai bám theo tung tích của mình."
Nàng dừng lại một chút, ánh mắt lóe lên vẻ sắc sảo: "Nếu họ có ép giá xuống bốn ngàn năm ngàn lượng, lão cũng không được chần chừ; thà lấy về năm ngàn lượng bạc trắng cứu mạng còn hơn ôm khế ước mười vạn lượng mà đầu rơi xuống đất; tiền bạc đối với chúng ta bây giờ là công cụ sinh tồn, không phải thứ để tích lũy khoe khoang; chỉ cần có bạc vụn và ngân phiếu Tứ Hải trong tay, vào trong ngục tối chúng ta mới có thể mua chuộc ngục tốt, đổi lấy từng bát cháo nóng, từng manh chăn khô và thuốc thang cầm cự mạng sống; trong chốn lao tù tăm tối của Bắc Trấn Phủ Ty, một nén vàng to chỉ khiến bọn cai ngục nảy lòng tham giết người diệt khẩu, nhưng từng mẩu bạc vụn nhỏ một hai lượng lại là thứ bọn chúng có thể lén lút nhét ngay vào túi áo lót mà không sợ đồng liêu nhòm ngó; lão nhớ cho thật kỹ điều đó!"
Tiền chưởng quầy chắp tay cúi rạp người, trong mắt bừng lên ngọn lửa quyết tâm của một người gia bộc trung kiên sẵn sàng xả thân vì chủ: "Tiểu thư yên tâm! Lão già này lăn lộn chốn thương trường kinh kỳ mấy mươi năm, quen biết không ít chưởng quầy máu mặt của các bang hội buôn bán lớn; lão biết rõ ai có đủ tiền mặt và ai biết giữ kín miệng; xin người cứ ở trong phủ đợi tin, chậm nhất là khi trời vừa chập tối, lão nô nhất định sẽ mang trọn vẹn số bạc vụn và ngân phiếu về giao tận tay người!"
Nói xong, lão Tiền cẩn thận gom toàn bộ xấp khế ước nhét sâu vào trong lớp áo lót rách nát, buộc chặt dải đai lưng bằng vải thô, rồi khoác lại chiếc áo tơi tả tơi lên người. Lão đội chiếc nón lá ướt sũng tuyết, khẽ hé mở cánh cửa gỗ ngách, đảo mắt quan sát một lượt xung quanh; thấy hoa viên vẫn vắng tanh không một bóng người, lão cúi đầu chào từ biệt Vân Nương rồi thoăn thoắt lách mình qua khe cửa, hòa mình vào màn mưa tuyết mịt mùng đang mỗi lúc một dày đặc ngoài kia.
Cánh cửa ngách đóng lại, tiếng then cài buông xuống, trả lại gian mật thất sự yên ắng đến rợn người; Vân Nương đứng tựa lưng vào mép bàn gỗ lim, lắng nghe tiếng bước chân của lão Tiền xa dần rồi tan biến hẳn trong tiếng gió gầm rú. Nàng thở hắt ra một hơi dài, đưa tay vuốt lại những lọn tóc mai lòa xòa trước trán; ngực nàng phập phồng theo từng nhịp đập gấp gáp, mồ hôi lạnh rỉ ra ướt đẫm tấm lưng áo thô. Nàng biết bước đi đầu tiên này mang tính quyết định sống còn; nếu lão Tiền trót lọt tẩu tán được sản nghiệp trong chiều nay, nàng sẽ có đủ ngân lượng để xoay xở trong ngục tối; còn nếu có bất kỳ sơ suất nào để lọt tin tức ra ngoài, chiếc thòng lọng của án tru di sẽ lập tức siết chặt lấy cổ họng của nàng trước thời hạn.
Nàng bước ra khỏi mật thất, men theo con đường lát đá quanh co phủ đầy tuyết trắng quay trở về gian phòng chính của Tam phòng. Nhìn qua khe cửa sổ thư phòng bên cạnh, nàng thấy Ôn Thiệu Đường vẫn đang ngồi ngay ngắn bên bàn đọc sách, ngọn nến thơm thắp sáng khuôn mặt tuấn tú, thư sinh của chàng; chàng chăm chú nắn nót từng nét chữ chân phương trên trang giấy bản, thỉnh thoảng lại dừng bút mỉm cười đăm chiêu như đang ngâm ngợi một vần thơ tuyệt tác của người xưa. Nhìn thấy vẻ mặt vô tư lự, thánh thiện và ngây ngô của phu quân, lòng Vân Nương lại dâng lên một nỗi xót xa vô bờ bến. Chàng sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong những lời ca tụng sáo rỗng của thi thư thánh hiền, chưa từng nếm trải mùi vị tanh tưởi của quyền lực hay sự hiểm độc của lòng người nơi quan trường; chàng nào hay biết rằng chiếc áo gấm chàng vừa ướm thử hôm qua hay những tấm thiệp mời dự hội ngâm thơ thưởng mai kia thực chất chỉ là những chiếc vòng hoa phủ lên cỗ quan tài đang chực chờ nuốt chửng cả gia tộc.
Vân Nương khẽ đẩy cửa bước vào thư phòng, trên tay bưng chiếc khay con đựng một ấm trà gừng nóng hổi bốc khói nghi ngút; thấy thê tử bước vào, Ôn Thiệu Đường vội vàng đặt bút lông xuống nghiên mực, mỉm cười rạng rỡ đón lấy chén trà từ tay nàng: "Vân Nương, trời lạnh thế này sao nàng không ở trong phòng sưởi ấm mà lại ra ngoài? Ta vừa chép xong một đoạn trong khúc thi ca mùa đông, chữ viết hôm nay rất có thần thái; nàng xem, đợi qua đợt rét này, ta sẽ mang tặng cho các huynh đệ tại thi xã ngâm vịnh."
Chàng lại hào hứng trải rộng một tờ giấy tuyên thành vừa viết xong, chỉ vào những dòng chữ mực đen bóng bẩy: "Nàng xem, đây là bài luận về đức độ của bậc quân vương và sự thịnh trị thái bình của triều đình; phụ thân và đại ca ngày đêm lo toan việc quân cơ nơi biên ải, ta là con thứ bất tài không thể xông pha trận mạc, chỉ mong dùng ngòi bút này để tán dương công đức của triều đình, làm rạng danh cho gia tộc Vĩnh Ninh bá chúng ta."
Nhìn ánh mắt trong veo không gợn chút bụi trần của chồng, từng lời nói ngây ngô của chàng như những nhát dao cứa vào tim Vân Nương; nàng nuốt ngược giọt lệ vào lòng, nhẹ nhàng đặt tay lên vai chàng, mỉm cười dịu dàng nói: "Phu quân viết chữ rất đẹp, ý tứ rất thanh cao; nhưng mùa đông năm nay buốt giá hơn mọi năm, gió độc hoành hành, chàng chớ nên ra ngoài nhiều kẻo nhiễm phong hàn; thiệp mời dự tiệc ngâm thơ của các công tử thế gia chàng hãy viết thư từ chối hết đi, ở yên trong thư phòng tĩnh tâm đọc sách, đó mới là việc của kẻ sĩ quân tử."
Ôn Thiệu Đường ngẩn người một chút, chàng gật đầu ngoan ngoãn: "Vân Nương nói phải, ta cũng thấy mấy ngày nay kinh thành có vẻ xao động khác thường, không khí ngột ngạt khó tả; thôi thì ta nghe lời nàng, ở nhà bầu bạn cùng thi thư và nàng là vui nhất rồi."
Nàng nhìn phu quân, ánh mắt sâu thẳm khẽ dặn thêm: "Chàng hãy nhớ kỹ, những bản thảo cổ tịch mà chàng sao chép từ Văn Uyên các, cùng chiếc thẻ bài điểm danh bằng gỗ đàn hương và ấn ký tàng thư son đỏ, chàng phải luôn giữ chặt trong túi áo lót bên người, tuyệt đối không được để thất lạc hay đưa cho bất kỳ ai mượn; đó là công sức khảo cứu của chàng, cũng là kỷ vật quý giá nhất của đời người đèn sách."
Nàng nhấn mạnh từng chữ: "Dù là phụ thân hay đại ca có hỏi mượn, chàng cũng tuyệt đối không được giao ra; những thứ đó là bằng chứng duy nhất chứng minh tâm huyết và sự trong sạch của chàng trong những ngày tháng miệt mài nơi viện sách; hãy hứa với thiếp rằng chàng sẽ luôn giữ chúng bên mình như tính mạng của chính mình."
Ôn Thiệu Đường tuy có chút ngạc nhiên trước lời dặn dò trang trọng khác thường của thê tử, nhưng vốn tính kính trọng và tin tưởng nàng tuyệt đối, chàng liền gật đầu lia lịa: "Nàng yên tâm, thẻ bài và ấn ký khảo duyệt của Văn Uyên các ta luôn mang theo bên mình như bùa hộ mệnh, không bao giờ rời nửa bước."
Dặn dò phu quân xong xuôi, Vân Nương lui về gian phòng ngủ của mình; thời gian của buổi chiều hôm ấy trôi qua chậm chạp và nặng nề tựa như từng giọt chì nóng rỉ rả rơi xuống đáy lòng; tiếng gió rít qua khe cửa sổ nghe như tiếng than khóc ai oán của những oan hồn nơi cõi âm. Vân Nương không ngồi yên một chỗ, nàng cẩn thận thu dọn những vật dụng cần thiết trong gian phòng ngủ: nàng chọn ra hai bộ y phục may bằng vải nỉ sẫm màu cũ kỹ nhất của Thiệu Đường, kiểm tra lại từng chiếc cúc áo, từng đường kim mũi chỉ; nàng gom lại những hoàn thuốc chỉ huyết, thuốc tán giải độc và viên thuốc trị sốt rét gia truyền mà nàng đã cất công điều chế từ các loại thảo mộc quý của tiệm hương liệu; tất cả đều được xếp ngay ngắn trong một chiếc túi vải nhỏ giấu kín dưới gầm giường.
Mỗi một khắc trôi qua là một lần tim nàng như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực; nàng liên tục đảo mắt nhìn đồng hồ cát đặt trên góc bàn phấn, từng hạt cát mịn li ti chầm chậm rơi xuống như đang đếm ngược từng canh giờ sinh tử cuối cùng của Vĩnh Ninh bá phủ. Nàng lo lắng tự hỏi: Liệu lão Tiền có gặp trắc trở gì trên phố không? Liệu các thương hội có ép giá quá đáng hay sinh nghi ngờ mà báo quan không? Liệu Cấm quân có bất thần ập đến trước giờ hẹn không? Hàng ngàn câu hỏi xoay vần như bão lốc trong tâm trí, nhưng bề ngoài nàng vẫn giữ vững vẻ bình thản đến lạ kỳ, không để lộ ra một chút sơ hở nào trước mặt đám nha hoàn phục dịch của viện lớn thỉnh thoảng đi qua.
Trong khi đó ngoài phố lớn của kinh thành Thịnh Kinh, Tiền chưởng quầy đang phải trải qua những giờ phút căng thẳng đến nghẹt thở; gió bấc thốc từng cơn tuyết lạnh vào mặt làm rát bỏng làn da nhăn nheo của lão già. Với kinh nghiệm mấy mươi năm buôn ba, lão không dám đến các tiệm cầm đồ nhỏ lẻ vì sợ bị dòm ngó; lão đi thẳng vào khu Nam thành, tìm đến tổng hội buôn Vạn Hưng của các thương nhân đất Sơn Tây; đây là hội buôn nổi tiếng giàu có nứt đố đổ vách, chuyên thu mua điền sản và mở mang các tuyến buôn bán tơ lụa ngũ cốc liên tỉnh.
Bước vào phòng khách lớn của Vạn Hưng thương hội, Tiền chưởng quầy nén sự run rẩy trong lòng, trưng ra vẻ mặt của một quản gia đang lâm vào cảnh đường cùng vì tai bay vạ gió; lão lấy ra xấp khế ước đỏ rực của ba mươi mẫu điền trang màu mỡ ven sông Vĩnh Định và hai tiệm hương liệu phố Chu Tước, gặp trực tiếp đại chưởng quầy của thương hội. Lão bịa ra câu chuyện rằng chủ nhân ở quê nhà gặp nạn lớn, một chuyến thuyền chở vải lụa thượng hạng nhập từ phương Nam bị đắm giữa khúc sông Hoàng Hà nước xiết, cần gấp một lượng tiền mặt khổng lồ trong ngày hôm nay để đền bù hợp đồng và cứu vớt người nhà, chấp nhận bán đứt toàn bộ sản nghiệp với giá rẻ như cho không.
Đại chưởng quầy của Vạn Hưng thương hội họ Mã là một con cáo già khét tiếng nơi thương trường, nhìn thấy khế ước thật, con dấu thật của nha môn cùng vị trí đắc địa của điền trang và cửa tiệm thì trong lòng mừng rơn; nhưng ngoài mặt hắn vẫn làm ra vẻ khó khăn, ép giá không thương tiếc: "Mảnh đất và hai tiệm này ngày thường chí ít cũng đáng giá một vạn hai ngàn lượng bạc; nhưng lúc này cuối năm tiền mặt eo hẹp, lại cần lấy tiền ngay trong buổi chiều, thương hội chúng ta chỉ có thể trả cho ông năm ngàn ba trăm lượng bạc trắng; nếu đồng ý thì lập tức ra nha môn làm thủ tục sang tên đổi chủ, còn nếu không thì mời ông đi nơi khác!"
Nghe đối phương ép giá chưa bằng một nửa giá trị thực tế, tim lão Tiền đau như có dao cứa từng khúc ruột; nhưng nhớ tới lời dặn đanh thép của Vân Nương: "Thà lấy về năm ngàn lượng bạc cứu mạng còn hơn ôm khế ước mười vạn lượng mà đầu rơi xuống đất", lão Tiền cắn răng gật đầu dứt khoát: "Được! Năm ngàn ba trăm lượng thì năm ngàn ba trăm lượng! Nhưng ta có một điều kiện: Năm ngàn lượng phải đổi bằng ngân phiếu của tiền trang Tứ Hải loại một trăm lượng bạc; còn ba trăm lượng kia phải chi trả bằng bạc vụn cắt nhỏ từ một đến hai lượng, không được thiếu một đồng!"
Thấy bên bán dứt khoát khác thường, đại chưởng quầy Vạn Hưng thương hội lập tức phái người theo Tiền chưởng quầy đến nha môn Hộ bộ khu Nam thành; nhờ vào các mối quan hệ tiền bạc sẵn có của thương hội lớn, các viên thư lại nha môn nhanh chóng làm thủ tục sang tên đổi chủ, đóng dấu son xác nhận chuyển nhượng toàn bộ ba mươi mẫu điền trang và hai tiệm hương liệu sang tên của hội buôn Sơn Tây ngay trước giờ đóng cửa nha môn. Ngay sau đó, lão Tiền theo họ sang tiền trang Tứ Hải bên cạnh, nhận đủ năm mươi tờ ngân phiếu mệnh giá một trăm lượng và trực tiếp giám sát thợ bạc dùng búa sắt và kìm lớn cắt nhỏ hơn ba trăm lượng bạc trắng thành từng mẩu vụn tròn trịa; tiếng búa gõ lách cách vang lên trong căn phòng kín của tiền trang như từng nhịp đập của sự sống đang được giải thoát.
Khi mọi việc hoàn tất, bóng chiều tà bắt đầu ngả dần về hướng tây, nhuộm đỏ rực một góc trời kinh kỳ bằng một thứ ánh sáng đỏ quạch như máu loãng; tuyết trên mái ngói bắt đầu tan chảy thành từng giọt nước lạnh buốt rớt tong tỏng xuống thềm đá hoa viên. Tiếng chuông chiều từ ngôi chùa cổ phía xa xa ngân vang từng hồi trầm đục, báo hiệu giờ đóng cửa của các cổng thành và các nha môn trong nội đô; bóng tối sập xuống rất nhanh, nuốt chửng những tàng cây xơ xác trong một màn sương mù mịt mùng và u ám.
Đúng vào lúc tiếng mõ canh một vừa điểm từ tháp vọng lâu đầu phố, phía sau cánh cửa ngách của hoa viên bỗng vang lên tiếng gõ khẽ khàng nhưng dứt khoát: ba tiếng dài, tiếp theo là hai tiếng ngắn ngắt quãng. Đó chính là ám hiệu bí mật mà Vân Nương và Tiền chưởng quầy đã quy ước từ trước; nghe thấy âm thanh quen thuộc ấy, tảng đá đè nặng trong lồng ngực nàng bấy lâu nay mới khẽ dịch chuyển đôi chút. Nàng khoác vội chiếc áo choàng màu chàm, bước thoăn thoắt trên nền tuyết lạnh ra mở then cài cửa ngách.
Cánh cửa vừa hé mở, một luồng gió lạnh thấu xương ùa vào mang theo hơi thở dồn dập của Tiền chưởng quầy; lão lách người vào trong, trên vai vác theo một chiếc đòn gánh ngụy trang bằng hai bó củi mục ướt sũng tuyết, nhưng bên dưới lớp củi ấy lại treo lủng lẳng ba chiếc bọc vải thô dày cộp màu xám tro. Thân hình lão Tiền ướt đẫm từ đầu đến chân, những giọt nước tuyết tan bám trên râu tóc đã bắt đầu đông cứng lại thành những giọt băng li ti, đôi môi lão run rẩy không ngừng vì lạnh, nhưng trong đôi mắt trũng sâu lại ánh lên niềm vui sướng nghẹn ngào của người vừa hoàn thành một đại sự kinh thiên động địa.
Vân Nương nhanh chóng đóng chặt then cửa, đỡ lấy chiếc đòn gánh trên vai lão rồi cùng lão rảo bước vào sâu trong gian mật thất; nàng chốt chặt cửa trong, thắp thêm một ngọn nến sáp để xua đi bóng tối dày đặc đang bao trùm căn phòng.
Tiền chưởng quầy thở hổn hển, lão đặt ba chiếc bọc vải thô lên mặt bàn gỗ lim; tiếng kim loại va chạm vào nhau phát ra những âm thanh nặng trịch, chắc nịch nhưng lại không hề có tiếng leng keng lanh lảnh của những thỏi bạc đúc nguyên khối. Lão đưa tay mở nút thắt của chiếc bọc thứ nhất, để lộ ra hàng trăm mẩu bạc vụn sáng lấp lánh dưới ánh nến; từng mẩu bạc đều được cắt gọt tỉ mỉ, mài nhẵn các góc nhọn thành những viên nhỏ cỡ đốt ngón tay cái, mỗi viên nặng đúng từ một đến hai lượng bạc trắng. Chiếc bọc thứ hai và thứ ba cũng chứa đầy những mẩu bạc vụn tương tự, tổng cộng nặng trĩu tay ước chừng hơn ba trăm lượng bạc nguyên.
Tiếp đó, Tiền chưởng quầy run rẩy thò tay vào sâu trong lớp áo lót sát ngực, nơi hơi ấm cơ thể của lão vẫn còn vương vấn, rút ra một chiếc túi da hươu nhỏ được khâu chỉ sáp chống thấm nước tuyệt đối. Lão mở miệng túi da, cẩn thận lấy ra một xấp giấy mỏng tanh nhưng dai mịn, trên bề mặt in hoa văn chìm tinh xảo của tiền trang Tứ Hải cùng dấu triện đỏ tươi như son của chưởng quản đại nhân; đó là năm mươi tờ ngân phiếu Tứ Hải thông hành, mỗi tờ có mệnh giá tròn một trăm lượng bạc, tổng cộng trị giá đúng năm ngàn lượng bạc trắng tinh khiết có thể đổi lấy tiền mặt tại bất kỳ phân hiệu nào trên khắp cõi sơn hà.
Lão Tiền quỳ sụp xuống bên cạnh bàn, giọng nói nghẹn ngào xúc động đến mức rơi lệ: "Bẩm tiểu thư, lão nô không phụ sự ủy thác của người! Chiều nay lão nô đã tìm đến thẳng hội buôn Vạn Hưng của đất Sơn Tây; bọn họ vừa gom được một lượng tiền mặt khổng lồ để chuẩn bị nhập hàng lụa mùa xuân; khi nghe lão nô nói chủ nhân cần tiền gấp giải cứu tàu hàng chìm chấp nhận bán rẻ đứt đoạn ba mươi mẫu ruộng màu mỡ và hai tiệm hương liệu với giá năm ngàn ba trăm lượng bạc, bọn họ mừng như bắt được vàng, lập tức cử người cùng lão nô đến nha môn Hộ bộ làm thủ tục sang tên đổi chủ ngay trước giờ đóng cửa; toàn bộ số bạc này lão nô đã ép bọn họ quy đổi ra năm ngàn lượng ngân phiếu Tứ Hải loại một trăm lượng và hơn ba trăm lượng bạc vụn cắt nhỏ đúng như lời người căn dặn; mọi dấu vết giấy tờ cũ đều đã được xóa sạch trên sổ bạ của quan phủ, từ nay về sau sản nghiệp đó không còn nửa điểm liên can nào đến Thẩm gia hay Vĩnh Ninh bá phủ nữa!"
Vân Nương nhìn đống bạc vụn và xấp ngân phiếu đặt ngay ngắn trước mắt, đôi mắt nàng hoe đỏ, một giọt nước mắt nóng hổi khẽ lăn dài trên gò má rồi rơi xuống chiếc bàn gỗ lim; đây là thành quả của sự nhẫn nại, của mồ hôi nước mắt mà cha nàng để lại, dù đã bị mất đi hơn một nửa giá trị do phải bán tháo trong cơn hoảng loạn, nhưng nó đã kịp thời hóa thân thành thứ vũ khí sinh tồn tối thượng giúp nàng và phu quân có cơ hội sống sót qua cơn phong ba bão táp sắp tới. Nàng đưa tay chạm vào từng mẩu bạc vụn lạnh ngắt, cảm nhận được sức nặng của sinh mệnh và trách nhiệm đang đè nặng lên đôi vai của mình.
Nàng hít một hơi sâu, lấy lại sự bình tĩnh sắc đá vốn có, rồi quay sang nhìn Tiền chưởng quầy đang quỳ dưới đất; nàng bước tới mở chiếc ngăn kéo nhỏ phía trên bàn, lấy ra một chiếc tráp sơn then nhỏ nhắn; mở nắp tráp ra, bên trong là mười mấy tờ giấy tuyên thành viết chữ mực đen ngay ngắn, góc dưới có điểm chỉ dấu vân tay đỏ chói; đó chính là toàn bộ văn tự bán thân của Tiền chưởng quầy cùng toàn bộ đám gia nhân, tiểu nhị thân tín đã theo hầu Thẩm gia suốt bao năm qua tại tiệm hương liệu.
Vân Nương cầm xấp văn tự bán thân trên tay, ánh mắt nhìn lão Tiền tràn ngập sự biết ơn và trân trọng: "Lão Tiền, ba mươi năm qua gia đình lão đã tận tụy vì Thẩm gia chúng ta, coi sóc cửa tiệm chu đáo, trung thành một dạ không hề có nửa điểm gian dối; ân tình đó Thẩm Sở Vân ta khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn không bao giờ quên."
Nói đoạn, trước ánh mắt sững sờ kinh ngạc của Tiền chưởng quầy, Vân Nương cầm lấy cây kéo nhỏ trên bàn, dứt khoát cắt đứt đôi từng tờ văn tự bán thân, rồi đưa thẳng vào ngọn lửa nến đang bập bùng cháy; ngọn lửa bùng lên liếm trọn những mép giấy vàng úa, thiêu rụi từng dòng chữ ước thúc nô bộc, biến tất cả thành những tàn tro đen nhánh rơi lả tả xuống chiếc đĩa đồng.
Tiền chưởng quầy bàng hoàng kêu lên một tiếng thất thanh: "Tiểu thư! Người... người làm gì vậy?"
Vân Nương mỉm cười dịu dàng, nụ cười hiếm hoi nở trên môi nàng giữa những ngày giông bão tăm tối: "Từ giờ phút này trở đi, lão và toàn bộ gia nhân dưới trướng không còn là nô bộc của ai nữa; các người đều là những người tự do, có quyền tự quyết định vận mệnh và cuộc sống của chính mình; triều đình dù có lục soát hay tịch biên Bá phủ cũng tuyệt đối không thể bắt các người chịu tội liên đới nô tịch được nữa!"
Chưa dừng lại ở đó, Vân Nương đưa tay vốc trọn một bọc vải thô đựng đúng một trăm lượng bạc vụn cắt nhỏ, đặt thẳng vào hai bàn tay thô ráp đang run rẩy của Tiền chưởng quầy; nàng nắm chặt lấy tay lão, giọng nói tha thiết nhưng vô cùng nghiêm cẩn: "Số bạc vụn này là phần thưởng và tiền dưỡng lão mà ta dành riêng cho lão cùng anh em gia nhân; lão hãy cầm lấy, lập tức quay về tiệm hương liệu, thu dọn toàn bộ hành lý cần thiết của mọi người; nội trong đêm nay, ngay khi cổng thành phía Tây mở cho dân phu chở củi ra vào lúc rạng sáng, lão phải dẫn theo cả gia quyến và toàn bộ đám gia nhân rời khỏi kinh thành ngay lập tức; hãy trốn về miền quê hẻo lánh hoặc xuôi thuyền về lại Giang Nam sinh sống, đổi tên họ làm ăn lương thiện; tuyệt đối không được nán lại kinh kỳ dù chỉ một khắc, cũng không được quay lại tìm ta hay dò la tin tức của Bá phủ!"
Nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đẫm lệ của người quản gia già, dặn dò cặn kẽ đường đi nước bước: "Hãy đi theo cổng Tây qua bến đò Lục Hợp, tránh xa trục đường lớn phía Bắc nơi quân đội đang tập kết binh mã; hãy thuê xe bò cũ chở phụ nữ và trẻ nhỏ, ăn mặc giả dạng làm dân tị nạn lánh rét mùa đông; số bạc vụn này lão hãy chia nhỏ ra cho từng người khâu giấu vào đế giày vải và nẹp đai lưng, phòng khi gặp cướp bóc dọc đường; hãy nhớ kỹ, nếu sau này nghe tin Vĩnh Ninh bá phủ bị tịch biên hay tru di, các người tuyệt đối không được manh động đến gần Chiêu Ngục; Thẩm Sở Vân ta có cách tự bảo vệ mình và Thiệu Đường; chỉ cần các người sống sót bình an ngoài kia, Thẩm gia chúng ta coi như vẫn còn lưu lại một dòng máu nghĩa tình; nếu ai hỏi đến, các người chỉ cần nói rằng cửa tiệm đã bán tháo cho người khác và các người đã bị đuổi đi từ lâu; hãy sống cho thật tốt, thay ta chăm sóc mồ mả tổ tiên nơi quê nhà!"
Tiền chưởng quầy ôm bọc bạc vụn vào lòng, nhìn đống tro tàn của văn tự bán thân còn vương khói khét lẹt trên đĩa đồng, rồi lại nhìn khuôn mặt kiên định nhưng chan chứa tình người của tiểu thư; những giọt nước mắt già nua tuôn rơi lã chã làm ướt đẫm vạt áo tơi rách rưới; lão quỳ rạp người xuống nền đá buốt giá, dập đầu ba lạy sát đất, tiếng trán va vào sàn đá vang lên cồm cộp giữa đêm đông tĩnh mịch: "Ơn tái sinh của tiểu thư... lão nô dù có thịt nát xương tan cũng không báo đáp hết được! Lão gia trên trời có linh thiêng nhất định sẽ phù hộ cho tiểu thư và Tam công tử tai qua nạn khỏi, bình an vô sự qua khỏi kiếp nạn này! Lão nô xin thề trước vong linh của lão gia, đời đời kiếp kiếp con cháu họ Tiền sẽ luôn ghi nhớ đại ân đại đức của người! Lão nô xin bái tạ tiểu thư!"
Vân Nương nâng lão dậy, ánh mắt nàng ngấn lệ nhưng giọng nói vẫn kiên quyết: "Mau đi đi lão Tiền! Thời gian không còn nhiều nữa đâu, giông bão đã kéo đến tận đầu ngõ rồi; hãy bảo trọng lấy thân mình!"
Tiền chưởng quầy gạt nước mắt, lão cẩn thận giấu bọc bạc vụn vào sâu trong ngực áo, khoác lại chiếc áo tơi rách rồi bước ra cửa ngách; trước khi bước chân ra ngoài màn đêm, lão dừng lại quay đầu nhìn tiểu thư lần cuối cùng, ánh mắt chan chứa muôn vàn lưu luyến và xót xa khôn xiết. Lão khẽ cúi đầu chào, rồi bóng dáng còng còng của người quản gia già nhanh chóng hòa lẫn vào màn mưa tuyết mịt mù, tan biến vào bóng đêm đen đặc quánh như mực của kinh thành.
Vân Nương khóa chặt then cửa ngách, chốt ba lần khóa cẩn thận rồi quay trở lại bên bàn mật thất; nàng lặng lẽ thu dọn hai bọc vải thô đựng hơn hai trăm lượng bạc vụn còn lại cùng túi da hươu chứa năm ngàn lượng ngân phiếu Tứ Hải giấu vào chiếc làn mây cũ phủ đầy vải gai; nàng mang chiếc làn trở về gian phòng ngủ của mình, đặt ngay ngắn dưới chân giường gỗ rồi phủ một lớp rơm khô cùng vài mảnh chiếu rách lên trên để ngụy trang.
Đúng vào lúc nàng vừa đặt chiếc làn mây xuống, từ phía tháp chuông canh giữa trung tâm kinh thành, tiếng mõ điểm canh ba bỗng nhiên vang lên dồn dập, từng tiếng cắc cắc đều đặn nhưng dồn dập xé toạc màn đêm tĩnh mịch; tiếng chuông đồng vọng lại từ xa xa nghe rờn rợn, thê lương như tiếng thở dài của tử thần đang sải từng bước chân lạnh lẽo tiến về phía Vĩnh Ninh bá phủ.
Bóng tối của đêm đông tháng Chạp dày đặc bao trùm khắp không gian, cái lạnh buốt giá dường như đã đóng băng cả hơi thở của con người; Vân Nương đứng lặng bên ngọn đèn dầu le lói, nhìn qua khung cửa sổ hướng về phía cổng lớn của Bá phủ. Nàng biết, ngày cuối cùng trước khi thảm họa tịch biên giáng xuống đã chính thức bắt đầu; chỉ còn chưa đầy một ngày đêm nữa, Cấm quân giáp trụ sáng lóa sẽ phá tung cánh cổng son kia, biến nơi này thành địa ngục trần gian; và giờ đây, cuộc chiến sinh tồn thực sự của nàng - cuộc chiến khâu giấu kho báu cứu mạng vào từng đường kim mũi chỉ của chiếc áo bông rách nát - đã đến lúc phải bắt đầu.