Chương 3: Hồi Môn Về Phủ
Sáng hôm ấy, ta dậy rất sớm, trời còn mờ mờ như tấm khăn voan xám phủ lên mái phủ tướng quân, gió đầu ngày se se lùa qua khe cửa sổ, mang theo mùi sương lạnh và mùi khói bếp từ dãy nhà sau bay tới, bếp lửa kêu lách tách, nồi niêu chạm nhau leng keng, lính gác đổi ca bước huỳnh huỵch ngoài sân, áo giáp va vào nhau lách cách, tiếng chổi quét sân sột soạt, tiếng gà gáy le té từ xa vọng lại, cả phủ còn ngái ngủ mà ta đã tỉnh như sáo.
Ta ngồi trước gương đồng, nhìn gương mặt trong gương mà thở dài một hơi thật dài, gương mặt này thanh tú, mày liễu cong cong, môi đỏ nhỏ xinh, da trắng mịn như cánh hoa mới nở, tóc đen mượt chải gọn ra sau, trâm ngọc cài lệch một bên, đúng là dáng vẻ của Chúc Vân Thanh, tiểu thư khuê các, yếu đuối, mong manh, chỉ cần gió to một chút là có thể ngã, chỉ cần nói nặng một câu là có thể khóc. Nhưng bên trong gương mặt ấy lại là ta, Hứa Kiều Đồng, nữ tướng biên quan, quanh năm cưỡi ngựa, múa thương, ăn gió nằm sương, tay chai sần vì cán thương, vai rộng vì kéo cung, tính tình thẳng như cán thương, có gì nói nấy, không quen cúi đầu, không quen quỳ gối, càng không quen khóc lóc van xin.
Mấy hôm nay ở phủ tướng quân, ta nhịn đã đủ rồi, mẹ chồng thì mặt nặng mày nhẹ, sớm nắng chiều mưa, nói một câu mà quẹo tới ba lần, cười mà mắt không cười, khen mà như mắng, Tống Địch thì đưa nữ tử lạ về phủ, ăn nói ngọt xớt mà lòng dạ khó lường, đi sớm về khuya, áo còn vương mùi phấn lạ, cả phủ cứ rì rầm như ong vỡ tổ, nha hoàn đi qua đi lại thì thào, tiếng guốc mộc lẹp xẹp trên hành lang, tiếng chén trà chạm nhau lanh canh trong phòng khách, tiếng rèm châu va vào nhau leng keng, nghe mà ngứa cả tai, tức cả ngực. Cho nên sáng nay, ta xắn tay áo lên thật cao, buộc gọn ống tay bằng dây vải, giắt khăn tay vào thắt lưng, tóc búi gọn, trâm cài chắc, tính bụng hôm nay phải đấu một trận ra trò với mẹ chồng, bà ta thích đấu mồm mép thì ta đấu mồm mép, bà ta thích giở trò thì ta giở trò, người nhà binh như ta, đánh nhau không sợ, đấu trí cũng không ngán, đã nhịn nhiều ngày thì hôm nay không nhịn nữa.
Ta ngồi tính kế trong đầu, tính kỹ từng đường đi nước bước như bày binh bố trận ngoài biên quan, bước thứ nhất là mượn cớ rót trà, tay run một cái, nước nóng hổi hắt lên mu bàn tay bà ta, cho bà ta biết thế nào là bỏng rát mà vẫn phải cười, vẫn phải nói không sao, bước thứ hai là mượn cớ dọn dẹp, khệ nệ bê chậu cây, hụt chân một cái, cả chậu đất đổ ụp xuống chân bà ta, cho bà ta dậm chân mà không mắng được, cho váy áo dính đất mà vẫn phải giữ dáng quý phu nhân, bước thứ ba là nói cạnh nói khóe, nhắc chuyện Tống Địch rước người ngoài về, để hắn biết thê tử của hắn không phải quả hồng mềm muốn nắn thế nào thì nắn, để mẹ chồng hắn biết con dâu này không dễ bắt nạt. Ta đang mài dao soàn soạt trong bụng, đang nghĩ xem nên ra tay trước hay nói trước, nên cười trước hay khóc trước, thì ngoài cổng bỗng vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc, tiếng bánh xe nghiến trên đá đường rào rào, rồi tiếng người giữ cửa hô to, giọng mừng rỡ vang khắp sân, có thư của phủ tể tướng gửi tới, có thư của phủ tể tướng gửi cho tam thiếu phu nhân.
Nha hoàn chạy vào, hai bím tóc tung tẩy, trán lấm tấm mồ hôi, má đỏ hây hây, tay cầm phong thư màu kem, viền hoa văn chìm, mùi mực thơm thoang thoảng, nàng ta vừa thở hổn hển vừa nói, giọng líu ríu như chim sẻ, tam thiếu phu nhân ơi, phủ tể tướng cho người đưa thư tới, nói phu nhân nhớ tam tiểu thư, mời tiểu thư về nhà một chuyến, xe ngựa đã chờ ngoài cổng, lão gia phu nhân đều mong tiểu thư lắm. Ta nghe xong, hai mắt sáng rỡ như hai đốm lửa được châm thêm dầu, trong lòng reo lên một tiếng, hay quá, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, đang không biết lấy cớ gì để ra khỏi phủ tướng quân ngột ngạt này thì nhà mẹ ruột đã dâng cớ tới tận miệng, đang muốn mách lẻo mà có sẵn chỗ cho mách, còn gì tốt bằng.
Theo ta thấy, chuyện nhà chồng ăn hiếp con gái nhà mình thì nhà mẹ ruột phải cứng, Chúc Vân Thanh muốn sống yên ổn ở phủ tướng quân thì một mình nàng cứng rắn thôi chưa đủ, nhà mẹ ruột cũng phải có bản lĩnh, phải có người chống lưng, huynh trưởng phải vác gậy tới đánh cho Tống Địch một trận nhớ đời, cha mẹ phải tới hỏi tội mẹ chồng, như thế mới ra dáng nhà vợ, như thế nhà chồng mới sợ, mới không dám khinh. Chắc chắn là Chúc Vân Thanh quá mạnh mẽ, quá hiểu chuyện, chuyện gì cũng giữ trong lòng, bị ấm ức cũng không hé răng với cha mẹ huynh đệ, sợ cha mẹ lo, sợ làm to chuyện, sợ mang tiếng ghen tuông, cho nên Tống Địch mới được nước lấn tới, rước nữ tử khác về mà không ai hỏi, mẹ chồng mới dám lên mặt dạy dỗ. Ta thì khác, ta thích mách lẻo, mách lẻo quang minh chính đại, mách lẻo đường đường chính chính, bị đánh một cái là về mách cha, bị mắng một câu là về mách huynh, ở biên quan, ai bắt nạt ta là ta kéo cả đội tới đòi lại công bằng, chưa bao giờ chịu thiệt một mình, chưa bao giờ khóc một mình trong chăn.
Cho nên ta nghĩ bụng, chuyến này về phủ tể tướng, ta phải mách cho ra trò, phải kể cho thật thê thảm, phải làm cho cha Chúc nổi giận, mẹ Chúc xót con, huynh trưởng xắn tay áo, kéo nhau tới phủ tướng quân đánh Tống Địch một trận tơi bời, đánh cho hắn chừa cái thói trăng hoa, đánh cho mẹ chồng hắn hết dám bắt nạt con dâu, đánh cho cả phủ tướng quân biết Chúc gia không phải không có người. Nghĩ tới cảnh Tống Địch bị đánh ôm đầu chạy quanh sân, tiếng gậy vụt vút trong gió, tiếng hắn kêu oai oái, áo xô lệch, tóc tai rối bời, là ta đã thấy khoái trong lòng, khóe miệng cong lên, suýt nữa thì bật cười thành tiếng, phải vội đưa tay che miệng, ho khan một tiếng để lấp liếm, nha hoàn nhìn ta lạ lẫm mà ta mặc kệ. Ta lập tức sai nha hoàn chuẩn bị xe ngựa, chuẩn bị lễ vật mang về nhà mẹ, lễ vật thì phải đủ đầy, hộp bánh ngọt thơm phức mùi đậu xanh, xấp vải lụa mềm mại màu son và màu ngọc, hũ thuốc bổ đậy nắp kín, dây buộc đỏ thắt nơ xinh xắn, nhìn vào là biết con gái hiếu thảo mang quà về thăm nhà, không ai bắt bẻ được, không ai nói được một câu thất lễ.
Xe ngựa lăn bánh khỏi phủ tướng quân, bánh xe gỗ nghiến trên đường đá kêu lộc cộc đều đều, rèm xe bằng vải dày đung đưa theo nhịp, gió lùa qua khe rèm mang theo mùi phố xá buổi sớm, mùi bánh bao nóng hổi từ quán bên đường, mùi dầu chiên xèo xèo, mùi đường thắng thơm ngọt, tiếng người bán hàng rao lanh lảnh, tiếng trẻ con cười khanh khách đuổi nhau, tiếng móng ngựa gõ nhịp thình thịch trên mặt đường, tiếng bánh xe khác lăn qua rào rào, tiếng chuông gió trước hiên nhà ai kêu leng keng. Ta ngồi trong xe mà lòng háo hức như sắp ra trận, tay sờ sờ hộp lễ vật, mắt nhìn qua khe rèm ngắm phố phường Kinh Thành, nhà cao cửa rộng san sát, cờ hiệu bay phần phật, người qua lại tấp nập, áo quần sặc sỡ, khác hẳn biên quan cát vàng gió lớn, ở đây cái gì cũng mềm, cũng thơm, cũng đẹp, mà lòng người thì cứng và lạnh hơn nhiều.
Đi được một đoạn, xe qua cầu đá, nước sông chảy róc rách bên dưới, gió mát lùa vào, ta bỗng thấy hồi hộp, tim đập thình thịch như trống trận, vì lần đầu về nhà mẹ trong thân xác người khác, không biết cha mẹ Chúc Vân Thanh mặt mũi ra sao, tính tình ra sao, có nhận ra con gái mình khác lạ không, ta bèn dặn mình phải cẩn thận, phải diễn cho giống, phải khóc cho thật, phải mách cho khéo, không thể để lộ mình là Hứa Kiều Đồng. Ta nhớ lại lời Chúc Vân Thanh dặn, cha nàng nghiêm, mẹ nàng kỹ tính, huynh trưởng ít nói, ta phải giữ lễ, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, ta nghe mà ngứa cả người, vì cả đời ta chưa từng đi nhẹ nói khẽ, nhưng vì đại kế mách lẻo, ta nhịn, ta học, ta diễn.
Nhưng ta không vội xuống xe khi tới trước cửa phủ tể tướng, xe dừng lại, ngựa hí lên một tiếng dài, phu xe ghìm cương kêu kẽo kẹt, người giữ cửa đã chạy ra đón, mà ta ngồi lì trong buồng xe, tim đập thình thịch, tay hơi run vì hồi hộp và vì háo hức, vì kế mách lẻo sắp thành, ta mở hộp trang sức nhỏ mang theo, bên trong có trâm, có vòng, có phấn, và có một nhánh hoa tiêu khô mà ta đã dặn nha hoàn tìm từ sớm, gói trong khăn tay thơm. Nhánh hoa tiêu nhỏ xíu, màu nâu sẫm, vỏ sần sùi, mùi cay nồng xộc lên mũi chỉ cần ngửi thoáng qua, người biên quan dùng nó nấu ăn cho ấm bụng, ai ngờ hôm nay ta lại dùng nó để khóc, ta đưa nhánh hoa tiêu lại gần mắt, hơ nhẹ, hơi cay bốc lên, xộc thẳng vào mắt, mắt ta lập tức cay xè, nước mắt trào ra không kìm được, chảy dài trên má, nóng hổi, ta chớp chớp mắt, dụi nhẹ, mắt đỏ lên nhanh chóng, sưng mọng như vừa khóc một trận lớn, gân máu đỏ li ti hiện rõ, nhìn vào gương mà chính ta còn thấy thương.
Chưa đủ, ta lại rót một chung trà đặc từ ấm nhỏ trong xe, nước trà màu vàng sẫm, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà chát thoang thoảng, ta chấm ngón tay vào nước trà, vẩy vài giọt lên mặt, để nước trà chảy dọc theo gò má, đọng ở cằm rồi nhỏ tong tong xuống cổ áo, ướt một vệt sẫm màu, nhìn vào là thấy dấu vết nước mắt chưa khô, khóc nhiều đến ướt cả áo, ta còn cố ý để tóc mai hơi rối, rút nhẹ một sợi tóc xuống má, trâm cài hơi lệch sang một bên, vạt áo hơi xô, đúng dáng người vội vã về nhà mà không kịp chỉnh trang. Làm xong, ta soi vào tấm gương đồng nhỏ, ngắm nghía kỹ lưỡng, một đôi mắt sưng đỏ, một khuôn mặt đầy nước mắt, tóc mai hơi rối, trâm cài hơi lệch, vạt áo hơi xô, đúng là dáng vẻ của một tiểu thư bị ấm ức đến mức không chịu nổi, phải chạy về nhà mẹ mà khóc, phải để cha mẹ nhìn một cái là xót, nhìn hai cái là giận, nhìn ba cái là muốn cầm gậy đi đánh người.
Ta hài lòng gật đầu, khẽ tặc lưỡi một cái, tự khen mình trong bụng, Hứa Kiều Đồng ơi là Hứa Kiều Đồng, ngươi đánh trận giỏi mà diễn kịch cũng giỏi, phen này cha mẹ nhìn thấy, không xót mới lạ, không nổi giận mới lạ, Tống Địch phen này chết chắc, mẹ chồng phen này cũng khó yên, ta còn tập thử giọng khóc, hức một tiếng, nghẹn một tiếng, nức nở một tiếng, sao cho thật giống tiểu thư khuê các bị bắt nạt, không giống nữ tướng gào thét ngoài thao trường, ta tập đi tập lại mấy lần đến mức chính mình cũng thấy chua xót. Lúc ta vịn tay nha hoàn xuống xe, chân hơi run, váy quét đất sột soạt, vừa khéo nhìn thấy người giữ cửa của phủ tể tướng, người giữ cửa dáng cao gầy, mặt đen sì vì nắng, vừa thấy bóng ta đã vội vàng chạy tới, bước chân huỳnh huỵch, cúi người thật thấp, giọng mừng rỡ, nếp nhăn trên mặt giãn ra, cuối cùng tiểu thư cũng về rồi, lão gia và phu nhân đã chờ lâu lắm rồi, mời tiểu thư vào trong, phu nhân nhắc tiểu thư suốt từ sáng.
Ta dựa nhẹ vào thành xe, đưa khăn tay lên chấm chấm khóe mắt, khẽ khụ một tiếng, giọng nghèn nghẹn như cố nén khóc, làm ra vẻ tủi thân mà vẫn cố giữ lễ, ừ, ta về rồi đây, cha mẹ vẫn khỏe chứ, ta nhớ nhà lắm, mấy đêm liền không ngủ được, chỉ mong được về thăm nhà một lát, nói tới đây giọng ta nghẹn lại, mắt lại đỏ thêm, nước mắt hoa tiêu còn sót lại trào ra, trông càng thật. Người giữ cửa thấy mắt ta đỏ hoe thì giật mình, vội tránh sang bên, tay run run vén rèm cửa, miệng lắp bắp, tiểu thư đi lối này, cẩn thận bậc thềm, lão gia phu nhân đang chờ ở sảnh đường, tiểu thư đi chậm thôi, coi chừng ngã, để lão đi trước dẫn đường.
Ta bước vào phủ tể tướng, lòng vừa hồi hộp vừa đắc ý, chân bước trên nền đá xanh mát lạnh, tiếng guốc gõ cộc cộc vang vọng, hai bên hành lang treo đèn lồng đỏ, tua rua đung đưa trong gió, mùi đàn hương thoang thoảng từ sảnh chính bay ra, tiếng chim sẻ lích chích trên mái ngói, tiếng lá khô xào xạc dưới chân người quét sân, tiếng nước chảy róc rách trong hồ nhỏ, mùi hoa quế thơm ngọt đầu mùa, tất cả đều ngăn nắp, sạch sẽ, quy củ, khác hẳn phủ tướng quân ồn ào và biên quan bụi bặm, ở đây đi một bước cũng có người nhìn, nói một câu cũng có người nghe, ta phải gồng mình đi cho ra dáng tiểu thư, lưng thẳng, cổ cao, bước ngắn, tay khép, mệt muốn chết.
Trước khi bước vào sảnh đường, ta đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế, mở miệng thế nào, khóc lúc nào, kể chuyện Tống Địch ra sao, đoạn nào thì nức nở, đoạn nào thì nghẹn ngào không nói nên lời, đoạn nào thì quỳ xuống ôm lấy chân mẹ mà kể, đoạn nào thì nhắc mẹ chồng cay nghiệt, đoạn nào thì nhắc Lưu Thanh Thanh trơ trẽn, ta duyệt lại trong đầu một lượt, chắc chắn không sơ hở, chỉ chờ cha mẹ hỏi một câu là tuôn ra như suối. Nhưng không ngờ, chuẩn bị kỹ càng như thế lại chẳng có đất dụng võ, giống như mang đại đao đi chém mà địch đã đào hào sẵn, uổng công mài dao, giống như mang cung tên đi bắn mà trời đổ mưa, dây cung ướt nhẹp, bắn không được.
Ta vừa bước chân trái vào cửa sảnh, còn chưa kịp mở miệng chào cha mẹ, còn chưa kịp giở giọng tủi thân, còn chưa kịp quỳ xuống, đã nghe thấy một tiếng quát lớn như sấm nổ giữa trời quang, âm thanh trầm nặng dội lên xà nhà rồi rơi xuống nền gạch lạnh ngắt, làm bụi trên xà nhà rơi lả tả, làm nến trên bàn chao đảo, làm tim ta giật thót. Giọng của cha Chúc vang lên, từng chữ đanh thép, rành rọt, nghiệt chướng, còn không quỳ xuống, mau quỳ xuống cho ta, quỳ ngay trước sảnh cho ta, giọng ông vang vọng, lạnh lùng, không một chút ấm áp của người cha nhớ con. Trong sảnh, nến cháy xì xèo, bấc nến nổ tí tách, khói mỏng uốn lượn bay lên, mùi sáp ong hăng hắc hòa với mùi trà đắng, mùi hương trầm nồng nặc, không khí đặc quánh, mấy người hầu đứng hai bên đều cúi gằm mặt, không dám thở mạnh, tiếng thở khẽ khàng mà nghe cũng nặng nề, tiếng vạt áo cọ vào nhau sột soạt cũng nghe rõ mồn một.
Ta đứng sững tại chỗ, chân trái còn lơ lửng chưa kịp đặt xuống, váy áo khẽ đung đưa, khăn tay nắm chặt trong tay, trong đầu ong lên một tiếng, ái chà, nghiệt chướng là gọi ai vậy, ở đây ngoài ta ra còn ai nữa đâu, chẳng lẽ vừa vào cửa đã bị mắng là nghiệt chướng, chẳng lẽ mắt ta sưng đỏ thế này mà cha không thấy, mặt ta đầy nước mắt thế này mà cha không hỏi, vừa mở miệng đã là quát, vừa gặp mặt đã là phạt. Ta không đến nỗi cho rằng cha mẹ trên đời đều giống cha mẹ ta, ta biết mỗi nhà mỗi khác, nhà quan văn khác nhà võ tướng, nhà Kinh Thành khác nhà biên quan, nhưng ta thật không ngờ lại khác đến mức này, khác đến mức đảo ngược trắng đen, con gái về nhà mà như phạm nhân ra công đường.
Cha ta là lão Hầu gia, người quanh năm sống trong mưa máu gió bấc ngoài biên quan, áo giáp quanh năm không rời thân, tay cầm thương chai sần, mặt sạm nắng gió, râu ria xồm xoàm, nhìn hung dữ là thế, nhưng mỗi lần về nhà, việc đầu tiên là cúi xuống hỏi ta có ăn no không, có lạnh không, có bị ai bắt nạt không, giọng ồm ồm mà ấm áp như bếp lửa, tay xoa đầu ta sột soạt, còn dúi cho ta miếng thịt khô thơm phức, dặn ăn cho có sức. Huynh trưởng ta thì suốt ngày càu nhàu, Hứa Kiều Đồng, đội mũ vào, Hứa Kiều Đồng, mặc thêm áo vào, Hứa Kiều Đồng, con nhóc không biết lo cho bản thân, mắng thì mắng vậy mà đi đâu cũng mang quà về cho ta, có miếng ngon nào cũng để dành cho ta, có áo ấm nào cũng nhường cho ta, sợ ta đói, sợ ta gầy, sợ ta bị lạnh chân khi gác đêm, nửa đêm còn mang chăn ra chốt cho ta, ngồi canh cùng ta nghe gió rít.
Chỉ là ta không ngờ, trên đời còn có cha mẹ giống như cha mẹ của Chúc Vân Thanh, con gái mắt sưng đỏ, mặt đầy nước mắt, tóc tai rối bời, lặn lội về nhà mà cha không hỏi một câu có ấm ức không, mẹ không hỏi một câu có mệt không, mở miệng ra đã là quát mắng, mở miệng ra đã là tội, ta bỗng thấy mắt cay thật, không phải cay vì hoa tiêu nữa, mà cay vì tủi, tủi cho Chúc Vân Thanh, bao năm sống trong nhà này không biết đã khóc bao nhiêu lần. Lần đầu tiên ta về nhà mẹ trong thân xác này, cha Chúc ngồi ngay ghế chủ vị, áo dài màu sẫm thêu hoa văn chìm, mặt nghiêm như đá, râu khẽ rung theo hơi thở nặng nề, tay đặt trên đầu gối, ngón tay gõ gõ nhè nhẹ, ông không quan tâm đến việc con gái ở nhà chồng có bị ấm ức hay không, cũng không nhìn thấy mắt ta sưng đỏ, mặt đầy nước mắt, mà tức giận nói, giọng sang sảng, từng chữ như búa nện xuống đá.
Ông nói, phu quân đã đưa người về rồi, ngươi lại không chủ động nạp thiếp cho hắn, chẳng lẽ muốn để người ngoài bàn tán về giáo dưỡng của Chúc gia ta sao, con gái Chúc gia gả đi mà ghen tuông hẹp hòi, không dung được người khác, thì còn mặt mũi nào nữa, thiên hạ sẽ cười vào mặt Chúc gia, cười cha không biết dạy con, cười mẹ không biết dỗ con, ngươi làm xấu mặt cả nhà. Ta há hốc miệng, quai hàm như trễ xuống, trong đầu chỉ còn một chữ, hả, cái gì mà nạp thiếp, cái gì mà giáo dưỡng, chồng rước gái lạ về mà vợ còn phải vui vẻ đi nạp thiếp cho chồng, còn phải chọn ngày tốt, còn phải cười nói đón người ta vào cửa, trên đời còn có đạo lý ấy sao, ở biên quan, ngựa của ai thì người ấy cưỡi, thương của ai thì người ấy cầm, chồng của ai thì người ấy giữ, ai dám thò tay vào là bị chém cụt tay, ai dám liếc mắt là bị đấm sưng mặt, chứ không có chuyện dâng chồng cho người khác rồi còn được khen là rộng lượng.
Ta tự an ủi mình, có lẽ cha Chúc bị bệnh, bệnh nặng lắm rồi, đầu óc không còn tỉnh táo, cho nên mới nói ra những lời hồ đồ như vậy, thế là ta ngập tràn hy vọng nhìn về phía mẹ Chúc, mong mẹ sẽ nói một câu công bằng, bênh con gái một lần, như mẹ ta vẫn bênh ta mỗi khi cha định phạt, mẹ ta vẫn ôm ta vào lòng, xoa lưng ta, nói Đồng Đồng không sai, sai là do người khác. Mẹ Chúc ngồi ở ghế bên, dáng ngồi ngay ngắn, áo lụa màu ngọc thêu hoa văn chìm, tóc búi cao cài trâm vàng, tay đặt hờ trên tay vịn, ngón tay thon dài, móng tay sơn son đỏ chót, bà chậm rãi ngẩng lên nhìn ta một lượt, từ đầu đến chân, ánh mắt sắc như dao lướt qua mắt đỏ của ta, qua vệt nước trên má ta, qua vạt áo ướt của ta, mà không hề gợn sóng, không hề động lòng, rồi chậm rãi mở miệng, giọng êm ái như đang trò chuyện việc nhà, mà lạnh như nước giếng sâu.
Bà nói, Thanh Nhi à, mẫu thân nghe nói, con ở phủ tướng quân không được hiếu kính với mẹ chồng lắm, có phải không, con làm dâu mà cãi mẹ chồng, để tiếng xấu đồn ra ngoài, thì còn ra thể thống gì nữa, người ta sẽ nói Chúc gia không biết dạy con gái, gả đi rồi bị trả về thì nhục lắm con ơi. Nói xong, bà lại dặn dò ta, từng câu từng câu, rõ ràng như đang đọc một bản điều lệ đã viết sẵn, giọng đều đều mà lạnh lẽo, nghe lời mẫu thân, đến khi về phủ tướng quân, trước tiên hãy chọn một ngày tốt, kiệu nhỏ đón cô nương đó vào cửa, nạp làm thiếp, cho nàng ta chén trà, ghi tên vào sổ, thế là xong, vừa rộng lượng vừa giữ thể diện, vừa được tiếng hiền huệ, chồng con cũng sẽ nghĩ tốt về con hơn. Chờ xong chuyện rồi, đích thân đến xin lỗi mẹ chồng, dâng trà nhận lỗi, quỳ xuống dập đầu, sau đó cũng phải hiếu kính cho tử tế, sớm tối thưa hỏi, cơm bưng nước rót, áo thay chăn đắp, đừng để người ta chê cười Chúc gia không biết dạy con, đừng để mẹ chồng có cớ đuổi con ra khỏi nhà.
Bà ngừng một chút, nhấp một ngụm trà, tiếng nắp chén chạm vào miệng chén kêu lanh canh, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà thơm đắng, rồi nói tiếp, giọng chậm rãi mà chắc nịch, đúng rồi, trong ba điều bất hiếu, vô hậu là tội lớn nhất, con gả đi đã lâu mà bụng chưa có động tĩnh gì, sớm sinh con trai đích tôn mới là đúng lẽ, mới đứng vững được ở nhà chồng, mới không bị thiếp thất trèo lên đầu, mới có người chống lưng khi về già, đàn bà không con như cây không rễ, gió thổi là đổ. Rồi bà hỏi, thuốc mà mẫu thân cầu cho con, thang thuốc cầu thai đắng nghét ấy, con có uống đúng giờ không, có dưỡng cơ thể cho tốt không, sao sắc mặt vẫn kém thế, mắt sưng như vậy là thức khuya sao, hay là lại cãi nhau với phu quân, hay là lại không chịu uống thuốc, con càng cãi càng khổ, nghe mẹ thì sướng tấm thân.
Đầu óc ta ong ong, từng chữ như đàn ong bay vào tai, vo ve không dứt, ta cảm thấy máu dồn lên mặt, nóng bừng, rồi lại lạnh toát sống lưng, tay siết chặt khăn tay đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, khăn tay nhăn nhúm, ướt đẫm mồ hôi, mắt thì cay xè, mũi thì nghẹt lại, cổ họng nghẹn đắng, muốn nói mà không nói được, muốn khóc mà khóc không ra, muốn cười mà cười không nổi. Ta nhẫn nhịn hồi lâu, cuối cùng cũng mở miệng, giọng khàn đi vì tức và vì tủi, vì ấm ức thay cho Chúc Vân Thanh, con không, con không thể nạp thiếp cho hắn, hắn sai trước, hắn rước người ngoài về mà không hỏi con một tiếng, sao cha mẹ không hỏi con có bị ấm ức không, sao cha mẹ không hỏi con có đau không, có khổ không, mà lại bắt con đi nạp thiếp cho hắn, bắt con đi xin lỗi người mắng con, trên đời nào có đạo lý ấy.
Không kịp nói hết câu, cha Chúc đã đập bàn một tiếng thật mạnh, lòng bàn tay nện xuống mặt bàn gỗ kêu rầm một tiếng, chén trà trên bàn nảy lên, nắp chén lệch sang một bên, nước trà nóng bắn ra thành vệt, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà đắng xộc lên, ông chỉ vào ta, ngón tay run lên vì giận, râu rung bần bật, mắt trừng to, còn cãi, càng nói càng không ra thể thống gì nữa, người đâu, mang roi mây ra đây, đánh cho nó tỉnh ra, đánh cho nó nhớ gia quy. Tiếp đó là một trận roi mây, ma ma đứng ngoài cửa nghe lệnh lập tức bước vào, bước chân lẹp xẹp, vạt áo quét đất sột soạt, tay cầm roi mây dài, thân roi mềm dẻo, màu vàng sậm, vút trong không khí nghe vun vút, hai tên gia đinh cao lớn tiến tới ghìm hai cánh tay ta, bàn tay thô ráp siết chặt như kìm sắt, ta bị ấn quỳ xuống nền đá lạnh, đầu gối nện xuống kêu cộc một tiếng, lạnh buốt thấu xương, đau điếng thấu tim.
Roi mây mềm, nhưng quất xuống da thịt thì đau xót, từng nhát một, rát bỏng, nóng hổi, tiếng roi vút xuống nghe vút một cái rồi chát một cái, da thịt rung lên, áo mỏng rách sờn, ta nghiến răng, mồ hôi túa ra trên trán, hòa với vệt nước trà chưa khô, mặn chát, chảy xuống mắt cay xè, ta cắn môi đến bật máu mà quyết không kêu, vì người Hứa gia không kêu đau trước mặt người ngoài, kêu là thua, khóc là hèn. Ta đã phản kháng, ngay từ đầu ta đã phản kháng, người nhà binh như ta, không có thói quen đứng yên chịu đòn, bị đánh là phải đánh lại, bị ghìm là phải vùng ra, đó là bản năng đã ngấm vào xương tủy sau bao năm lăn lộn ngoài biên quan, sau bao trận gió cát và máu lửa, tay ta tự động giật ra, chân ta tự động đá lên, không cần nghĩ.
Tuy không đánh lại được đám gia đinh đông đúc, hết lớp này tới lớp khác xông vào, vai u thịt bắp, tay to như cột đình, nhưng những ma ma chuyên đánh người kia không phải là đối thủ của ta, các bà ta quen đánh tiểu thư yếu đuối, quen thấy người ta khóc lóc xin tha, ôm đầu van xin, chứ chưa từng gặp người biết võ, biết né, biết đỡ, biết phản đòn. Ta giật mạnh cánh tay ra, khớp vai kêu răng rắc, quay người, chân quét ngang một đường thật mạnh, gió rít lên theo chân, váy áo tung bay, một ma ma béo tốt ngã sấp xuống đất, mặt đập xuống nền đá, răng cửa đập vào đá kêu cộc một tiếng, bật máu đỏ tươi, bà ta ôm miệng kêu oai oái, máu chảy qua kẽ tay, nhỏ tong tong xuống nền, tanh nồng, ai nhìn cũng rùng mình.
Ta thuận tay tóm cổ áo một ma ma khác, dùng sức hất mạnh sang bên, thân hình bà ta bay đi, va vào cột gỗ kêu đánh rầm một tiếng, bụi trên cột rơi xuống lả tả, mạng nhện đứt tung, bà ta trượt xuống chân cột, ôm lưng rên hừ hừ, mặt nhăn như quả táo tàu khô, không đứng dậy nổi, chỉ biết ôm cột mà thở dốc, cả sảnh đường chết lặng một thoáng rồi ồn ào hẳn lên, tiếng người hô hoán, tiếng ghế đổ loảng xoảng, tiếng chén trà rơi vỡ lanh canh, tiếng bước chân chạy tán loạn huỳnh huỵch, khói hương bị quạt tung, bay mù mịt, mùi sáp, mùi trà, mùi máu tanh hòa vào nhau ngai ngái, khó thở. Nhưng sau khi ta đánh ngã hai ma ma, người cầm roi đánh ta lại thành mẹ Chúc, bà đích thân bước xuống, hài thêu dẫm trên nền đá không gây ra tiếng động lớn, chỉ nghe sột soạt nhẹ, váy lụa quét đất mềm mại, bà đưa tay nhận lấy roi mây từ tay ma ma, tay trắng nõn mà cầm roi chắc nịch, chậm rãi cuộn dây roi quanh cổ tay trắng nõn, từng vòng từng vòng, siết chặt, rồi ngẩng nhìn ta, ánh mắt lạnh lẽo mà bình tĩnh, không giận dữ, không run rẩy, chỉ có quyền uy của người mẹ.
Đó là mẹ ruột của Chúc Vân Thanh, là người đã mang nặng đẻ đau sinh ra thân xác này, là người mà Chúc Vân Thanh gọi là mẫu thân bao nhiêu năm, bú mớm, bế bồng, dạy nói dạy đi, ta đứng đó, nắm đấm siết chặt, ngón tay trắng bệch, khớp kêu răng rắc, mồ hôi chảy dọc thái dương, nhưng không thể ra tay được, đánh lão thái thái nhà chồng thì ta đánh được, đánh Tống Địch thì ta cũng dám, đánh gia đinh ma ma thì ta không ngán, nhưng đánh mẹ ruột của thân xác này, ta không xuống tay được, xuống tay rồi thì còn mặt mũi nào nhìn Chúc Vân Thanh nữa, còn mặt mũi nào mượn thân xác của nàng nữa, tay ta giơ lên rồi lại buông xuống, buông xuống rồi lại siết lại, cuối cùng đành đứng yên. Chỉ một thoáng do dự ấy, roi mây đã quất xuống, vút một tiếng xé gió, rồi chát một tiếng giòn giã trên vai ta, đau điếng, da thịt như bị lửa liếm, ta cắn chặt môi đến bật máu mà không kêu lên một tiếng, vì người nhà binh không kêu đau trước mặt địch, nhưng nước mắt sinh lý thì cứ trào ra, hòa với vệt hoa tiêu còn sót lại, cay xè, chảy dài, ướt đẫm má.
Nhưng không ngờ, mẹ ruột của Chúc Vân Thanh lại đánh người tàn nhẫn như vậy, không phải đánh cho chừa, mà là đánh cho nhớ đời, đánh cho phục, đánh cho gãy cái cứng đầu, từng nhát roi kéo dài trên cánh tay, trên vai, trên lưng, mỗi nhát một đường lằn đỏ, nóng ran, rồi lạnh dần, rồi đau nhói thấu tim, tiếng roi vút vút đều đặn, không nhanh không chậm, không mạnh quá cũng không nhẹ quá, như đã đánh quen tay, như đã tính sẵn mỗi nhát rơi vào đâu, cổ tay bà lật nhẹ, roi đi vun vút, chuẩn xác đến lạnh người. Đánh xong, bà không hề thở gấp, chỉ khẽ phủi tay áo, vuốt lại tóc mai, đưa roi lại cho ma ma, giọng bình thản như vừa làm xong một việc nhà tầm thường, gọi mấy tên gia đinh đến, bảo đưa ta vào từ đường, bắt ta quỳ trước bài vị của tổ tiên, đợi khi nào nghĩ thông suốt, biết nhận lỗi, biết viết thư nhận sai với nhà chồng thì mới được về phủ tướng quân, còn cơm thì khỏi ăn, nhịn đói cho tỉnh táo, nhịn khát cho nhớ lâu.
Mấy tên gia đinh xốc nách ta lôi đi, tay xách nách mang như xách bao gạo, chân ta kéo lê trên nền đá sột soạt, đầu gối đau nhức, cánh tay đau rát, áo xô lệch, tóc rối bời, qua hành lang dài hun hút, gió lùa lạnh buốt, đèn lồng đung đưa kẽo kẹt, tới gian từ đường ở góc sâu nhất của phủ, nơi ít người qua lại, cây cối um tùm, lá rụng xào xạc, cửa gỗ nặng nề, bản lề rỉ sét, mở ra kêu ken két chói tai, bụi bay mù mịt, rồi cả gian phòng chìm vào bóng tối mờ mờ, chỉ có ánh nến le lói. Ở đây chỉ có một bàn thờ thấp kê sát tường, mặt bàn phủ vải đã cũ, sờn mép, mấy ngọn nến cạn cháy leo lét, bấc nến nổ tí tách, sáp chảy tong tong xuống chân nến, khói hương bảng lảng bay lên, ánh lửa chập chờn chiếu lên những bài vị gỗ sẫm màu xếp ngay ngắn, tên tổ tiên khắc chìm, nét chữ nghiêm trang, mùi tro tàn thoang thoảng, mùi hương trầm hăng hắc, mùi ẩm mốc của nhà cũ, không khí lạnh lẽo, hơi lạnh từ nền đá bốc lên thấm qua đầu gối, thấm vào xương.
Ta quỳ xuống trước bài vị, lưng thẳng, đầu cúi, hai tay đặt trên đầu gối, ra vẻ nhận lỗi, nhưng trong lòng thì ấm ức muốn nổ tung, muốn hét lên, muốn đập bàn như cha Chúc, muốn hỏi tổ tiên Chúc gia xem dạy con thế này có đúng không, quỳ được nửa canh giờ thì đầu gối tê dại như có ngàn con kiến bò, rần rần, thắt lưng đau nhức như sắp gãy, cổ mỏi nhừ, mồ hôi lạnh túa ra sau lưng, ướt đẫm áo trong, dính dấp khó chịu, bụng bắt đầu kêu ọc ọc vì đói, miệng khô khốc vì khát, vết roi thì rát bỏng, chạm áo vào là đau nhói. Ta thử ngồi xuống, nhìn bốn bề im ắng, không một bóng người, chỉ có tiếng nến cháy xì xèo và tiếng gió rít qua khe cửa u u, tiếng lá khô lăn trên sân sột soạt, thì cũng chẳng cần phải giả bộ nữa, quỳ cho ai xem chứ, tổ tiên Chúc gia có hiện về cũng chẳng bênh ta đâu, chi bằng ngồi cho đỡ khổ, chi bằng dựa cột cho đỡ mỏi, ta bèn ngồi bệt xuống, duỗi chân ra, xoa đầu gối, thổi phù phù vào vết thương.
Khi Chúc Vân Thanh liên lạc với ta lần nữa, ta đang ngồi bệt dưới đất, lưng dựa vào cột gỗ lạnh ngắt, một chân duỗi thẳng, một chân co lên, tay thì xoa xoa vết thương trên cánh tay, vết lằn đỏ sưng lên, chạm vào là đau nhói, rát như phải bỏng, ta vừa xoa vừa thổi phù phù, mong đỡ rát, vừa đói vừa tủi, mắt nhìn lên mái nhà tối om, nghe bụng mình kêu mà thấy mình thê thảm chưa từng có. Miếng ngọc bội trong ngực áo bỗng nóng lên, nóng ran như hòn than nhỏ, ánh sáng tím mờ ảo tỏa ra, chiếu lên gương mặt ta, hắt lên vách tường những vệt sáng lay động như mặt nước, hơi ấm lan ra ngực, giọng của Chúc Vân Thanh vang lên trong đầu, nhẹ nhàng, lo lắng, run run, hỏi ta đang ở đâu, có ổn không, có ăn cơm chưa, có bị ai mắng không, sao lâu thế chưa về phủ tướng quân.
Ta thở dài một hơi, kể hết, từ đường Chúc gia, bị đánh, không được ăn cơm, quỳ trước bài vị của tổ tiên, đây là lần đầu tiên ta bị trưởng bối đánh, từ nhỏ tới lớn, cha ta chưa từng đánh ta một roi nào, huynh ta chưa từng mắng ta một câu nặng nào, vậy mà hôm nay lại bị cha mẹ của người khác đánh cho một trận nhớ đời, roi mây quất xuống vai, xuống tay, đau đến thấu xương, mà đau nhất là trong lòng, vì bị chính nhà mẹ ruột quay lưng. Ta đưa miếng ngọc bội lên gần môi, ánh sáng tím hắt lên cằm, lên má, lên mắt còn đỏ, giọng ta trầm xuống, nghèn nghẹn, khàn khàn, xin lỗi ngươi, ta đã chống lại cha mẹ ngươi, ta biết đó là cha mẹ ruột của ngươi, ta không nên đánh lại người của họ, nhưng ta thật sự nhịn không nổi, họ bắt ta nạp thiếp cho Tống Địch, bắt ta xin lỗi mẹ chồng, bắt ta uống thuốc cầu thai, ta làm không được, ta thà bị đánh chứ không chịu cúi đầu nhận sai bừa.
Chúc Vân Thanh không biết đang nghĩ gì, một lúc lâu sau mới trả lời ta, giọng nàng cũng trầm, cũng nghẹn, bọn họ đánh ngươi, ngươi không phản kháng sao, có đau lắm không, có chảy máu không, ngươi đừng cố chịu, đau thì cứ kêu lên, đừng gồng mình như vậy, nghe mà ta thấy sống mũi cay cay, vì lâu lắm rồi mới có người hỏi ta có đau không, ở biên quan ai cũng bảo ta mạnh mẽ, không ai hỏi ta có đau không. Ta cười khổ một tiếng, kể cho nàng nghe từng nhát một, kể cả lúc ta quật ngã hai ma ma, một cước quét ngang, gió rít, một tay hất văng, người bay đập cột, kể cả lúc mẹ Chúc cầm roi, cuộn roi quanh cổ tay, ánh mắt lạnh lẽo, bước đi khoan thai, kể cả lúc ta đứng đó mà không thể ra tay, nắm đấm siết chặt mà phải buông xuống, tay run lên vì tức và vì thương nàng.
Ta nói, sau khi ta đánh ngã hai ma ma, người đánh ta lại thành mẹ Chúc, bà đích thân nhận lấy roi mây, tay không run, mắt không chớp, ta không thể đánh bà được, đó là mẹ ruột của ngươi, ta mà đánh bà thì ta còn là con người nữa không, nhưng không ngờ, mẹ ruột của ngươi lại đánh người tàn nhẫn như vậy, roi nào roi nấy đều hằn sâu, đều tính sẵn, đánh mà không mệt, phạt mà không thương, ta ở biên quan chịu đòn nhiều rồi mà chưa thấy ai đánh chuẩn và lạnh như vậy. Bên kia im lặng, lâu thật lâu, lâu đến mức ta tưởng ngọc bội đã tắt, ánh sáng tím mờ dần, chỉ còn tiếng thở khẽ khàng của nàng truyền qua, nghe như tiếng lá rơi trong đêm, nghe như tiếng ai khóc thầm, ta không dám hỏi thêm, chỉ ngồi ôm gối chờ nàng lên tiếng, sợ nàng giận ta đánh người nhà nàng, sợ nàng khóc vì cha mẹ nàng đánh ta.
Ta xoa xoa vết thương trên cánh tay, giọng lầm bầm, vừa tủi vừa tức, vừa thương nàng, cha mẹ ngươi thật hung dữ, cha mẹ ta giết người trên chiến trường, dao thương không có mắt, ra tay cũng không tàn nhẫn như vậy, ít nhất họ còn hỏi rõ trắng đen trước khi chém, ít nhất họ còn cho người ta ăn no trước khi phạt, chứ không ai để con gái đói lả quỳ trong từ đường lạnh như vậy. Chúc Vân Thanh lại không nói gì, một lúc sau, nàng nói, giọng nhẹ như một tiếng thở dài, từng chữ chậm rãi, như sợ gió thổi bay, cha mẹ của ngươi là người rất tốt, thật đấy, ta nghe ngươi kể đã lâu, ta luôn nghĩ như vậy, họ thương ngươi thật lòng, thương bằng hành động, không phải bằng lời, ngươi có phúc mà không biết.
Chữ cuối cùng hơi khựng lại, như thể nàng đang nuốt xuống một thứ gì đó chua xót ở cổ họng, nghẹn nghẹn, đắng đắng, ta nghe mà lòng se lại, bỗng nhiên không biết nói gì, ngồi im, tay ngừng xoa vết thương, mắt nhìn lên những bài vị gỗ sẫm màu trước mặt, ánh nến chập chờn hắt lên mặt ta, nóng một bên, lạnh một bên, trong lòng bỗng chột dạ đến khó chịu. Trong lòng ta bỗng chột dạ, nhớ tới chuyện mình từng định bỏ trốn khỏi quân doanh, bỏ lại cha mẹ huynh đệ, bỏ lại trách nhiệm, bỏ lại binh sĩ tin yêu mình, chỉ vì không muốn gả đi, không muốn rời biên quan, không muốn làm dâu Kinh Thành, nếu cha mẹ ta biết, họ sẽ buồn đến mức nào, họ tốt với ta như vậy mà ta lại định làm chuyện bất hiếu, định để họ mất mặt trước triều đình, nghĩ tới đây ta thấy vành mắt nóng lên, thấy mình có lỗi với cha, với huynh, với cả Chúc Vân Thanh đang gánh tội thay ta ngoài biên quan.
Chúc Vân Thanh lại lên tiếng, giọng đã điềm tĩnh hơn, mang theo sự dịu dàng của tiểu thư khuê các, đừng quỳ nữa, từ đường ít người đến, ngươi ngồi cũng không sao, không ai nhìn thấy đâu, không ai rình đâu, đợi đến chập tối, nhận lỗi qua loa một câu là về được, nói con biết sai rồi, lần sau không dám nữa, đừng cứng đầu chống đối, càng chống càng bị đánh thêm, càng cãi càng bị nhốt lâu, nghe lời ta một lần đi. Ta tưởng ngươi là mỹ nhân ngốc nghếch, ngoan ngoãn chịu phạt chứ, ta cười trêu nàng, cố làm giọng nhẹ nhõm để nàng yên tâm, để nàng ở quân doanh đỡ lo, ta ngồi phịch xuống đất, hai chân duỗi thẳng ra, tay chống ra sau, lòng bàn tay chạm nền đá lạnh ngắt, buốt đến tận khuỷu, ta đã không quỳ từ lâu rồi, quỳ nữa thì đầu gối của ngươi hỏng mất, sau này ngươi về lại thân xác này lại trách ta làm chân nàng thô, đi không đẹp.
Mọi chuyện đều có cách giải quyết, ngươi đừng lo, ta an ủi nàng, rồi lại hỏi nàng ở quân doanh có ổn không, ăn có no không, ngủ có ấm không, có ai bắt nạt không, áo ấm có đủ không, chân có lạnh không, đêm có giật mình không, nàng vốn yếu đuối, ra biên quan gió lớn như vậy, ta lo nàng ốm, lo nàng khóc mà không ai dỗ. Chúc Vân Thanh cười khẽ một tiếng qua ngọc bội, tiếng cười trong như chuông gió, leng keng, rồi nhanh chóng nghiêm giọng lại, giọng nhỏ dần, ta đến tìm ngươi, là có chuyện muốn nói với ngươi, chuyện này làm ta nghĩ mãi không thông, đêm qua nghĩ cả đêm không ngủ được, chỉ có ngươi mới hiểu được, mới giải được.
Nàng hỏi ta có nhớ Tam hoàng tử đến từ Kinh Thành không, người mà triều đình phái tới quân doanh rèn luyện ấy, người cao gầy, ít nói, hay cười hiền ấy, ta còn nhớ không, hay ra biên quan lâu quá quên mất mặt người Kinh Thành rồi. Nàng nói, tối qua Tam hoàng tử đã đốt pháo hoa cho nàng cả đêm, pháo hoa nổ rợp trời biên quan, tiếng nổ đì đùng vang vọng khắp doanh trại, ánh sáng rực rỡ soi sáng cả một góc trời, đỏ, vàng, xanh, tím đua nhau bung nở, binh sĩ reo hò ầm ĩ, ai cũng chạy ra xem, trẻ con vỗ tay đôm đốp, chỉ có nàng đứng sững dưới bầu trời ấy, gió thổi tung áo, ánh sáng hắt lên mặt mà nóng cả má, không hiểu vì sao có người đối tốt với mình như vậy. Ta nhớ chứ, ta đáp, giọng chắc nịch, vang vang, chính là người tính tình dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ, tướng mạo cũng không tệ, mày mắt thanh tú, sống mũi cao thẳng, dáng người cao ráo, đứng giữa đám lính biên quan thô kệch, mặt sạm, râu rậm thì nổi bật như hạc giữa đàn gà, ai nhìn cũng phải ngoái lại.
Bên kia im bặt, một lúc lâu, Chúc Vân Thanh mới hỏi, giọng có phần dè dặt, như sợ ta giận, như sợ nói sai, rằng ta có nhận ra hắn có ý đồ xấu không, hắn đối tốt với ta như vậy, đốt pháo hoa cả đêm, tốn bao nhiêu bạc, có phải là có mưu đồ gì không, nàng ở Kinh Thành nghe nhiều chuyện tranh đấu, hoàng tử nào cũng có tính toán, không dám tin có người tốt vô cớ, không dám nhận ân tình vô cớ. Hắn có ý đồ xấu hay không ta không biết, ta nghiêm túc trả lời, từng chữ rành mạch, giọng vang vang trong từ đường vắng, vọng lại own oang, nhưng hắn đẹp trai lại chịu dỗ ta vui vẻ, biên cương toàn là kẻ thô lỗ, chỉ biết mắng ta như một đứa con trai, xô ta như xô bao cát, bắt ta gác đêm, bắt ta chạy bộ, một người xa lạ lại chịu bán rẻ sắc đẹp để dỗ dành ta, cười với ta, đốt pháo hoa cho ta, đây không phải là ý đồ xấu, đây là triều đình ban ân, là trời thương ta, phải nhận, nhận cho thật vui vẻ, nhận cho thật tươi cười.
Bên kia Chúc Vân Thanh không nói gì, ta có thể hình dung ra cảnh nàng đứng ở trong quân doanh, tay cầm miếng ngọc bội, môi mím lại, mày nhíu lại, má đỏ lên vì ngượng, không biết nên khóc hay nên cười, chắc chắn đang nghĩ ta là đồ hám sắc, thấy đẹp là mờ mắt, thấy pháo hoa là quên hết, đúng là nữ tướng không có tiền đồ. Thực ra ta biết, Chúc Vân Thanh sợ ta bị Tam hoàng tử lừa, sợ ta nhẹ dạ, sợ ta ở Kinh Thành không ai che chở mà lại vướng vào hoàng tử, rước họa vào thân, nàng lo cho ta thật lòng, cho nên mới hỏi kỹ như vậy, mới nhắc ta cẩn thận, ta hiểu lòng nàng, cho nên ta không giận, chỉ thấy ấm áp, vì còn có người lo ta bị lừa.
Tam hoàng tử tên đầy đủ là Triệu Đình Văn, đứng hàng thứ ba nhưng lại hoàn toàn không có cảm giác tồn tại như hai huynh trưởng của mình, hai vị kia mẹ là quý phi, là thế gia vọng tộc, sinh ra đã ngậm thìa vàng, đi đâu cũng có người vây quanh, kẻ hầu người hạ đông như kiến, còn hắn thì lặng lẽ như bóng mờ trong cung, đi qua hành lang mà không ai chào, vào yến tiệc mà không ai nhớ. Nghe nói hắn là con của một cung nữ nhỏ nhoi, thân phận thấp hèn, từ nhỏ đã lớn lên ở lãnh cung, nơi lạnh lẽo, vắng vẻ, tường cao cỏ mọc um tùm, rêu xanh trơn trượt, mùa đông không có ai đốt lò, tay chân nứt nẻ vì lạnh, môi tím tái, mùa hè không có ai quạt, mồ hôi ướt đẫm áo mà vẫn phải học bài, chữ viết run rẩy vì đói, đến khi lớn hơn một chút, học hành tiến bộ, chữ viết ngay ngắn, đối đáp trôi chảy, mới được hoàng đế nhớ đến, cho gọi ra ngoài điện, khảo bài một lần, rồi ban cho một chức quan nhỏ, coi như cho có lệ.
Nhưng so với hai hoàng tử trước, hắn thậm chí còn không có gia đình ngoại thích, mẹ hắn không có thế lực, không có họ hàng, không có tiền bạc, sau lưng trống rỗng, chỉ có một mình trơ trọi, một thân một bóng, vì vậy, khi các hoàng tử khác đều làm việc ở bộ Hộ, bộ Lại, ngồi trong thư phòng ấm áp, giấy bút thơm tho, trà ngon kề bên, thì hắn lại được phái đến quân doanh của cha ta, một vùng đất gió tanh mưa máu ở tận biên cương, cát bay đá chạy, đêm lạnh cắt da, ngày nắng cháy thịt, ăn lương khô cứng như đá, uống nước lã lạnh buốt răng. Khi Triệu Đình Văn mới đến, không quen biết ai, đứng ở giữa sân doanh lúng túng, y phục còn thơm mùi Kinh Thành, vải vóc mềm mại không hợp với gió cát, giày sạch mà đường thì bụi, hai tay không biết đặt đâu, mắt nhìn quanh đầy bỡ ngỡ, mặt đỏ lên vì ngượng, cha ta đã bảo ta dẫn hắn tham quan, bảo Đồng Đồng, con dẫn Tam hoàng tử đi một vòng, dạy hắn quy củ biên quan, đừng để hắn bị gió thổi bay mất.
Ta dẫn hắn làm quen với cuộc sống trong quân doanh, chỉ cho hắn xem chuồng ngựa hôi mùi cỏ khô và phân ngựa, ngựa hí vang trời, đuôi quất phành phạch, kho lương đầy bao tải xếp cao như núi, chuột chạy sột soạt, tháp canh cao vút đón gió phần phật, cờ bay tung tóe, và chỗ ta thường ngồi đếm sao vào ban đêm, tảng đá lớn bằng phẳng, ngồi lên mát lạnh, ngẩng lên là cả bầu trời sao chi chít, sao nhấp nháy như mắt ai, gió thổi vi vu mát rượi. Cũng dẫn hắn đi chơi, nhưng biên cương vốn nghèo nàn, ngay cả thứ để chơi cũng rất ít, không có hoa đèn rực rỡ, không có thuyền hồ dập dềnh, không có quán rượu sang trọng thơm mùi rượu ngon, có chăng cũng chỉ là mấy con ngựa nhỏ lông xù, chạy lóc cóc, mấy bãi cát vàng óng, gió xoáy thành cột, và tiếng gió gào thổi suốt ngày đêm u u như tiếng ai khóc, nghe riết thành quen, không nghe lại thấy thiếu.
Ta chỉ bâng quơ nói một câu, lúc ấy ngồi bên đống lửa, cắn miếng lương khô cứng ngắc, răng nhai kêu răng rắc, lửa trại cháy lách tách, tàn lửa bay lên như đom đóm, các huynh đệ ngồi uống rượu, hát hò, đập tay vào nhau nhịp phách bốp bốp, giọng khàn khàn mà vang xa, ta nói rằng đêm giao thừa chúng ta đều quây quần như vậy, phần lớn tiền đều dùng để mua quân nhu, áo ấm, lương khô, thuốc men, đã bốn năm nay không đốt pháo hoa, quên mất pháo hoa trông thế nào rồi, quên mất tiếng nổ đì đùng nghe vui tai ra sao, chỉ nhớ mùi khói súng nồng nặc. Lúc nói câu ấy, ta chẳng hề để ý, chỉ là thuận miệng than thở, mắt nhìn lửa, tay bẻ lương khô, vậy mà, hôm đó Triệu Đình Văn đã quay sang, nhìn thẳng vào mắt ta, ánh lửa bập bùng hắt lên gò má hắn, đôi mắt hắn sáng rực, không có một chút đùa cợt nào, giọng trầm, trịnh trọng nói một câu, Đồng Đồng, ngươi chờ đó, ta chắc chắn sẽ đốt pháo hoa cho ngươi, đốt một trận thật lớn, cho ngươi xem đã mắt, cho cả doanh trại xem cùng, để giao thừa năm nay không vắng vẻ.
Ngọn lửa bập bùng trước mặt, tiếng củi cháy tí tách, tiếng gió rít ngoài lều, tiếng ngựa hí xa xa, mà câu nói ấy ấm áp như một bếp lửa nhỏ, sưởi cả lòng ta, ta cười ha ha, vỗ vai hắn bốp một cái, suýt làm hắn ngã dúi, bảo được, ta chờ, ngươi mà nuốt lời thì ta bắt ngươi mời ta ăn thịt nướng ba ngày, thịt nướng cháy xém thơm phức, mỡ chảy xèo xèo, ngươi mà quên là ta giận thật đấy. Ngoài hành lang từ đường, gió lạnh lùa qua khe cửa, thổi tắt một ngọn nến, bấc nến cháy dở bốc khói xanh, khét lẹt, trong từ đường, khói hương bay ngược lên, quẩn quanh dưới mái nhà, mùi trầm càng thêm nồng, càng thêm lạnh, ta đưa tay lên, sờ sờ miếng ngọc bội đã nguội dần, lòng ngổn ngang trăm mối, vừa tủi vừa ấm, vừa giận vừa thương.
Bây giờ thì hắn đã đốt pháo hoa rồi, đốt cả đêm rực rỡ, tiếng nổ đì đùng vang xa mấy dặm, ánh sáng nhuộm đỏ cả bầu trời đêm biên quan, đuôi lửa xòe ra như hoa cúc, rồi tắt dần thành ngàn đốm nhỏ rơi lả tả, nhưng người hắn đốt pháo hoa cho, lại không phải là ta nữa, mà là Chúc Vân Thanh trong thân xác của ta, đứng dưới bầu trời ấy mà ngơ ngác không hiểu vì sao, tay cầm ngọc bội mà run, mắt nhìn pháo hoa mà ướt. Ở bên kia, trong quân doanh, Chúc Vân Thanh đang ở trong thân xác của ta, đứng dưới bầu trời đầy pháo hoa ấy, gió đêm thổi tung vạt áo, tóc bay lòa xòa, ánh sáng đủ màu hắt lên mặt, lúc đỏ lúc xanh, và không hiểu tại sao có người lại đối xử tốt với mình như thế, tốt đến mức làm người ta hoảng sợ, tốt đến mức không dám nhận, sợ nhận rồi phải trả bằng cả đời.
Còn ta, ta ngồi trong từ đường Chúc gia, lưng tựa cột gỗ lạnh ngắt, trên cánh tay còn những vết roi sưng đỏ, rát bỏng, bụng đói meo kêu ọc ọc, miệng khô đắng, chưa được về phủ tướng quân, chưa biết ngày mai sẽ bị ép nạp thiếp hay không, chưa biết bao giờ mới đổi lại được thân xác, chưa biết Chúc Vân Thanh ngoài kia có bị Tam hoàng tử làm khó không, có bị lộ thân phận không. Ta nhắm mắt lại, dựa đầu vào cột, nghe tiếng mõ cầm canh từ xa vọng tới, từng tiếng thong thả, cộc, cộc, bên tai như còn vọng lại tiếng pháo hoa nổ đom đóm, hòa cùng tiếng lửa trại lách tách, tiếng các huynh đệ ngồi hát những khúc ca xa lạ của biên quan, giọng khàn khàn mà hào sảng, tiếng vỗ tay bốp bốp, tiếng cười ha ha vang vọng.
Đồng Đồng, ngươi chờ đó, giọng nói năm ấy lại vang lên trong đầu, rõ mồn một như mới hôm qua, ấm áp như than hồng trong đêm tuyết. Ta vẫn chờ đây, ta lẩm bẩm trong miệng, giọng khàn đặc, chỉ có điều, người chờ đến pháo hoa ấy, bây giờ đang ngồi giữa một gian từ đường lạnh ngắt, lưng tựa cột gỗ, bụng đói meo, mắt sưng đỏ, tay đầy vết roi, chờ mãi mà pháo hoa lại nổ ở nơi khác, rực rỡ cho người khác xem, sáng rực cho người khác ấm, còn ta ở đây chỉ có nến tàn và khói hương. Gió đêm càng lúc càng lạnh, ta co người lại, ôm lấy đầu gối, tự ủ ấm cho mình, cằm tựa lên gối, nhìn ánh nến leo lét sắp tàn, bấc nến gục xuống, ánh lửa chập chờn như sắp tắt, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi tủi thân khó tả, cay cay nơi sống mũi, nghẹn nghẹn nơi cổ họng, không biết là tủi cho mình hay tủi cho Chúc Vân Thanh, có cha mẹ mà chẳng được bênh, có nhà mà chẳng được về, có pháo hoa mà chẳng được xem, có người thương mà chẳng được gặp.
Sáng hôm ấy, ta dậy rất sớm, trời còn mờ mờ như tấm khăn voan xám phủ lên mái phủ tướng quân, gió đầu ngày se se lùa qua khe cửa sổ, mang theo mùi sương lạnh và mùi khói bếp từ dãy nhà sau bay tới, bếp lửa kêu lách tách, nồi niêu chạm nhau leng keng, lính gác đổi ca bước huỳnh huỵch ngoài sân, áo giáp va vào nhau lách cách, tiếng chổi quét sân sột soạt, tiếng gà gáy le té từ xa vọng lại, cả phủ còn ngái ngủ mà ta đã tỉnh như sáo.
Ta ngồi trước gương đồng, nhìn gương mặt trong gương mà thở dài một hơi thật dài, gương mặt này thanh tú, mày liễu cong cong, môi đỏ nhỏ xinh, da trắng mịn như cánh hoa mới nở, tóc đen mượt chải gọn ra sau, trâm ngọc cài lệch một bên, đúng là dáng vẻ của Chúc Vân Thanh, tiểu thư khuê các, yếu đuối, mong manh, chỉ cần gió to một chút là có thể ngã, chỉ cần nói nặng một câu là có thể khóc. Nhưng bên trong gương mặt ấy lại là ta, Hứa Kiều Đồng, nữ tướng biên quan, quanh năm cưỡi ngựa, múa thương, ăn gió nằm sương, tay chai sần vì cán thương, vai rộng vì kéo cung, tính tình thẳng như cán thương, có gì nói nấy, không quen cúi đầu, không quen quỳ gối, càng không quen khóc lóc van xin.
Mấy hôm nay ở phủ tướng quân, ta nhịn đã đủ rồi, mẹ chồng thì mặt nặng mày nhẹ, sớm nắng chiều mưa, nói một câu mà quẹo tới ba lần, cười mà mắt không cười, khen mà như mắng, Tống Địch thì đưa nữ tử lạ về phủ, ăn nói ngọt xớt mà lòng dạ khó lường, đi sớm về khuya, áo còn vương mùi phấn lạ, cả phủ cứ rì rầm như ong vỡ tổ, nha hoàn đi qua đi lại thì thào, tiếng guốc mộc lẹp xẹp trên hành lang, tiếng chén trà chạm nhau lanh canh trong phòng khách, tiếng rèm châu va vào nhau leng keng, nghe mà ngứa cả tai, tức cả ngực. Cho nên sáng nay, ta xắn tay áo lên thật cao, buộc gọn ống tay bằng dây vải, giắt khăn tay vào thắt lưng, tóc búi gọn, trâm cài chắc, tính bụng hôm nay phải đấu một trận ra trò với mẹ chồng, bà ta thích đấu mồm mép thì ta đấu mồm mép, bà ta thích giở trò thì ta giở trò, người nhà binh như ta, đánh nhau không sợ, đấu trí cũng không ngán, đã nhịn nhiều ngày thì hôm nay không nhịn nữa.
Ta ngồi tính kế trong đầu, tính kỹ từng đường đi nước bước như bày binh bố trận ngoài biên quan, bước thứ nhất là mượn cớ rót trà, tay run một cái, nước nóng hổi hắt lên mu bàn tay bà ta, cho bà ta biết thế nào là bỏng rát mà vẫn phải cười, vẫn phải nói không sao, bước thứ hai là mượn cớ dọn dẹp, khệ nệ bê chậu cây, hụt chân một cái, cả chậu đất đổ ụp xuống chân bà ta, cho bà ta dậm chân mà không mắng được, cho váy áo dính đất mà vẫn phải giữ dáng quý phu nhân, bước thứ ba là nói cạnh nói khóe, nhắc chuyện Tống Địch rước người ngoài về, để hắn biết thê tử của hắn không phải quả hồng mềm muốn nắn thế nào thì nắn, để mẹ chồng hắn biết con dâu này không dễ bắt nạt. Ta đang mài dao soàn soạt trong bụng, đang nghĩ xem nên ra tay trước hay nói trước, nên cười trước hay khóc trước, thì ngoài cổng bỗng vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc, tiếng bánh xe nghiến trên đá đường rào rào, rồi tiếng người giữ cửa hô to, giọng mừng rỡ vang khắp sân, có thư của phủ tể tướng gửi tới, có thư của phủ tể tướng gửi cho tam thiếu phu nhân.
Nha hoàn chạy vào, hai bím tóc tung tẩy, trán lấm tấm mồ hôi, má đỏ hây hây, tay cầm phong thư màu kem, viền hoa văn chìm, mùi mực thơm thoang thoảng, nàng ta vừa thở hổn hển vừa nói, giọng líu ríu như chim sẻ, tam thiếu phu nhân ơi, phủ tể tướng cho người đưa thư tới, nói phu nhân nhớ tam tiểu thư, mời tiểu thư về nhà một chuyến, xe ngựa đã chờ ngoài cổng, lão gia phu nhân đều mong tiểu thư lắm. Ta nghe xong, hai mắt sáng rỡ như hai đốm lửa được châm thêm dầu, trong lòng reo lên một tiếng, hay quá, đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, đang không biết lấy cớ gì để ra khỏi phủ tướng quân ngột ngạt này thì nhà mẹ ruột đã dâng cớ tới tận miệng, đang muốn mách lẻo mà có sẵn chỗ cho mách, còn gì tốt bằng.
Theo ta thấy, chuyện nhà chồng ăn hiếp con gái nhà mình thì nhà mẹ ruột phải cứng, Chúc Vân Thanh muốn sống yên ổn ở phủ tướng quân thì một mình nàng cứng rắn thôi chưa đủ, nhà mẹ ruột cũng phải có bản lĩnh, phải có người chống lưng, huynh trưởng phải vác gậy tới đánh cho Tống Địch một trận nhớ đời, cha mẹ phải tới hỏi tội mẹ chồng, như thế mới ra dáng nhà vợ, như thế nhà chồng mới sợ, mới không dám khinh. Chắc chắn là Chúc Vân Thanh quá mạnh mẽ, quá hiểu chuyện, chuyện gì cũng giữ trong lòng, bị ấm ức cũng không hé răng với cha mẹ huynh đệ, sợ cha mẹ lo, sợ làm to chuyện, sợ mang tiếng ghen tuông, cho nên Tống Địch mới được nước lấn tới, rước nữ tử khác về mà không ai hỏi, mẹ chồng mới dám lên mặt dạy dỗ. Ta thì khác, ta thích mách lẻo, mách lẻo quang minh chính đại, mách lẻo đường đường chính chính, bị đánh một cái là về mách cha, bị mắng một câu là về mách huynh, ở biên quan, ai bắt nạt ta là ta kéo cả đội tới đòi lại công bằng, chưa bao giờ chịu thiệt một mình, chưa bao giờ khóc một mình trong chăn.
Cho nên ta nghĩ bụng, chuyến này về phủ tể tướng, ta phải mách cho ra trò, phải kể cho thật thê thảm, phải làm cho cha Chúc nổi giận, mẹ Chúc xót con, huynh trưởng xắn tay áo, kéo nhau tới phủ tướng quân đánh Tống Địch một trận tơi bời, đánh cho hắn chừa cái thói trăng hoa, đánh cho mẹ chồng hắn hết dám bắt nạt con dâu, đánh cho cả phủ tướng quân biết Chúc gia không phải không có người. Nghĩ tới cảnh Tống Địch bị đánh ôm đầu chạy quanh sân, tiếng gậy vụt vút trong gió, tiếng hắn kêu oai oái, áo xô lệch, tóc tai rối bời, là ta đã thấy khoái trong lòng, khóe miệng cong lên, suýt nữa thì bật cười thành tiếng, phải vội đưa tay che miệng, ho khan một tiếng để lấp liếm, nha hoàn nhìn ta lạ lẫm mà ta mặc kệ. Ta lập tức sai nha hoàn chuẩn bị xe ngựa, chuẩn bị lễ vật mang về nhà mẹ, lễ vật thì phải đủ đầy, hộp bánh ngọt thơm phức mùi đậu xanh, xấp vải lụa mềm mại màu son và màu ngọc, hũ thuốc bổ đậy nắp kín, dây buộc đỏ thắt nơ xinh xắn, nhìn vào là biết con gái hiếu thảo mang quà về thăm nhà, không ai bắt bẻ được, không ai nói được một câu thất lễ.
Xe ngựa lăn bánh khỏi phủ tướng quân, bánh xe gỗ nghiến trên đường đá kêu lộc cộc đều đều, rèm xe bằng vải dày đung đưa theo nhịp, gió lùa qua khe rèm mang theo mùi phố xá buổi sớm, mùi bánh bao nóng hổi từ quán bên đường, mùi dầu chiên xèo xèo, mùi đường thắng thơm ngọt, tiếng người bán hàng rao lanh lảnh, tiếng trẻ con cười khanh khách đuổi nhau, tiếng móng ngựa gõ nhịp thình thịch trên mặt đường, tiếng bánh xe khác lăn qua rào rào, tiếng chuông gió trước hiên nhà ai kêu leng keng. Ta ngồi trong xe mà lòng háo hức như sắp ra trận, tay sờ sờ hộp lễ vật, mắt nhìn qua khe rèm ngắm phố phường Kinh Thành, nhà cao cửa rộng san sát, cờ hiệu bay phần phật, người qua lại tấp nập, áo quần sặc sỡ, khác hẳn biên quan cát vàng gió lớn, ở đây cái gì cũng mềm, cũng thơm, cũng đẹp, mà lòng người thì cứng và lạnh hơn nhiều.
Đi được một đoạn, xe qua cầu đá, nước sông chảy róc rách bên dưới, gió mát lùa vào, ta bỗng thấy hồi hộp, tim đập thình thịch như trống trận, vì lần đầu về nhà mẹ trong thân xác người khác, không biết cha mẹ Chúc Vân Thanh mặt mũi ra sao, tính tình ra sao, có nhận ra con gái mình khác lạ không, ta bèn dặn mình phải cẩn thận, phải diễn cho giống, phải khóc cho thật, phải mách cho khéo, không thể để lộ mình là Hứa Kiều Đồng. Ta nhớ lại lời Chúc Vân Thanh dặn, cha nàng nghiêm, mẹ nàng kỹ tính, huynh trưởng ít nói, ta phải giữ lễ, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, ta nghe mà ngứa cả người, vì cả đời ta chưa từng đi nhẹ nói khẽ, nhưng vì đại kế mách lẻo, ta nhịn, ta học, ta diễn.
Nhưng ta không vội xuống xe khi tới trước cửa phủ tể tướng, xe dừng lại, ngựa hí lên một tiếng dài, phu xe ghìm cương kêu kẽo kẹt, người giữ cửa đã chạy ra đón, mà ta ngồi lì trong buồng xe, tim đập thình thịch, tay hơi run vì hồi hộp và vì háo hức, vì kế mách lẻo sắp thành, ta mở hộp trang sức nhỏ mang theo, bên trong có trâm, có vòng, có phấn, và có một nhánh hoa tiêu khô mà ta đã dặn nha hoàn tìm từ sớm, gói trong khăn tay thơm. Nhánh hoa tiêu nhỏ xíu, màu nâu sẫm, vỏ sần sùi, mùi cay nồng xộc lên mũi chỉ cần ngửi thoáng qua, người biên quan dùng nó nấu ăn cho ấm bụng, ai ngờ hôm nay ta lại dùng nó để khóc, ta đưa nhánh hoa tiêu lại gần mắt, hơ nhẹ, hơi cay bốc lên, xộc thẳng vào mắt, mắt ta lập tức cay xè, nước mắt trào ra không kìm được, chảy dài trên má, nóng hổi, ta chớp chớp mắt, dụi nhẹ, mắt đỏ lên nhanh chóng, sưng mọng như vừa khóc một trận lớn, gân máu đỏ li ti hiện rõ, nhìn vào gương mà chính ta còn thấy thương.
Chưa đủ, ta lại rót một chung trà đặc từ ấm nhỏ trong xe, nước trà màu vàng sẫm, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà chát thoang thoảng, ta chấm ngón tay vào nước trà, vẩy vài giọt lên mặt, để nước trà chảy dọc theo gò má, đọng ở cằm rồi nhỏ tong tong xuống cổ áo, ướt một vệt sẫm màu, nhìn vào là thấy dấu vết nước mắt chưa khô, khóc nhiều đến ướt cả áo, ta còn cố ý để tóc mai hơi rối, rút nhẹ một sợi tóc xuống má, trâm cài hơi lệch sang một bên, vạt áo hơi xô, đúng dáng người vội vã về nhà mà không kịp chỉnh trang. Làm xong, ta soi vào tấm gương đồng nhỏ, ngắm nghía kỹ lưỡng, một đôi mắt sưng đỏ, một khuôn mặt đầy nước mắt, tóc mai hơi rối, trâm cài hơi lệch, vạt áo hơi xô, đúng là dáng vẻ của một tiểu thư bị ấm ức đến mức không chịu nổi, phải chạy về nhà mẹ mà khóc, phải để cha mẹ nhìn một cái là xót, nhìn hai cái là giận, nhìn ba cái là muốn cầm gậy đi đánh người.
Ta hài lòng gật đầu, khẽ tặc lưỡi một cái, tự khen mình trong bụng, Hứa Kiều Đồng ơi là Hứa Kiều Đồng, ngươi đánh trận giỏi mà diễn kịch cũng giỏi, phen này cha mẹ nhìn thấy, không xót mới lạ, không nổi giận mới lạ, Tống Địch phen này chết chắc, mẹ chồng phen này cũng khó yên, ta còn tập thử giọng khóc, hức một tiếng, nghẹn một tiếng, nức nở một tiếng, sao cho thật giống tiểu thư khuê các bị bắt nạt, không giống nữ tướng gào thét ngoài thao trường, ta tập đi tập lại mấy lần đến mức chính mình cũng thấy chua xót. Lúc ta vịn tay nha hoàn xuống xe, chân hơi run, váy quét đất sột soạt, vừa khéo nhìn thấy người giữ cửa của phủ tể tướng, người giữ cửa dáng cao gầy, mặt đen sì vì nắng, vừa thấy bóng ta đã vội vàng chạy tới, bước chân huỳnh huỵch, cúi người thật thấp, giọng mừng rỡ, nếp nhăn trên mặt giãn ra, cuối cùng tiểu thư cũng về rồi, lão gia và phu nhân đã chờ lâu lắm rồi, mời tiểu thư vào trong, phu nhân nhắc tiểu thư suốt từ sáng.
Ta dựa nhẹ vào thành xe, đưa khăn tay lên chấm chấm khóe mắt, khẽ khụ một tiếng, giọng nghèn nghẹn như cố nén khóc, làm ra vẻ tủi thân mà vẫn cố giữ lễ, ừ, ta về rồi đây, cha mẹ vẫn khỏe chứ, ta nhớ nhà lắm, mấy đêm liền không ngủ được, chỉ mong được về thăm nhà một lát, nói tới đây giọng ta nghẹn lại, mắt lại đỏ thêm, nước mắt hoa tiêu còn sót lại trào ra, trông càng thật. Người giữ cửa thấy mắt ta đỏ hoe thì giật mình, vội tránh sang bên, tay run run vén rèm cửa, miệng lắp bắp, tiểu thư đi lối này, cẩn thận bậc thềm, lão gia phu nhân đang chờ ở sảnh đường, tiểu thư đi chậm thôi, coi chừng ngã, để lão đi trước dẫn đường.
Ta bước vào phủ tể tướng, lòng vừa hồi hộp vừa đắc ý, chân bước trên nền đá xanh mát lạnh, tiếng guốc gõ cộc cộc vang vọng, hai bên hành lang treo đèn lồng đỏ, tua rua đung đưa trong gió, mùi đàn hương thoang thoảng từ sảnh chính bay ra, tiếng chim sẻ lích chích trên mái ngói, tiếng lá khô xào xạc dưới chân người quét sân, tiếng nước chảy róc rách trong hồ nhỏ, mùi hoa quế thơm ngọt đầu mùa, tất cả đều ngăn nắp, sạch sẽ, quy củ, khác hẳn phủ tướng quân ồn ào và biên quan bụi bặm, ở đây đi một bước cũng có người nhìn, nói một câu cũng có người nghe, ta phải gồng mình đi cho ra dáng tiểu thư, lưng thẳng, cổ cao, bước ngắn, tay khép, mệt muốn chết.
Trước khi bước vào sảnh đường, ta đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế, mở miệng thế nào, khóc lúc nào, kể chuyện Tống Địch ra sao, đoạn nào thì nức nở, đoạn nào thì nghẹn ngào không nói nên lời, đoạn nào thì quỳ xuống ôm lấy chân mẹ mà kể, đoạn nào thì nhắc mẹ chồng cay nghiệt, đoạn nào thì nhắc Lưu Thanh Thanh trơ trẽn, ta duyệt lại trong đầu một lượt, chắc chắn không sơ hở, chỉ chờ cha mẹ hỏi một câu là tuôn ra như suối. Nhưng không ngờ, chuẩn bị kỹ càng như thế lại chẳng có đất dụng võ, giống như mang đại đao đi chém mà địch đã đào hào sẵn, uổng công mài dao, giống như mang cung tên đi bắn mà trời đổ mưa, dây cung ướt nhẹp, bắn không được.
Ta vừa bước chân trái vào cửa sảnh, còn chưa kịp mở miệng chào cha mẹ, còn chưa kịp giở giọng tủi thân, còn chưa kịp quỳ xuống, đã nghe thấy một tiếng quát lớn như sấm nổ giữa trời quang, âm thanh trầm nặng dội lên xà nhà rồi rơi xuống nền gạch lạnh ngắt, làm bụi trên xà nhà rơi lả tả, làm nến trên bàn chao đảo, làm tim ta giật thót. Giọng của cha Chúc vang lên, từng chữ đanh thép, rành rọt, nghiệt chướng, còn không quỳ xuống, mau quỳ xuống cho ta, quỳ ngay trước sảnh cho ta, giọng ông vang vọng, lạnh lùng, không một chút ấm áp của người cha nhớ con. Trong sảnh, nến cháy xì xèo, bấc nến nổ tí tách, khói mỏng uốn lượn bay lên, mùi sáp ong hăng hắc hòa với mùi trà đắng, mùi hương trầm nồng nặc, không khí đặc quánh, mấy người hầu đứng hai bên đều cúi gằm mặt, không dám thở mạnh, tiếng thở khẽ khàng mà nghe cũng nặng nề, tiếng vạt áo cọ vào nhau sột soạt cũng nghe rõ mồn một.
Ta đứng sững tại chỗ, chân trái còn lơ lửng chưa kịp đặt xuống, váy áo khẽ đung đưa, khăn tay nắm chặt trong tay, trong đầu ong lên một tiếng, ái chà, nghiệt chướng là gọi ai vậy, ở đây ngoài ta ra còn ai nữa đâu, chẳng lẽ vừa vào cửa đã bị mắng là nghiệt chướng, chẳng lẽ mắt ta sưng đỏ thế này mà cha không thấy, mặt ta đầy nước mắt thế này mà cha không hỏi, vừa mở miệng đã là quát, vừa gặp mặt đã là phạt. Ta không đến nỗi cho rằng cha mẹ trên đời đều giống cha mẹ ta, ta biết mỗi nhà mỗi khác, nhà quan văn khác nhà võ tướng, nhà Kinh Thành khác nhà biên quan, nhưng ta thật không ngờ lại khác đến mức này, khác đến mức đảo ngược trắng đen, con gái về nhà mà như phạm nhân ra công đường.
Cha ta là lão Hầu gia, người quanh năm sống trong mưa máu gió bấc ngoài biên quan, áo giáp quanh năm không rời thân, tay cầm thương chai sần, mặt sạm nắng gió, râu ria xồm xoàm, nhìn hung dữ là thế, nhưng mỗi lần về nhà, việc đầu tiên là cúi xuống hỏi ta có ăn no không, có lạnh không, có bị ai bắt nạt không, giọng ồm ồm mà ấm áp như bếp lửa, tay xoa đầu ta sột soạt, còn dúi cho ta miếng thịt khô thơm phức, dặn ăn cho có sức. Huynh trưởng ta thì suốt ngày càu nhàu, Hứa Kiều Đồng, đội mũ vào, Hứa Kiều Đồng, mặc thêm áo vào, Hứa Kiều Đồng, con nhóc không biết lo cho bản thân, mắng thì mắng vậy mà đi đâu cũng mang quà về cho ta, có miếng ngon nào cũng để dành cho ta, có áo ấm nào cũng nhường cho ta, sợ ta đói, sợ ta gầy, sợ ta bị lạnh chân khi gác đêm, nửa đêm còn mang chăn ra chốt cho ta, ngồi canh cùng ta nghe gió rít.
Chỉ là ta không ngờ, trên đời còn có cha mẹ giống như cha mẹ của Chúc Vân Thanh, con gái mắt sưng đỏ, mặt đầy nước mắt, tóc tai rối bời, lặn lội về nhà mà cha không hỏi một câu có ấm ức không, mẹ không hỏi một câu có mệt không, mở miệng ra đã là quát mắng, mở miệng ra đã là tội, ta bỗng thấy mắt cay thật, không phải cay vì hoa tiêu nữa, mà cay vì tủi, tủi cho Chúc Vân Thanh, bao năm sống trong nhà này không biết đã khóc bao nhiêu lần. Lần đầu tiên ta về nhà mẹ trong thân xác này, cha Chúc ngồi ngay ghế chủ vị, áo dài màu sẫm thêu hoa văn chìm, mặt nghiêm như đá, râu khẽ rung theo hơi thở nặng nề, tay đặt trên đầu gối, ngón tay gõ gõ nhè nhẹ, ông không quan tâm đến việc con gái ở nhà chồng có bị ấm ức hay không, cũng không nhìn thấy mắt ta sưng đỏ, mặt đầy nước mắt, mà tức giận nói, giọng sang sảng, từng chữ như búa nện xuống đá.
Ông nói, phu quân đã đưa người về rồi, ngươi lại không chủ động nạp thiếp cho hắn, chẳng lẽ muốn để người ngoài bàn tán về giáo dưỡng của Chúc gia ta sao, con gái Chúc gia gả đi mà ghen tuông hẹp hòi, không dung được người khác, thì còn mặt mũi nào nữa, thiên hạ sẽ cười vào mặt Chúc gia, cười cha không biết dạy con, cười mẹ không biết dỗ con, ngươi làm xấu mặt cả nhà. Ta há hốc miệng, quai hàm như trễ xuống, trong đầu chỉ còn một chữ, hả, cái gì mà nạp thiếp, cái gì mà giáo dưỡng, chồng rước gái lạ về mà vợ còn phải vui vẻ đi nạp thiếp cho chồng, còn phải chọn ngày tốt, còn phải cười nói đón người ta vào cửa, trên đời còn có đạo lý ấy sao, ở biên quan, ngựa của ai thì người ấy cưỡi, thương của ai thì người ấy cầm, chồng của ai thì người ấy giữ, ai dám thò tay vào là bị chém cụt tay, ai dám liếc mắt là bị đấm sưng mặt, chứ không có chuyện dâng chồng cho người khác rồi còn được khen là rộng lượng.
Ta tự an ủi mình, có lẽ cha Chúc bị bệnh, bệnh nặng lắm rồi, đầu óc không còn tỉnh táo, cho nên mới nói ra những lời hồ đồ như vậy, thế là ta ngập tràn hy vọng nhìn về phía mẹ Chúc, mong mẹ sẽ nói một câu công bằng, bênh con gái một lần, như mẹ ta vẫn bênh ta mỗi khi cha định phạt, mẹ ta vẫn ôm ta vào lòng, xoa lưng ta, nói Đồng Đồng không sai, sai là do người khác. Mẹ Chúc ngồi ở ghế bên, dáng ngồi ngay ngắn, áo lụa màu ngọc thêu hoa văn chìm, tóc búi cao cài trâm vàng, tay đặt hờ trên tay vịn, ngón tay thon dài, móng tay sơn son đỏ chót, bà chậm rãi ngẩng lên nhìn ta một lượt, từ đầu đến chân, ánh mắt sắc như dao lướt qua mắt đỏ của ta, qua vệt nước trên má ta, qua vạt áo ướt của ta, mà không hề gợn sóng, không hề động lòng, rồi chậm rãi mở miệng, giọng êm ái như đang trò chuyện việc nhà, mà lạnh như nước giếng sâu.
Bà nói, Thanh Nhi à, mẫu thân nghe nói, con ở phủ tướng quân không được hiếu kính với mẹ chồng lắm, có phải không, con làm dâu mà cãi mẹ chồng, để tiếng xấu đồn ra ngoài, thì còn ra thể thống gì nữa, người ta sẽ nói Chúc gia không biết dạy con gái, gả đi rồi bị trả về thì nhục lắm con ơi. Nói xong, bà lại dặn dò ta, từng câu từng câu, rõ ràng như đang đọc một bản điều lệ đã viết sẵn, giọng đều đều mà lạnh lẽo, nghe lời mẫu thân, đến khi về phủ tướng quân, trước tiên hãy chọn một ngày tốt, kiệu nhỏ đón cô nương đó vào cửa, nạp làm thiếp, cho nàng ta chén trà, ghi tên vào sổ, thế là xong, vừa rộng lượng vừa giữ thể diện, vừa được tiếng hiền huệ, chồng con cũng sẽ nghĩ tốt về con hơn. Chờ xong chuyện rồi, đích thân đến xin lỗi mẹ chồng, dâng trà nhận lỗi, quỳ xuống dập đầu, sau đó cũng phải hiếu kính cho tử tế, sớm tối thưa hỏi, cơm bưng nước rót, áo thay chăn đắp, đừng để người ta chê cười Chúc gia không biết dạy con, đừng để mẹ chồng có cớ đuổi con ra khỏi nhà.
Bà ngừng một chút, nhấp một ngụm trà, tiếng nắp chén chạm vào miệng chén kêu lanh canh, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà thơm đắng, rồi nói tiếp, giọng chậm rãi mà chắc nịch, đúng rồi, trong ba điều bất hiếu, vô hậu là tội lớn nhất, con gả đi đã lâu mà bụng chưa có động tĩnh gì, sớm sinh con trai đích tôn mới là đúng lẽ, mới đứng vững được ở nhà chồng, mới không bị thiếp thất trèo lên đầu, mới có người chống lưng khi về già, đàn bà không con như cây không rễ, gió thổi là đổ. Rồi bà hỏi, thuốc mà mẫu thân cầu cho con, thang thuốc cầu thai đắng nghét ấy, con có uống đúng giờ không, có dưỡng cơ thể cho tốt không, sao sắc mặt vẫn kém thế, mắt sưng như vậy là thức khuya sao, hay là lại cãi nhau với phu quân, hay là lại không chịu uống thuốc, con càng cãi càng khổ, nghe mẹ thì sướng tấm thân.
Đầu óc ta ong ong, từng chữ như đàn ong bay vào tai, vo ve không dứt, ta cảm thấy máu dồn lên mặt, nóng bừng, rồi lại lạnh toát sống lưng, tay siết chặt khăn tay đến mức các khớp ngón tay trắng bệch, khăn tay nhăn nhúm, ướt đẫm mồ hôi, mắt thì cay xè, mũi thì nghẹt lại, cổ họng nghẹn đắng, muốn nói mà không nói được, muốn khóc mà khóc không ra, muốn cười mà cười không nổi. Ta nhẫn nhịn hồi lâu, cuối cùng cũng mở miệng, giọng khàn đi vì tức và vì tủi, vì ấm ức thay cho Chúc Vân Thanh, con không, con không thể nạp thiếp cho hắn, hắn sai trước, hắn rước người ngoài về mà không hỏi con một tiếng, sao cha mẹ không hỏi con có bị ấm ức không, sao cha mẹ không hỏi con có đau không, có khổ không, mà lại bắt con đi nạp thiếp cho hắn, bắt con đi xin lỗi người mắng con, trên đời nào có đạo lý ấy.
Không kịp nói hết câu, cha Chúc đã đập bàn một tiếng thật mạnh, lòng bàn tay nện xuống mặt bàn gỗ kêu rầm một tiếng, chén trà trên bàn nảy lên, nắp chén lệch sang một bên, nước trà nóng bắn ra thành vệt, hơi nóng bốc lên nghi ngút, mùi trà đắng xộc lên, ông chỉ vào ta, ngón tay run lên vì giận, râu rung bần bật, mắt trừng to, còn cãi, càng nói càng không ra thể thống gì nữa, người đâu, mang roi mây ra đây, đánh cho nó tỉnh ra, đánh cho nó nhớ gia quy. Tiếp đó là một trận roi mây, ma ma đứng ngoài cửa nghe lệnh lập tức bước vào, bước chân lẹp xẹp, vạt áo quét đất sột soạt, tay cầm roi mây dài, thân roi mềm dẻo, màu vàng sậm, vút trong không khí nghe vun vút, hai tên gia đinh cao lớn tiến tới ghìm hai cánh tay ta, bàn tay thô ráp siết chặt như kìm sắt, ta bị ấn quỳ xuống nền đá lạnh, đầu gối nện xuống kêu cộc một tiếng, lạnh buốt thấu xương, đau điếng thấu tim.
Roi mây mềm, nhưng quất xuống da thịt thì đau xót, từng nhát một, rát bỏng, nóng hổi, tiếng roi vút xuống nghe vút một cái rồi chát một cái, da thịt rung lên, áo mỏng rách sờn, ta nghiến răng, mồ hôi túa ra trên trán, hòa với vệt nước trà chưa khô, mặn chát, chảy xuống mắt cay xè, ta cắn môi đến bật máu mà quyết không kêu, vì người Hứa gia không kêu đau trước mặt người ngoài, kêu là thua, khóc là hèn. Ta đã phản kháng, ngay từ đầu ta đã phản kháng, người nhà binh như ta, không có thói quen đứng yên chịu đòn, bị đánh là phải đánh lại, bị ghìm là phải vùng ra, đó là bản năng đã ngấm vào xương tủy sau bao năm lăn lộn ngoài biên quan, sau bao trận gió cát và máu lửa, tay ta tự động giật ra, chân ta tự động đá lên, không cần nghĩ.
Tuy không đánh lại được đám gia đinh đông đúc, hết lớp này tới lớp khác xông vào, vai u thịt bắp, tay to như cột đình, nhưng những ma ma chuyên đánh người kia không phải là đối thủ của ta, các bà ta quen đánh tiểu thư yếu đuối, quen thấy người ta khóc lóc xin tha, ôm đầu van xin, chứ chưa từng gặp người biết võ, biết né, biết đỡ, biết phản đòn. Ta giật mạnh cánh tay ra, khớp vai kêu răng rắc, quay người, chân quét ngang một đường thật mạnh, gió rít lên theo chân, váy áo tung bay, một ma ma béo tốt ngã sấp xuống đất, mặt đập xuống nền đá, răng cửa đập vào đá kêu cộc một tiếng, bật máu đỏ tươi, bà ta ôm miệng kêu oai oái, máu chảy qua kẽ tay, nhỏ tong tong xuống nền, tanh nồng, ai nhìn cũng rùng mình.
Ta thuận tay tóm cổ áo một ma ma khác, dùng sức hất mạnh sang bên, thân hình bà ta bay đi, va vào cột gỗ kêu đánh rầm một tiếng, bụi trên cột rơi xuống lả tả, mạng nhện đứt tung, bà ta trượt xuống chân cột, ôm lưng rên hừ hừ, mặt nhăn như quả táo tàu khô, không đứng dậy nổi, chỉ biết ôm cột mà thở dốc, cả sảnh đường chết lặng một thoáng rồi ồn ào hẳn lên, tiếng người hô hoán, tiếng ghế đổ loảng xoảng, tiếng chén trà rơi vỡ lanh canh, tiếng bước chân chạy tán loạn huỳnh huỵch, khói hương bị quạt tung, bay mù mịt, mùi sáp, mùi trà, mùi máu tanh hòa vào nhau ngai ngái, khó thở. Nhưng sau khi ta đánh ngã hai ma ma, người cầm roi đánh ta lại thành mẹ Chúc, bà đích thân bước xuống, hài thêu dẫm trên nền đá không gây ra tiếng động lớn, chỉ nghe sột soạt nhẹ, váy lụa quét đất mềm mại, bà đưa tay nhận lấy roi mây từ tay ma ma, tay trắng nõn mà cầm roi chắc nịch, chậm rãi cuộn dây roi quanh cổ tay trắng nõn, từng vòng từng vòng, siết chặt, rồi ngẩng nhìn ta, ánh mắt lạnh lẽo mà bình tĩnh, không giận dữ, không run rẩy, chỉ có quyền uy của người mẹ.
Đó là mẹ ruột của Chúc Vân Thanh, là người đã mang nặng đẻ đau sinh ra thân xác này, là người mà Chúc Vân Thanh gọi là mẫu thân bao nhiêu năm, bú mớm, bế bồng, dạy nói dạy đi, ta đứng đó, nắm đấm siết chặt, ngón tay trắng bệch, khớp kêu răng rắc, mồ hôi chảy dọc thái dương, nhưng không thể ra tay được, đánh lão thái thái nhà chồng thì ta đánh được, đánh Tống Địch thì ta cũng dám, đánh gia đinh ma ma thì ta không ngán, nhưng đánh mẹ ruột của thân xác này, ta không xuống tay được, xuống tay rồi thì còn mặt mũi nào nhìn Chúc Vân Thanh nữa, còn mặt mũi nào mượn thân xác của nàng nữa, tay ta giơ lên rồi lại buông xuống, buông xuống rồi lại siết lại, cuối cùng đành đứng yên. Chỉ một thoáng do dự ấy, roi mây đã quất xuống, vút một tiếng xé gió, rồi chát một tiếng giòn giã trên vai ta, đau điếng, da thịt như bị lửa liếm, ta cắn chặt môi đến bật máu mà không kêu lên một tiếng, vì người nhà binh không kêu đau trước mặt địch, nhưng nước mắt sinh lý thì cứ trào ra, hòa với vệt hoa tiêu còn sót lại, cay xè, chảy dài, ướt đẫm má.
Nhưng không ngờ, mẹ ruột của Chúc Vân Thanh lại đánh người tàn nhẫn như vậy, không phải đánh cho chừa, mà là đánh cho nhớ đời, đánh cho phục, đánh cho gãy cái cứng đầu, từng nhát roi kéo dài trên cánh tay, trên vai, trên lưng, mỗi nhát một đường lằn đỏ, nóng ran, rồi lạnh dần, rồi đau nhói thấu tim, tiếng roi vút vút đều đặn, không nhanh không chậm, không mạnh quá cũng không nhẹ quá, như đã đánh quen tay, như đã tính sẵn mỗi nhát rơi vào đâu, cổ tay bà lật nhẹ, roi đi vun vút, chuẩn xác đến lạnh người. Đánh xong, bà không hề thở gấp, chỉ khẽ phủi tay áo, vuốt lại tóc mai, đưa roi lại cho ma ma, giọng bình thản như vừa làm xong một việc nhà tầm thường, gọi mấy tên gia đinh đến, bảo đưa ta vào từ đường, bắt ta quỳ trước bài vị của tổ tiên, đợi khi nào nghĩ thông suốt, biết nhận lỗi, biết viết thư nhận sai với nhà chồng thì mới được về phủ tướng quân, còn cơm thì khỏi ăn, nhịn đói cho tỉnh táo, nhịn khát cho nhớ lâu.
Mấy tên gia đinh xốc nách ta lôi đi, tay xách nách mang như xách bao gạo, chân ta kéo lê trên nền đá sột soạt, đầu gối đau nhức, cánh tay đau rát, áo xô lệch, tóc rối bời, qua hành lang dài hun hút, gió lùa lạnh buốt, đèn lồng đung đưa kẽo kẹt, tới gian từ đường ở góc sâu nhất của phủ, nơi ít người qua lại, cây cối um tùm, lá rụng xào xạc, cửa gỗ nặng nề, bản lề rỉ sét, mở ra kêu ken két chói tai, bụi bay mù mịt, rồi cả gian phòng chìm vào bóng tối mờ mờ, chỉ có ánh nến le lói. Ở đây chỉ có một bàn thờ thấp kê sát tường, mặt bàn phủ vải đã cũ, sờn mép, mấy ngọn nến cạn cháy leo lét, bấc nến nổ tí tách, sáp chảy tong tong xuống chân nến, khói hương bảng lảng bay lên, ánh lửa chập chờn chiếu lên những bài vị gỗ sẫm màu xếp ngay ngắn, tên tổ tiên khắc chìm, nét chữ nghiêm trang, mùi tro tàn thoang thoảng, mùi hương trầm hăng hắc, mùi ẩm mốc của nhà cũ, không khí lạnh lẽo, hơi lạnh từ nền đá bốc lên thấm qua đầu gối, thấm vào xương.
Ta quỳ xuống trước bài vị, lưng thẳng, đầu cúi, hai tay đặt trên đầu gối, ra vẻ nhận lỗi, nhưng trong lòng thì ấm ức muốn nổ tung, muốn hét lên, muốn đập bàn như cha Chúc, muốn hỏi tổ tiên Chúc gia xem dạy con thế này có đúng không, quỳ được nửa canh giờ thì đầu gối tê dại như có ngàn con kiến bò, rần rần, thắt lưng đau nhức như sắp gãy, cổ mỏi nhừ, mồ hôi lạnh túa ra sau lưng, ướt đẫm áo trong, dính dấp khó chịu, bụng bắt đầu kêu ọc ọc vì đói, miệng khô khốc vì khát, vết roi thì rát bỏng, chạm áo vào là đau nhói. Ta thử ngồi xuống, nhìn bốn bề im ắng, không một bóng người, chỉ có tiếng nến cháy xì xèo và tiếng gió rít qua khe cửa u u, tiếng lá khô lăn trên sân sột soạt, thì cũng chẳng cần phải giả bộ nữa, quỳ cho ai xem chứ, tổ tiên Chúc gia có hiện về cũng chẳng bênh ta đâu, chi bằng ngồi cho đỡ khổ, chi bằng dựa cột cho đỡ mỏi, ta bèn ngồi bệt xuống, duỗi chân ra, xoa đầu gối, thổi phù phù vào vết thương.
Khi Chúc Vân Thanh liên lạc với ta lần nữa, ta đang ngồi bệt dưới đất, lưng dựa vào cột gỗ lạnh ngắt, một chân duỗi thẳng, một chân co lên, tay thì xoa xoa vết thương trên cánh tay, vết lằn đỏ sưng lên, chạm vào là đau nhói, rát như phải bỏng, ta vừa xoa vừa thổi phù phù, mong đỡ rát, vừa đói vừa tủi, mắt nhìn lên mái nhà tối om, nghe bụng mình kêu mà thấy mình thê thảm chưa từng có. Miếng ngọc bội trong ngực áo bỗng nóng lên, nóng ran như hòn than nhỏ, ánh sáng tím mờ ảo tỏa ra, chiếu lên gương mặt ta, hắt lên vách tường những vệt sáng lay động như mặt nước, hơi ấm lan ra ngực, giọng của Chúc Vân Thanh vang lên trong đầu, nhẹ nhàng, lo lắng, run run, hỏi ta đang ở đâu, có ổn không, có ăn cơm chưa, có bị ai mắng không, sao lâu thế chưa về phủ tướng quân.
Ta thở dài một hơi, kể hết, từ đường Chúc gia, bị đánh, không được ăn cơm, quỳ trước bài vị của tổ tiên, đây là lần đầu tiên ta bị trưởng bối đánh, từ nhỏ tới lớn, cha ta chưa từng đánh ta một roi nào, huynh ta chưa từng mắng ta một câu nặng nào, vậy mà hôm nay lại bị cha mẹ của người khác đánh cho một trận nhớ đời, roi mây quất xuống vai, xuống tay, đau đến thấu xương, mà đau nhất là trong lòng, vì bị chính nhà mẹ ruột quay lưng. Ta đưa miếng ngọc bội lên gần môi, ánh sáng tím hắt lên cằm, lên má, lên mắt còn đỏ, giọng ta trầm xuống, nghèn nghẹn, khàn khàn, xin lỗi ngươi, ta đã chống lại cha mẹ ngươi, ta biết đó là cha mẹ ruột của ngươi, ta không nên đánh lại người của họ, nhưng ta thật sự nhịn không nổi, họ bắt ta nạp thiếp cho Tống Địch, bắt ta xin lỗi mẹ chồng, bắt ta uống thuốc cầu thai, ta làm không được, ta thà bị đánh chứ không chịu cúi đầu nhận sai bừa.
Chúc Vân Thanh không biết đang nghĩ gì, một lúc lâu sau mới trả lời ta, giọng nàng cũng trầm, cũng nghẹn, bọn họ đánh ngươi, ngươi không phản kháng sao, có đau lắm không, có chảy máu không, ngươi đừng cố chịu, đau thì cứ kêu lên, đừng gồng mình như vậy, nghe mà ta thấy sống mũi cay cay, vì lâu lắm rồi mới có người hỏi ta có đau không, ở biên quan ai cũng bảo ta mạnh mẽ, không ai hỏi ta có đau không. Ta cười khổ một tiếng, kể cho nàng nghe từng nhát một, kể cả lúc ta quật ngã hai ma ma, một cước quét ngang, gió rít, một tay hất văng, người bay đập cột, kể cả lúc mẹ Chúc cầm roi, cuộn roi quanh cổ tay, ánh mắt lạnh lẽo, bước đi khoan thai, kể cả lúc ta đứng đó mà không thể ra tay, nắm đấm siết chặt mà phải buông xuống, tay run lên vì tức và vì thương nàng.
Ta nói, sau khi ta đánh ngã hai ma ma, người đánh ta lại thành mẹ Chúc, bà đích thân nhận lấy roi mây, tay không run, mắt không chớp, ta không thể đánh bà được, đó là mẹ ruột của ngươi, ta mà đánh bà thì ta còn là con người nữa không, nhưng không ngờ, mẹ ruột của ngươi lại đánh người tàn nhẫn như vậy, roi nào roi nấy đều hằn sâu, đều tính sẵn, đánh mà không mệt, phạt mà không thương, ta ở biên quan chịu đòn nhiều rồi mà chưa thấy ai đánh chuẩn và lạnh như vậy. Bên kia im lặng, lâu thật lâu, lâu đến mức ta tưởng ngọc bội đã tắt, ánh sáng tím mờ dần, chỉ còn tiếng thở khẽ khàng của nàng truyền qua, nghe như tiếng lá rơi trong đêm, nghe như tiếng ai khóc thầm, ta không dám hỏi thêm, chỉ ngồi ôm gối chờ nàng lên tiếng, sợ nàng giận ta đánh người nhà nàng, sợ nàng khóc vì cha mẹ nàng đánh ta.
Ta xoa xoa vết thương trên cánh tay, giọng lầm bầm, vừa tủi vừa tức, vừa thương nàng, cha mẹ ngươi thật hung dữ, cha mẹ ta giết người trên chiến trường, dao thương không có mắt, ra tay cũng không tàn nhẫn như vậy, ít nhất họ còn hỏi rõ trắng đen trước khi chém, ít nhất họ còn cho người ta ăn no trước khi phạt, chứ không ai để con gái đói lả quỳ trong từ đường lạnh như vậy. Chúc Vân Thanh lại không nói gì, một lúc sau, nàng nói, giọng nhẹ như một tiếng thở dài, từng chữ chậm rãi, như sợ gió thổi bay, cha mẹ của ngươi là người rất tốt, thật đấy, ta nghe ngươi kể đã lâu, ta luôn nghĩ như vậy, họ thương ngươi thật lòng, thương bằng hành động, không phải bằng lời, ngươi có phúc mà không biết.
Chữ cuối cùng hơi khựng lại, như thể nàng đang nuốt xuống một thứ gì đó chua xót ở cổ họng, nghẹn nghẹn, đắng đắng, ta nghe mà lòng se lại, bỗng nhiên không biết nói gì, ngồi im, tay ngừng xoa vết thương, mắt nhìn lên những bài vị gỗ sẫm màu trước mặt, ánh nến chập chờn hắt lên mặt ta, nóng một bên, lạnh một bên, trong lòng bỗng chột dạ đến khó chịu. Trong lòng ta bỗng chột dạ, nhớ tới chuyện mình từng định bỏ trốn khỏi quân doanh, bỏ lại cha mẹ huynh đệ, bỏ lại trách nhiệm, bỏ lại binh sĩ tin yêu mình, chỉ vì không muốn gả đi, không muốn rời biên quan, không muốn làm dâu Kinh Thành, nếu cha mẹ ta biết, họ sẽ buồn đến mức nào, họ tốt với ta như vậy mà ta lại định làm chuyện bất hiếu, định để họ mất mặt trước triều đình, nghĩ tới đây ta thấy vành mắt nóng lên, thấy mình có lỗi với cha, với huynh, với cả Chúc Vân Thanh đang gánh tội thay ta ngoài biên quan.
Chúc Vân Thanh lại lên tiếng, giọng đã điềm tĩnh hơn, mang theo sự dịu dàng của tiểu thư khuê các, đừng quỳ nữa, từ đường ít người đến, ngươi ngồi cũng không sao, không ai nhìn thấy đâu, không ai rình đâu, đợi đến chập tối, nhận lỗi qua loa một câu là về được, nói con biết sai rồi, lần sau không dám nữa, đừng cứng đầu chống đối, càng chống càng bị đánh thêm, càng cãi càng bị nhốt lâu, nghe lời ta một lần đi. Ta tưởng ngươi là mỹ nhân ngốc nghếch, ngoan ngoãn chịu phạt chứ, ta cười trêu nàng, cố làm giọng nhẹ nhõm để nàng yên tâm, để nàng ở quân doanh đỡ lo, ta ngồi phịch xuống đất, hai chân duỗi thẳng ra, tay chống ra sau, lòng bàn tay chạm nền đá lạnh ngắt, buốt đến tận khuỷu, ta đã không quỳ từ lâu rồi, quỳ nữa thì đầu gối của ngươi hỏng mất, sau này ngươi về lại thân xác này lại trách ta làm chân nàng thô, đi không đẹp.
Mọi chuyện đều có cách giải quyết, ngươi đừng lo, ta an ủi nàng, rồi lại hỏi nàng ở quân doanh có ổn không, ăn có no không, ngủ có ấm không, có ai bắt nạt không, áo ấm có đủ không, chân có lạnh không, đêm có giật mình không, nàng vốn yếu đuối, ra biên quan gió lớn như vậy, ta lo nàng ốm, lo nàng khóc mà không ai dỗ. Chúc Vân Thanh cười khẽ một tiếng qua ngọc bội, tiếng cười trong như chuông gió, leng keng, rồi nhanh chóng nghiêm giọng lại, giọng nhỏ dần, ta đến tìm ngươi, là có chuyện muốn nói với ngươi, chuyện này làm ta nghĩ mãi không thông, đêm qua nghĩ cả đêm không ngủ được, chỉ có ngươi mới hiểu được, mới giải được.
Nàng hỏi ta có nhớ Tam hoàng tử đến từ Kinh Thành không, người mà triều đình phái tới quân doanh rèn luyện ấy, người cao gầy, ít nói, hay cười hiền ấy, ta còn nhớ không, hay ra biên quan lâu quá quên mất mặt người Kinh Thành rồi. Nàng nói, tối qua Tam hoàng tử đã đốt pháo hoa cho nàng cả đêm, pháo hoa nổ rợp trời biên quan, tiếng nổ đì đùng vang vọng khắp doanh trại, ánh sáng rực rỡ soi sáng cả một góc trời, đỏ, vàng, xanh, tím đua nhau bung nở, binh sĩ reo hò ầm ĩ, ai cũng chạy ra xem, trẻ con vỗ tay đôm đốp, chỉ có nàng đứng sững dưới bầu trời ấy, gió thổi tung áo, ánh sáng hắt lên mặt mà nóng cả má, không hiểu vì sao có người đối tốt với mình như vậy. Ta nhớ chứ, ta đáp, giọng chắc nịch, vang vang, chính là người tính tình dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ, tướng mạo cũng không tệ, mày mắt thanh tú, sống mũi cao thẳng, dáng người cao ráo, đứng giữa đám lính biên quan thô kệch, mặt sạm, râu rậm thì nổi bật như hạc giữa đàn gà, ai nhìn cũng phải ngoái lại.
Bên kia im bặt, một lúc lâu, Chúc Vân Thanh mới hỏi, giọng có phần dè dặt, như sợ ta giận, như sợ nói sai, rằng ta có nhận ra hắn có ý đồ xấu không, hắn đối tốt với ta như vậy, đốt pháo hoa cả đêm, tốn bao nhiêu bạc, có phải là có mưu đồ gì không, nàng ở Kinh Thành nghe nhiều chuyện tranh đấu, hoàng tử nào cũng có tính toán, không dám tin có người tốt vô cớ, không dám nhận ân tình vô cớ. Hắn có ý đồ xấu hay không ta không biết, ta nghiêm túc trả lời, từng chữ rành mạch, giọng vang vang trong từ đường vắng, vọng lại own oang, nhưng hắn đẹp trai lại chịu dỗ ta vui vẻ, biên cương toàn là kẻ thô lỗ, chỉ biết mắng ta như một đứa con trai, xô ta như xô bao cát, bắt ta gác đêm, bắt ta chạy bộ, một người xa lạ lại chịu bán rẻ sắc đẹp để dỗ dành ta, cười với ta, đốt pháo hoa cho ta, đây không phải là ý đồ xấu, đây là triều đình ban ân, là trời thương ta, phải nhận, nhận cho thật vui vẻ, nhận cho thật tươi cười.
Bên kia Chúc Vân Thanh không nói gì, ta có thể hình dung ra cảnh nàng đứng ở trong quân doanh, tay cầm miếng ngọc bội, môi mím lại, mày nhíu lại, má đỏ lên vì ngượng, không biết nên khóc hay nên cười, chắc chắn đang nghĩ ta là đồ hám sắc, thấy đẹp là mờ mắt, thấy pháo hoa là quên hết, đúng là nữ tướng không có tiền đồ. Thực ra ta biết, Chúc Vân Thanh sợ ta bị Tam hoàng tử lừa, sợ ta nhẹ dạ, sợ ta ở Kinh Thành không ai che chở mà lại vướng vào hoàng tử, rước họa vào thân, nàng lo cho ta thật lòng, cho nên mới hỏi kỹ như vậy, mới nhắc ta cẩn thận, ta hiểu lòng nàng, cho nên ta không giận, chỉ thấy ấm áp, vì còn có người lo ta bị lừa.
Tam hoàng tử tên đầy đủ là Triệu Đình Văn, đứng hàng thứ ba nhưng lại hoàn toàn không có cảm giác tồn tại như hai huynh trưởng của mình, hai vị kia mẹ là quý phi, là thế gia vọng tộc, sinh ra đã ngậm thìa vàng, đi đâu cũng có người vây quanh, kẻ hầu người hạ đông như kiến, còn hắn thì lặng lẽ như bóng mờ trong cung, đi qua hành lang mà không ai chào, vào yến tiệc mà không ai nhớ. Nghe nói hắn là con của một cung nữ nhỏ nhoi, thân phận thấp hèn, từ nhỏ đã lớn lên ở lãnh cung, nơi lạnh lẽo, vắng vẻ, tường cao cỏ mọc um tùm, rêu xanh trơn trượt, mùa đông không có ai đốt lò, tay chân nứt nẻ vì lạnh, môi tím tái, mùa hè không có ai quạt, mồ hôi ướt đẫm áo mà vẫn phải học bài, chữ viết run rẩy vì đói, đến khi lớn hơn một chút, học hành tiến bộ, chữ viết ngay ngắn, đối đáp trôi chảy, mới được hoàng đế nhớ đến, cho gọi ra ngoài điện, khảo bài một lần, rồi ban cho một chức quan nhỏ, coi như cho có lệ.
Nhưng so với hai hoàng tử trước, hắn thậm chí còn không có gia đình ngoại thích, mẹ hắn không có thế lực, không có họ hàng, không có tiền bạc, sau lưng trống rỗng, chỉ có một mình trơ trọi, một thân một bóng, vì vậy, khi các hoàng tử khác đều làm việc ở bộ Hộ, bộ Lại, ngồi trong thư phòng ấm áp, giấy bút thơm tho, trà ngon kề bên, thì hắn lại được phái đến quân doanh của cha ta, một vùng đất gió tanh mưa máu ở tận biên cương, cát bay đá chạy, đêm lạnh cắt da, ngày nắng cháy thịt, ăn lương khô cứng như đá, uống nước lã lạnh buốt răng. Khi Triệu Đình Văn mới đến, không quen biết ai, đứng ở giữa sân doanh lúng túng, y phục còn thơm mùi Kinh Thành, vải vóc mềm mại không hợp với gió cát, giày sạch mà đường thì bụi, hai tay không biết đặt đâu, mắt nhìn quanh đầy bỡ ngỡ, mặt đỏ lên vì ngượng, cha ta đã bảo ta dẫn hắn tham quan, bảo Đồng Đồng, con dẫn Tam hoàng tử đi một vòng, dạy hắn quy củ biên quan, đừng để hắn bị gió thổi bay mất.
Ta dẫn hắn làm quen với cuộc sống trong quân doanh, chỉ cho hắn xem chuồng ngựa hôi mùi cỏ khô và phân ngựa, ngựa hí vang trời, đuôi quất phành phạch, kho lương đầy bao tải xếp cao như núi, chuột chạy sột soạt, tháp canh cao vút đón gió phần phật, cờ bay tung tóe, và chỗ ta thường ngồi đếm sao vào ban đêm, tảng đá lớn bằng phẳng, ngồi lên mát lạnh, ngẩng lên là cả bầu trời sao chi chít, sao nhấp nháy như mắt ai, gió thổi vi vu mát rượi. Cũng dẫn hắn đi chơi, nhưng biên cương vốn nghèo nàn, ngay cả thứ để chơi cũng rất ít, không có hoa đèn rực rỡ, không có thuyền hồ dập dềnh, không có quán rượu sang trọng thơm mùi rượu ngon, có chăng cũng chỉ là mấy con ngựa nhỏ lông xù, chạy lóc cóc, mấy bãi cát vàng óng, gió xoáy thành cột, và tiếng gió gào thổi suốt ngày đêm u u như tiếng ai khóc, nghe riết thành quen, không nghe lại thấy thiếu.
Ta chỉ bâng quơ nói một câu, lúc ấy ngồi bên đống lửa, cắn miếng lương khô cứng ngắc, răng nhai kêu răng rắc, lửa trại cháy lách tách, tàn lửa bay lên như đom đóm, các huynh đệ ngồi uống rượu, hát hò, đập tay vào nhau nhịp phách bốp bốp, giọng khàn khàn mà vang xa, ta nói rằng đêm giao thừa chúng ta đều quây quần như vậy, phần lớn tiền đều dùng để mua quân nhu, áo ấm, lương khô, thuốc men, đã bốn năm nay không đốt pháo hoa, quên mất pháo hoa trông thế nào rồi, quên mất tiếng nổ đì đùng nghe vui tai ra sao, chỉ nhớ mùi khói súng nồng nặc. Lúc nói câu ấy, ta chẳng hề để ý, chỉ là thuận miệng than thở, mắt nhìn lửa, tay bẻ lương khô, vậy mà, hôm đó Triệu Đình Văn đã quay sang, nhìn thẳng vào mắt ta, ánh lửa bập bùng hắt lên gò má hắn, đôi mắt hắn sáng rực, không có một chút đùa cợt nào, giọng trầm, trịnh trọng nói một câu, Đồng Đồng, ngươi chờ đó, ta chắc chắn sẽ đốt pháo hoa cho ngươi, đốt một trận thật lớn, cho ngươi xem đã mắt, cho cả doanh trại xem cùng, để giao thừa năm nay không vắng vẻ.
Ngọn lửa bập bùng trước mặt, tiếng củi cháy tí tách, tiếng gió rít ngoài lều, tiếng ngựa hí xa xa, mà câu nói ấy ấm áp như một bếp lửa nhỏ, sưởi cả lòng ta, ta cười ha ha, vỗ vai hắn bốp một cái, suýt làm hắn ngã dúi, bảo được, ta chờ, ngươi mà nuốt lời thì ta bắt ngươi mời ta ăn thịt nướng ba ngày, thịt nướng cháy xém thơm phức, mỡ chảy xèo xèo, ngươi mà quên là ta giận thật đấy. Ngoài hành lang từ đường, gió lạnh lùa qua khe cửa, thổi tắt một ngọn nến, bấc nến cháy dở bốc khói xanh, khét lẹt, trong từ đường, khói hương bay ngược lên, quẩn quanh dưới mái nhà, mùi trầm càng thêm nồng, càng thêm lạnh, ta đưa tay lên, sờ sờ miếng ngọc bội đã nguội dần, lòng ngổn ngang trăm mối, vừa tủi vừa ấm, vừa giận vừa thương.
Bây giờ thì hắn đã đốt pháo hoa rồi, đốt cả đêm rực rỡ, tiếng nổ đì đùng vang xa mấy dặm, ánh sáng nhuộm đỏ cả bầu trời đêm biên quan, đuôi lửa xòe ra như hoa cúc, rồi tắt dần thành ngàn đốm nhỏ rơi lả tả, nhưng người hắn đốt pháo hoa cho, lại không phải là ta nữa, mà là Chúc Vân Thanh trong thân xác của ta, đứng dưới bầu trời ấy mà ngơ ngác không hiểu vì sao, tay cầm ngọc bội mà run, mắt nhìn pháo hoa mà ướt. Ở bên kia, trong quân doanh, Chúc Vân Thanh đang ở trong thân xác của ta, đứng dưới bầu trời đầy pháo hoa ấy, gió đêm thổi tung vạt áo, tóc bay lòa xòa, ánh sáng đủ màu hắt lên mặt, lúc đỏ lúc xanh, và không hiểu tại sao có người lại đối xử tốt với mình như thế, tốt đến mức làm người ta hoảng sợ, tốt đến mức không dám nhận, sợ nhận rồi phải trả bằng cả đời.
Còn ta, ta ngồi trong từ đường Chúc gia, lưng tựa cột gỗ lạnh ngắt, trên cánh tay còn những vết roi sưng đỏ, rát bỏng, bụng đói meo kêu ọc ọc, miệng khô đắng, chưa được về phủ tướng quân, chưa biết ngày mai sẽ bị ép nạp thiếp hay không, chưa biết bao giờ mới đổi lại được thân xác, chưa biết Chúc Vân Thanh ngoài kia có bị Tam hoàng tử làm khó không, có bị lộ thân phận không. Ta nhắm mắt lại, dựa đầu vào cột, nghe tiếng mõ cầm canh từ xa vọng tới, từng tiếng thong thả, cộc, cộc, bên tai như còn vọng lại tiếng pháo hoa nổ đom đóm, hòa cùng tiếng lửa trại lách tách, tiếng các huynh đệ ngồi hát những khúc ca xa lạ của biên quan, giọng khàn khàn mà hào sảng, tiếng vỗ tay bốp bốp, tiếng cười ha ha vang vọng.
Đồng Đồng, ngươi chờ đó, giọng nói năm ấy lại vang lên trong đầu, rõ mồn một như mới hôm qua, ấm áp như than hồng trong đêm tuyết. Ta vẫn chờ đây, ta lẩm bẩm trong miệng, giọng khàn đặc, chỉ có điều, người chờ đến pháo hoa ấy, bây giờ đang ngồi giữa một gian từ đường lạnh ngắt, lưng tựa cột gỗ, bụng đói meo, mắt sưng đỏ, tay đầy vết roi, chờ mãi mà pháo hoa lại nổ ở nơi khác, rực rỡ cho người khác xem, sáng rực cho người khác ấm, còn ta ở đây chỉ có nến tàn và khói hương. Gió đêm càng lúc càng lạnh, ta co người lại, ôm lấy đầu gối, tự ủ ấm cho mình, cằm tựa lên gối, nhìn ánh nến leo lét sắp tàn, bấc nến gục xuống, ánh lửa chập chờn như sắp tắt, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi tủi thân khó tả, cay cay nơi sống mũi, nghẹn nghẹn nơi cổ họng, không biết là tủi cho mình hay tủi cho Chúc Vân Thanh, có cha mẹ mà chẳng được bênh, có nhà mà chẳng được về, có pháo hoa mà chẳng được xem, có người thương mà chẳng được gặp.