Chương 4: Chuyển Giao Suất Tập
Tiếng chuông điện thoại trong túi áo khoác rung lên từng hồi bần bật, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch dưới tán cây long não già.
Tôi rút máy ra, nhìn dãy số máy bàn lạ hoắc hiện lên trên màn hình rồi bấm nút nghe. Âm thanh rè rè của đường truyền cách xa hàng ngàn cây số vang lên bên tai, kèm theo đó là giọng nói đều đều nhưng không giấu nổi sự sốt ruột của người đàn ông ở đầu dây bên kia:
- Xin hỏi, có phải phụ huynh của cháu Mạnh Dư Nhạc đó không ạ? Tôi là nhân viên quản lý học vụ tại Trung tâm bơi lặn và nhảy cầu thanh thiếu niên Kinh Châu.
Tôi đứng tựa lưng vào lan can sắt rỉ sét của viện phúc lợi, khẽ thở dài một tiếng rồi bình thản đáp:
- Vâng, tôi là Giang Mịch Thanh, mẹ của cháu. Có chuyện gì xảy ra với Dư Nhạc sao anh?
Đầu dây bên kia như trút được gánh nặng, giọng điệu lập tức trở nên dồn dập:
- May quá, cuối cùng cũng liên lạc được với chị. Chúng tôi gọi điện để thông báo tình hình học tập của cháu. Đã ba tuần liên tiếp trôi qua, cháu Dư Nhạc không hề xuất hiện tại hồ bơi. Các buổi rèn luyện thể lực cơ bản và kỹ thuật tiếp nước bục ba mét cháu đều bỏ trắng. Hôm nay đã là hạn chót của kỳ bảo lưu; nếu gia đình vẫn không đưa cháu đến điểm danh, trung tâm chúng tôi buộc phải hủy tư cách học viên theo đúng quy chế đào tạo của thành phố.
Người nhân viên ngập ngừng một thoáng, giọng chùng xuống như thăm dò:
- Chị Giang à, trước đó chị đã thanh toán trọn gói toàn bộ học phí cho cả khóa huấn luyện nâng cao kéo dài một năm. Số tiền này rất lớn, nhưng theo hợp đồng cam kết ban đầu, nếu học viên tự ý bỏ ngang giữa chừng mà không có lý do bất khả kháng, trung tâm chúng tôi sẽ không thể hoàn trả lại bất kỳ khoản phí nào đâu ạ.
Lồng ngực tôi thắt lại, một cảm giác nghẹn đắng trào dâng nơi cuống họng.
Học phí không hoàn lại ư? Đối với gia tộc hào môn nhà họ Mạnh, số tiền học phí ấy chẳng qua chỉ bằng một bữa tiệc rượu hay một món đồ trang sức mà Mạnh Tề Hành mua tặng người khác. Điều khiến tim tôi đau nhói không phải là tiền bạc, mà là sự phản bội của chính đứa con trai ruột thịt mà tôi từng dứt ruột đẻ ra.
Ký ức của một năm về trước bỗng chốc ùa về rõ mồn một. Đó là một buổi chiều nắng nhạt, tôi ngồi trong phòng khách xem lại cuốn băng ghi hình trận chung kết Olympic môn nhảy cầu mười mét nữ năm xưa. Khi chứng kiến khoảnh khắc tôi tung người xoay ba vòng rưỡi trên không trung rồi cắm thẳng xuống mặt nước phẳng lặng như gương, Mạnh Dư Nhạc lúc đó mới tròn năm tuổi đã nhảy cẫng lên. Thằng bé ôm chầm lấy cổ tôi, đôi mắt tròn xoe lấp lánh sự ngưỡng mộ vô bờ, bi bô nói từng lời ngây thơ:
- Mẹ ơi, lớn lên con cũng muốn được bay lượn trên không trung như mẹ. Con muốn trở thành nhà vô địch dũng cảm giống hệt mẹ.
Chính vì câu nói non nớt ấy, tôi đã gạt bỏ bao mệt mỏi, dốc cạn tâm can tìm kiếm những huấn luyện viên giỏi nhất, đăng ký cho con vào trung tâm đào tạo thể thao hàng đầu tại Kinh Châu. Tôi nâng niu bàn chân con, kiên nhẫn uốn nắn từng ngón tay, lau từng giọt mồ hôi ướt đẫm lưng áo sau mỗi buổi tập ép dẻo đau đớn.
Thế nhưng, sự kiên trì của một đứa trẻ được nuông chiều trong nhung lụa chẳng kéo dài nổi một năm trời. Dư Nhạc bắt đầu chán nản những bài tập thể lực khô khan; thằng bé sợ những vết bầm tím trên da thịt khi tiếp nước sai tư thế; nó ghét cả mùi thuốc khử trùng nồng nặc nơi bể bơi. Và rồi, khi Sở An xuất hiện với chiếc váy lụa thướt tha, mang theo những lời đường mật và những tấm vé xem triển lãm nghệ thuật lộng lẫy, Dư Nhạc đã không chút do dự quay lưng lại với tôi. Thằng bé chê bai mẹ ruột nghiêm khắc, chê bai bộ môn nhảy cầu nhọc nhằn, hồ hởi chạy theo vòng tay người phụ nữ khác để được làm một cậu ấm sống an nhàn trong nhung lụa.
Tôi hít sâu một hơi, để luồng không khí lành lạnh của buổi sớm Giang Thành tràn vào lồng ngực, cuốn trôi đi chút tàn dư cay đắng cuối cùng. Giọng tôi vang lên qua ống nghe, dứt khoát và lạnh lùng:
- Cảm ơn anh đã thông báo; nhưng tôi và ba của cháu Mạnh Dư Nhạc đã chính thức ly hôn. Hiện tại, tôi đã rời khỏi nhà họ Mạnh và không còn quyền giám hộ trực tiếp đối với cháu nữa. Lát nữa tôi sẽ gửi số điện thoại cá nhân của anh Mạnh Tề Hành cho anh; mọi quyết định liên quan đến việc học hay thôi học của Dư Nhạc, xin trung tâm cứ làm việc thẳng với anh ấy.
Người nhân viên ở đầu dây bên kia thảng thốt kêu lên một tiếng kinh ngạc. Anh ta ấp úng định nói thêm điều gì đó, nhưng tôi đã đưa mắt nhìn sang bên cạnh.
Cách tôi vài bước chân, dưới bóng râm của cây long não xào xạc, cô bé Đảng Nhạn đang đứng nép mình bên bồn hoa xi măng cũ kỹ. Cô bé mặc chiếc áo cộc tay đã ngả màu cháo lòng, hai bờ vai gầy trơ xương hơi co lại vì gió lạnh. Đôi mắt đen láy to tròn của em cứ chăm chú dõi theo từng cử chỉ của tôi, vừa khao khát, vừa e dè như một chú chim non sợ hãi bị xua đuổi.
Một tia sáng lóe lên trong tâm trí tôi, dập tắt hoàn toàn sự u uất vừa nhen nhóm. Tôi lập tức cất giọng hỏi người nhân viên:
- Khoan đã, anh cho tôi hỏi thêm một việc. Suất tập luyện chuyên nghiệp kèm theo gói học phí đó, liệu tôi có thể làm thủ tục chuyển nhượng cho một đứa trẻ khác được không?
Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, dường như người quản lý đang lục tìm các điều khoản quy định trong sổ sách nội bộ. Sau một hồi ngập ngừng, anh ta chậm rãi trả lời:
- Về mặt nguyên tắc thì trung tâm có chính sách hỗ trợ chuyển nhượng suất tập nếu gia đình học viên có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, đối tượng tiếp nhận bắt buộc phải trải qua một bài kiểm tra sát hạch chuyên môn trực tiếp. Ban huấn luyện sẽ đánh giá toàn diện về thể lực, tỷ lệ cơ thể và cảm giác không gian; chỉ khi đạt đủ điểm tiêu chuẩn thì suất tập đó mới chính thức có hiệu lực.
Khóe môi tôi khẽ cong lên một nụ cười nhẹ nhõm. Tôi nhớ lại hình ảnh cô bé mười ba tuổi này ban nãy, khi em đứng bên mép hồ bơi cạn nước của viện phúc lợi, thực hiện động tác vươn tay ép lườn chuẩn xác từng ly từng tí. Đứa trẻ này từng được tuyển thẳng vào đội tuyển bơi lặn của tỉnh; tài năng thiên bẩm của em là điều không ai có thể phủ nhận, thứ duy nhất từng đánh gục em chỉ là vết thương tâm lý mà thôi.
Tôi gật đầu, quả quyết đáp:
- Được, quy định thế nào tôi xin tuân thủ đúng như thế. Trong vòng vài ngày tới, tôi sẽ trực tiếp đưa người đến trung tâm tại Kinh Châu để tham gia sát hạch. Còn bây giờ, tôi sẽ nhắn số của Mạnh Tề Hành qua cho anh ngay.
Sau khi dập máy, tôi đứng lặng dưới bóng cây, nhìn đứa trẻ khốn khổ trước mặt. Khi ấy, tôi chưa thể lường hết được rằng quyết định bộc phát trong một buổi sáng mùa đông này sẽ làm đảo lộn hoàn toàn quỹ đạo cuộc đời của hai cô trò, kéo theo bao nhiêu sóng gió chực chờ phía trước.
Hai ngày tiếp theo tại Giang Thành trôi qua trong guồng quay hối hả của những thủ tục giấy tờ.
Việc giải quyết thủ tục bảo trợ cho Đảng Nhạn tại Viện phúc lợi Giang Thành diễn ra thuận lợi hơn nhiều so với dự tính ban đầu của tôi. Khi tôi bước vào phòng làm việc của ban giám đốc, trình ra tấm thẻ căn cước công dân cùng những chứng nhận danh hiệu thể thao quốc gia năm xưa, viện trưởng - một phụ nữ trung niên với mái tóc hoa râm và ánh nhìn hiền hậu - đã không giấu nổi sự xúc động.
Bà viện trưởng nắm chặt lấy đôi bàn tay tôi, giọng run run kể lại ngọn ngành quá khứ của cô bé tội nghiệp. Đảng Nhạn mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi mới lên tám tuổi sau một vụ tai nạn giao thông thảm khốc; em được đưa vào viện phúc lợi này lớn lên trong sự thiếu thốn tình thương gia đình. Năm mười một tuổi, trong một lần chuyên gia bơi lội của tỉnh về rà soát mầm non thể thao, Đảng Nhạn đã lọt vào mắt xanh của các huấn luyện viên nhờ sải tay dài khác thường, các khớp xương dẻo dai và cảm giác nước tuyệt vời.
Em được tuyển thẳng vào đội tuyển năng khiếu của tỉnh, trở thành niềm hy vọng lớn nhất của cả viện phúc lợi. Thế nhưng, môi trường tập luyện khắc nghiệt, sự kỳ vọng quá lớn cùng nỗi ám ảnh kinh hoàng về việc bị bỏ rơi đã đè nặng lên bờ vai bé nhỏ. Cứ mỗi lần bước lên bục nhảy thi đấu trước hàng ngàn khán giả và tiếng còi thúc giục, toàn thân Đảng Nhạn lại co giật từng cơn; mười đầu ngón tay em run rẩy mất kiểm soát đến mức không thể bấm chặt ngón chân vào mép ván nhảy. Sau ba lần liên tiếp mắc lỗi kỹ thuật và ngã sấp mặt xuống nước vì hoảng loạn, ban huấn luyện đội tuyển tỉnh đã lắc đầu thở dài, ký quyết định trả em về lại viện phúc lợi với kết luận lạnh lùng: mắc hội chứng rối loạn lo âu thi đấu nặng nề, không có tố chất tâm lý để trở thành vận động viên đỉnh cao.
Bản kết luận nghiệt ngã ấy giống như một nhát dao tước đoạt đi đôi cánh vừa chớm nở của cô bé. Kể từ ngày trở về, Đảng Nhạn sống thu mình lại như một chiếc bóng cô độc giữa sân viện; em không dám tiếp xúc với ai, chỉ biết lén lút ra bờ hồ cũ kỹ tập luyện những động tác không trọng lượng trong bóng tối mịt mùng.
- Con bé yêu nhảy cầu hơn cả sinh mạng của mình, cô Giang à... - Giám đốc viện phúc lợi nghẹn ngào lau giọt nước mắt nơi khóe mi, nhìn qua khung cửa sổ về phía cô bé đang đứng đợi ngoài hành lang - Chỉ là con bé quá tự ti và sợ hãi; nó luôn nghĩ rằng bản thân là kẻ vô dụng, là gánh nặng bị người ta vứt bỏ. Nếu cô có thể dang rộng vòng tay đón nhận và cho con bé thêm một cơ hội, cả viện phúc lợi này sẽ mang ơn cô suốt đời.
Nghe những lời tâm can ấy, mắt tôi cay xè. Tôi lập tức đặt bút ký vào các văn bản bảo trợ pháp lý, cam kết chu cấp toàn bộ chi phí sinh hoạt, học tập và rèn luyện thể thao chuyên nghiệp cho Đảng Nhạn. Nhìn con dấu đỏ tươi in đậm trên mặt giấy trắng, tôi thầm tự nhủ: tôi sẽ không để đứa trẻ này phải chịu thêm bất kỳ tổn thương nào nữa.
Sau khi hoàn tất thủ tục ở viện phúc lợi, tôi dành buổi chiều muộn cuối cùng ở Giang Thành để đi tìm một người - người mà suốt bảy năm qua tôi không dám đối diện vì nỗi cắn rứt lương tâm.
Tôi bắt một chuyến xe buýt cũ kỹ chạy dọc theo con đường rợp bóng cây xà cừ dẫn về khu tập thể ngành thể dục thể thao cũ trên đường Hữu Nghị. Từng bậc cầu thang xi măng nứt nẻ, từng mảng vôi tường bong tróc bám đầy rêu xanh đều in đậm dấu chân của tôi thời niên thiếu. Nơi đây từng là mái ấm của huấn luyện viên Lâm Ngọc - người thầy tận tụy đã dành trọn cả cuộc đời để nhào nặn nên một Giang Mịch Thanh vô địch Olympic.
Thế nhưng, khi tôi leo lên đến tầng ba, bước chân tôi bỗng khựng lại giữa hành lang hun hút gió lạnh.
Cánh cửa sắt màu xanh xám quen thuộc của căn hộ số ba mươi hai đóng chặt then cài. Ổ khóa kim loại lớn treo lơ lửng đã phủ một lớp bụi mờ dày cộm và rỉ sét hoen ố. Tôi vội vàng bước tới, đưa tay đập nhẹ lên cánh cửa sắt; tiếng kêu thình thịch vang lên khô khốc, trơ trọi giữa không gian im ắng như tờ.
- Cô Lâm ơi! Cô Lâm có nhà không ạ? Con là Mịch Thanh đây...
Không có tiếng bước chân lẹp xẹp của đôi dép lê quen thuộc. Cũng không có tiếng cằn nhằn ấm áp của người thầy già mỗi khi học trò đến muộn.
Đúng lúc ấy, cánh cửa gỗ của căn hộ đối diện khẽ cọt kẹt mở ra. Một bà cụ hàng xóm tóc bạc phơ chống gậy bước ra, nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên pha lẫn thương cảm:
- Cháu tìm huấn luyện viên Lâm sao? Bà ấy đã chuyển đi nơi khác từ hơn một năm trước rồi cháu ơi.
Trái tim tôi rơi tõm xuống đáy vực thẳm. Tôi run giọng hỏi dồn dập:
- Bà ơi, cô Lâm dọn đi đâu ạ? Số điện thoại cũ của cô cháu gọi mãi không được...
Bà cụ thở dài thắt thẻo:
- Sau khi giải nghệ sớm vì bệnh tim, sức khỏe của bà ấy suy sụp nhanh lắm, suốt ngày u uất nằm trong phòng chẳng buồn nói chuyện với ai. Hơn một năm trước, bà ấy lên cơn nhồi máu cơ tim thập tử nhất sinh, may mà được hàng xóm phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời. Sau đợt đó, con gái bà ấy ở dưới quê lên đón cả nhà đi nơi khác để tiện bề chăm sóc thuốc men rồi. Số điện thoại bàn ở đây cũng bị cắt từ dạo đó; đến tôi là hàng xóm mấy chục năm nay cũng chẳng biết gia đình bà ấy dọn về vùng quê nào nữa.
Từng lời từng chữ của bà lão hàng xóm như những nhát búa giáng thẳng vào lồng ngực tôi. Cơn gió bấc thốc qua khe cửa sổ hành lang làm sống lưng tôi lạnh ngắt.
Người thầy mà tôi kính trọng nhất, người từng coi tôi như con ruột và hy sinh cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp của tôi, cuối cùng lại phải rời bỏ mảnh đất này trong bệnh tật và cô đơn tột cùng. Tất cả những bi kịch ấy, suy cho cùng, đều bắt nguồn từ sự mù quáng của chính tôi bảy năm về trước. Tôi đã vì một người đàn ông vô tâm, vì một cuộc hôn nhân hào nhoáng giả tạo mà nhẫn tâm vứt bỏ tấm vé tham dự Thế vận hội, dập tắt ngọn lửa thiêng liêng mà người thầy đã dày công gìn giữ suốt nửa đời người.
Tôi quỳ sụp một bên gối xuống nền xi măng lạnh buốt trước cánh cửa sắt đóng kín. Bàn tay tôi run lẩy bẩy rút ra cuốn sổ tay nhỏ cùng chiếc bút mực trong túi áo. Dưới ánh chiều tà ảm đạm, tôi nắn nót viết từng dòng chữ thấm đẫm ân hận và nước mắt:
Thưa cô kính yêu, con là Mịch Thanh đây ạ. Con đã sai rồi... Bảy năm qua con sống trong u mê tăm tối, con có tội lớn với sự dạy dỗ và kỳ vọng của cô. Hôm nay con quay về đây, chỉ mong được quỳ dưới chân cô để nói một lời tạ lỗi muộn màng. Con để lại số điện thoại cá nhân và địa chỉ liên lạc mới của con tại Kinh Châu ở phía dưới. Con cầu xin cô, nếu một ngày nào đó cô trở về chốn xưa, xin cô hãy liên lạc lại với con, cho đứa học trò bất hiếu này được chuộc lại một phần lỗi lầm năm cũ...
Tôi cẩn thận gấp mảnh giấy lại làm tư, run rẩy nhét sâu qua khe hở hẹp dưới chân cánh cửa sắt han gỉ. Nhìn mảnh giấy trắng nằm im lìm trên nền nhà phủ bụi mờ bên trong, khóe mắt tôi cay xè. Tôi biết niềm hy vọng này vô cùng mong manh như sợi tơ trước gió, nhưng đó là điểm tựa duy nhất để tâm hồn rách nát của tôi không sụp đổ hoàn toàn.
Sáng sớm hôm sau, tôi dẫn Đảng Nhạn ra sân bay Giang Thành để đáp chuyến bay sớm trở lại Kinh Châu.
Đây là lần đầu tiên trong đời cô bé mười ba tuổi được bước chân vào một nhà ga hàng không rộng lớn. Nhìn những tòa nhà kính cao ngút ngàn, tiếng loa thông báo vang vọng khắp nơi và dòng người hối hả qua lại, Đảng Nhạn sợ hãi nép sát vào người tôi, bàn tay nhỏ thó nắm chặt lấy gấu áo khoác của tôi không rời nửa bước. Bộ quần áo thể thao màu xanh thẫm mới tinh mà tôi mua cho em tối qua trông vẫn rộng thùng thình; thân hình còi cọc, đen nhẻm của cô bé khiến bất kỳ ai nhìn vào cũng lầm tưởng em chỉ là một đứa trẻ lên chín lên mười, chẳng ai dám tin em sắp bước sang tuổi mười bốn.
Khi chiếc máy bay gầm rú lao vút lên bầu trời, vượt qua những tầng mây trắng xám để tiến vào không trung bao la, nỗi sợ hãi bên trong cô bé dường như bùng nổ đến đỉnh điểm.
Đảng Nhạn ngồi thu lu ở chiếc ghế cạnh cửa sổ. Thân hình bé nhỏ của em lọt thỏm giữa khoang ghế hành khách rộng rãi, thậm chí chưa chiếm nổi một nửa diện tích mặt nệm. Lưng em dán chặt vào thành ghế, cứng đờ như một khúc gỗ; đôi mắt mở to trừng trừng nhìn ra khoảng không hun hút ngoài khung cửa kính tròn, đồng tử giãn to vì kinh hãi.
Tiếng động cơ phản lực rít lên từng hồi ù ù bên tai khiến áp suất không khí thay đổi đột ngột. Và rồi, điều tôi lo lắng nhất cuối cùng cũng xuất hiện ngay trước mắt.
Hai cánh tay gầy guộc của Đảng Nhạn đặt trên đầu gối bắt đầu giật giật từng cơn. Ban đầu chỉ là sự rung lắc nhẹ nơi đầu ngón tay cái, nhưng chỉ vài giây sau, toàn bộ mười đầu ngón tay của cô bé bắt đầu run rẩy bần bật, run rẩy dữ dội ngoài tầm kiểm soát. Các khớp xương ngón tay trắng bệch ra vì cố sức bấu chặt vào lớp vải quần thể thao, gân xanh nổi chằng chịt trên mu bàn tay khẳng khiu. Hơi thở của em trở nên dồn dập, đứt quãng, lồng ngực phập phồng gấp gáp như một người đang chới với giữa dòng nước xiết mà không tìm thấy phao cứu sinh.
Đó chính là phản xạ ám ảnh tâm lý - tàn tích nghiệt ngã của những ngày tháng bị sỉ vả và ruồng bỏ ở đội tuyển tỉnh năm xưa. Ký ức về những cú ngã đau đớn từ bục nhảy ba mét, những ánh nhìn thất vọng của ban huấn luyện và cánh cổng sắt lạnh lùng của trung tâm thể thao đóng sập lại trước mắt đang quay về bóp nghẹt buồng phổi của em. Em sợ hãi chiếc máy bay này; em sợ hãi thành phố Kinh Châu xa lạ; và trên hết, em sợ rằng mình sẽ lại thất bại một lần nữa, sợ rằng người phụ nữ đang ngồi bên cạnh cũng sẽ lắc đầu chán chường rồi vứt bỏ em lại bên lề đường như cách người ta từng làm.
Thấy cô bé run rẩy đến mức bờ môi bắt đầu tím tái, tim tôi nhói buốt như có ai bóp nghẹt. Tôi hiểu rất rõ rằng, đối với một đứa trẻ mang tâm hồn thương tổn sâu sắc như Đảng Nhạn, bất kỳ một lời trách móc, gặng hỏi hay kỳ vọng nặng nề nào vào lúc này cũng sẽ trở thành giọt nước tràn ly phá nát chút dũng khí ít ỏi còn sót lại trong em.
Tôi không nói một lời nào về bài kiểm tra sát hạch sắp tới. Tôi cũng không nhắc lại những kỹ thuật nhảy cầu hay ánh hào quang huy chương của quá khứ.
Tôi khẽ nghiêng người qua lối đi hẹp, vươn bàn tay ấm áp của mình nhẹ nhàng phủ lên đôi bàn tay đang run rẩy co giật của em. Lòng bàn tay tôi thô ráp, mang theo những vết chai sần dày cộm tích tụ qua hơn mười năm bám trụ trên bục nhảy thể thao chuyên nghiệp. Tôi dùng trọn vẹn sự dịu dàng và kiên định của mình, từng chút một siết nhẹ lấy những ngón tay khẳng khiu, lạnh ngắt của đứa trẻ tội nghiệp.
Hơi ấm từ bàn tay tôi chầm chậm lan tỏa qua từng thớ da thịt buốt giá. Tôi ghé sát đầu lại gần em, cất giọng thủ thỉ, êm ái như tiếng ru của người mẹ vỗ về con thơ giữa cơn ác mộng:
- Đừng sợ, có cô ở đây rồi. Con có đói bụng không? Hay là con thấy khát nước? Để cô xin cô tiếp viên hàng không một ly nước ấm và một chiếc bánh ngọt nhỏ cho con lót dạ nhé?
Sự ân cần đột ngột ấy khiến cả người Đảng Nhạn khẽ giật bắn lên một cái.
Cô bé ngơ ngác quay đầu lại, ngước nhìn tôi bằng đôi mắt đen láy đã ầng ậc nước mắt. Đôi bờ môi mỏng manh của em run rẩy kịch liệt, cổ họng nghẹn ứ lại như muốn vỡ òa, nhưng em vẫn cố gắng cắn chặt môi để ngăn không cho tiếng khóc bật ra thành tiếng. Em sợ làm phiền người khác, sợ bản thân trở nên phiền phức trong mắt tôi.
Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má gầy guộc đen nhẻm, rơi xuống mu bàn tay của tôi. Đảng Nhạn lắc đầu quầy quậy, giọng nói nghẹn ngào, đứt quãng như từng nhịp thở yếu ớt:
- Dạ... con không đói đâu ạ... con cũng không khát nước đâu cô... Cô Giang ơi, cô đưa con đến Kinh Châu là để con được tiếp tục tập nhảy cầu thật sao cô? Con... con xin thề với cô, con nhất định sẽ ngoan ngoãn nghe lời cô dặn... Con không sợ khổ, không sợ đau, con sẽ tập luyện ngày đêm... Xin cô... xin cô đừng bao giờ bỏ rơi con...
Từng lời hứa ngây thơ, từng câu van nài khẩn thiết của đứa trẻ mười ba tuổi như những mũi kim đâm thấu vào tim can tôi.
Cùng là một đứa trẻ, nhưng Mạnh Dư Nhạc sống trong nhung lụa ngập tràn thì coi thường mồ hôi nước mắt của mẹ, sẵn sàng đạp đổ niềm đam mê để chạy theo thói hưởng lạc phù phiếm; trong khi đứa trẻ cơ nhỡ trước mặt tôi đây, dù toàn thân run rẩy vì sợ hãi, dù mang trên mình trăm ngàn vết thương lòng, vẫn khát khao đến cháy bỏng được đứng trên bục nhảy để tìm lại ánh sáng cho cuộc đời mình.
Tôi siết chặt bàn tay Đảng Nhạn hơn nữa, đôi mắt tôi đỏ hoe nhưng ánh nhìn kiên định như một tảng đá ngầm giữa biển khơi. Tôi nhìn thẳng vào mắt em, gằn từng tiếng rành rọt:
- Cô hứa với con. Chỉ cần con không tự mình bỏ cuộc, thì dù trời có sập xuống, cô cũng tuyệt đối không bao giờ buông tay con!
Nghe được lời cam kết ấy, đôi bàn tay của Đảng Nhạn trong lòng bàn tay tôi dần bớt run rẩy. Em khẽ gật đầu, nép sát đầu vào bờ vai tôi, tìm kiếm một bến đỗ bình yên sau bao năm tháng lênh đênh giữa dòng đời giông bão.
Đúng lúc đó, tiếng chuông thông báo trên khoang máy bay vang lên một tiếng ngân nga trong trẻo, kèm theo giọng đọc trầm ấm của cơ trưởng qua hệ thống loa phát thanh:
- Kính thưa quý khách, máy bay của chúng ta đang bắt đầu hạ độ cao để chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay quốc tế Kinh Châu. Nhiệt độ ngoài trời hiện tại là mười hai độ, thời tiết có gió lớn và mây mù bao phủ...
Tôi đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ tròn. Phía dưới kia, vòm trời Kinh Châu đang dần hiện ra, xám xịt và nặng trĩu những dải mây đen vần vũ như một cơn bão lớn sắp sửa đổ bộ xuống mặt đất.
Thành phố Kinh Châu phồn hoa và tàn nhẫn đã ở ngay dưới chân chúng tôi. Nơi ấy, bài kiểm tra sát hạch khắt khe với ánh mắt soi mói của ban huấn luyện đang đợi sẵn; và nơi ấy, Mạnh Tề Hành, Mạnh Dư Nhạc cùng người phụ nữ Sở An vẫn đang sống trong sự cao ngạo của giới hào môn danh gia vọng tộc.
Một cuộc chiến mới chính thức bắt đầu; và tôi biết, ngọn lửa mà tôi vừa thắp lại trong lòng đứa trẻ này sẽ phải đối mặt với những cơn sóng dữ dữ dội nhất của cuộc đời.
Tiếng chuông điện thoại trong túi áo khoác rung lên từng hồi bần bật, phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch dưới tán cây long não già.
Tôi rút máy ra, nhìn dãy số máy bàn lạ hoắc hiện lên trên màn hình rồi bấm nút nghe. Âm thanh rè rè của đường truyền cách xa hàng ngàn cây số vang lên bên tai, kèm theo đó là giọng nói đều đều nhưng không giấu nổi sự sốt ruột của người đàn ông ở đầu dây bên kia:
- Xin hỏi, có phải phụ huynh của cháu Mạnh Dư Nhạc đó không ạ? Tôi là nhân viên quản lý học vụ tại Trung tâm bơi lặn và nhảy cầu thanh thiếu niên Kinh Châu.
Tôi đứng tựa lưng vào lan can sắt rỉ sét của viện phúc lợi, khẽ thở dài một tiếng rồi bình thản đáp:
- Vâng, tôi là Giang Mịch Thanh, mẹ của cháu. Có chuyện gì xảy ra với Dư Nhạc sao anh?
Đầu dây bên kia như trút được gánh nặng, giọng điệu lập tức trở nên dồn dập:
- May quá, cuối cùng cũng liên lạc được với chị. Chúng tôi gọi điện để thông báo tình hình học tập của cháu. Đã ba tuần liên tiếp trôi qua, cháu Dư Nhạc không hề xuất hiện tại hồ bơi. Các buổi rèn luyện thể lực cơ bản và kỹ thuật tiếp nước bục ba mét cháu đều bỏ trắng. Hôm nay đã là hạn chót của kỳ bảo lưu; nếu gia đình vẫn không đưa cháu đến điểm danh, trung tâm chúng tôi buộc phải hủy tư cách học viên theo đúng quy chế đào tạo của thành phố.
Người nhân viên ngập ngừng một thoáng, giọng chùng xuống như thăm dò:
- Chị Giang à, trước đó chị đã thanh toán trọn gói toàn bộ học phí cho cả khóa huấn luyện nâng cao kéo dài một năm. Số tiền này rất lớn, nhưng theo hợp đồng cam kết ban đầu, nếu học viên tự ý bỏ ngang giữa chừng mà không có lý do bất khả kháng, trung tâm chúng tôi sẽ không thể hoàn trả lại bất kỳ khoản phí nào đâu ạ.
Lồng ngực tôi thắt lại, một cảm giác nghẹn đắng trào dâng nơi cuống họng.
Học phí không hoàn lại ư? Đối với gia tộc hào môn nhà họ Mạnh, số tiền học phí ấy chẳng qua chỉ bằng một bữa tiệc rượu hay một món đồ trang sức mà Mạnh Tề Hành mua tặng người khác. Điều khiến tim tôi đau nhói không phải là tiền bạc, mà là sự phản bội của chính đứa con trai ruột thịt mà tôi từng dứt ruột đẻ ra.
Ký ức của một năm về trước bỗng chốc ùa về rõ mồn một. Đó là một buổi chiều nắng nhạt, tôi ngồi trong phòng khách xem lại cuốn băng ghi hình trận chung kết Olympic môn nhảy cầu mười mét nữ năm xưa. Khi chứng kiến khoảnh khắc tôi tung người xoay ba vòng rưỡi trên không trung rồi cắm thẳng xuống mặt nước phẳng lặng như gương, Mạnh Dư Nhạc lúc đó mới tròn năm tuổi đã nhảy cẫng lên. Thằng bé ôm chầm lấy cổ tôi, đôi mắt tròn xoe lấp lánh sự ngưỡng mộ vô bờ, bi bô nói từng lời ngây thơ:
- Mẹ ơi, lớn lên con cũng muốn được bay lượn trên không trung như mẹ. Con muốn trở thành nhà vô địch dũng cảm giống hệt mẹ.
Chính vì câu nói non nớt ấy, tôi đã gạt bỏ bao mệt mỏi, dốc cạn tâm can tìm kiếm những huấn luyện viên giỏi nhất, đăng ký cho con vào trung tâm đào tạo thể thao hàng đầu tại Kinh Châu. Tôi nâng niu bàn chân con, kiên nhẫn uốn nắn từng ngón tay, lau từng giọt mồ hôi ướt đẫm lưng áo sau mỗi buổi tập ép dẻo đau đớn.
Thế nhưng, sự kiên trì của một đứa trẻ được nuông chiều trong nhung lụa chẳng kéo dài nổi một năm trời. Dư Nhạc bắt đầu chán nản những bài tập thể lực khô khan; thằng bé sợ những vết bầm tím trên da thịt khi tiếp nước sai tư thế; nó ghét cả mùi thuốc khử trùng nồng nặc nơi bể bơi. Và rồi, khi Sở An xuất hiện với chiếc váy lụa thướt tha, mang theo những lời đường mật và những tấm vé xem triển lãm nghệ thuật lộng lẫy, Dư Nhạc đã không chút do dự quay lưng lại với tôi. Thằng bé chê bai mẹ ruột nghiêm khắc, chê bai bộ môn nhảy cầu nhọc nhằn, hồ hởi chạy theo vòng tay người phụ nữ khác để được làm một cậu ấm sống an nhàn trong nhung lụa.
Tôi hít sâu một hơi, để luồng không khí lành lạnh của buổi sớm Giang Thành tràn vào lồng ngực, cuốn trôi đi chút tàn dư cay đắng cuối cùng. Giọng tôi vang lên qua ống nghe, dứt khoát và lạnh lùng:
- Cảm ơn anh đã thông báo; nhưng tôi và ba của cháu Mạnh Dư Nhạc đã chính thức ly hôn. Hiện tại, tôi đã rời khỏi nhà họ Mạnh và không còn quyền giám hộ trực tiếp đối với cháu nữa. Lát nữa tôi sẽ gửi số điện thoại cá nhân của anh Mạnh Tề Hành cho anh; mọi quyết định liên quan đến việc học hay thôi học của Dư Nhạc, xin trung tâm cứ làm việc thẳng với anh ấy.
Người nhân viên ở đầu dây bên kia thảng thốt kêu lên một tiếng kinh ngạc. Anh ta ấp úng định nói thêm điều gì đó, nhưng tôi đã đưa mắt nhìn sang bên cạnh.
Cách tôi vài bước chân, dưới bóng râm của cây long não xào xạc, cô bé Đảng Nhạn đang đứng nép mình bên bồn hoa xi măng cũ kỹ. Cô bé mặc chiếc áo cộc tay đã ngả màu cháo lòng, hai bờ vai gầy trơ xương hơi co lại vì gió lạnh. Đôi mắt đen láy to tròn của em cứ chăm chú dõi theo từng cử chỉ của tôi, vừa khao khát, vừa e dè như một chú chim non sợ hãi bị xua đuổi.
Một tia sáng lóe lên trong tâm trí tôi, dập tắt hoàn toàn sự u uất vừa nhen nhóm. Tôi lập tức cất giọng hỏi người nhân viên:
- Khoan đã, anh cho tôi hỏi thêm một việc. Suất tập luyện chuyên nghiệp kèm theo gói học phí đó, liệu tôi có thể làm thủ tục chuyển nhượng cho một đứa trẻ khác được không?
Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, dường như người quản lý đang lục tìm các điều khoản quy định trong sổ sách nội bộ. Sau một hồi ngập ngừng, anh ta chậm rãi trả lời:
- Về mặt nguyên tắc thì trung tâm có chính sách hỗ trợ chuyển nhượng suất tập nếu gia đình học viên có hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, đối tượng tiếp nhận bắt buộc phải trải qua một bài kiểm tra sát hạch chuyên môn trực tiếp. Ban huấn luyện sẽ đánh giá toàn diện về thể lực, tỷ lệ cơ thể và cảm giác không gian; chỉ khi đạt đủ điểm tiêu chuẩn thì suất tập đó mới chính thức có hiệu lực.
Khóe môi tôi khẽ cong lên một nụ cười nhẹ nhõm. Tôi nhớ lại hình ảnh cô bé mười ba tuổi này ban nãy, khi em đứng bên mép hồ bơi cạn nước của viện phúc lợi, thực hiện động tác vươn tay ép lườn chuẩn xác từng ly từng tí. Đứa trẻ này từng được tuyển thẳng vào đội tuyển bơi lặn của tỉnh; tài năng thiên bẩm của em là điều không ai có thể phủ nhận, thứ duy nhất từng đánh gục em chỉ là vết thương tâm lý mà thôi.
Tôi gật đầu, quả quyết đáp:
- Được, quy định thế nào tôi xin tuân thủ đúng như thế. Trong vòng vài ngày tới, tôi sẽ trực tiếp đưa người đến trung tâm tại Kinh Châu để tham gia sát hạch. Còn bây giờ, tôi sẽ nhắn số của Mạnh Tề Hành qua cho anh ngay.
Sau khi dập máy, tôi đứng lặng dưới bóng cây, nhìn đứa trẻ khốn khổ trước mặt. Khi ấy, tôi chưa thể lường hết được rằng quyết định bộc phát trong một buổi sáng mùa đông này sẽ làm đảo lộn hoàn toàn quỹ đạo cuộc đời của hai cô trò, kéo theo bao nhiêu sóng gió chực chờ phía trước.
Hai ngày tiếp theo tại Giang Thành trôi qua trong guồng quay hối hả của những thủ tục giấy tờ.
Việc giải quyết thủ tục bảo trợ cho Đảng Nhạn tại Viện phúc lợi Giang Thành diễn ra thuận lợi hơn nhiều so với dự tính ban đầu của tôi. Khi tôi bước vào phòng làm việc của ban giám đốc, trình ra tấm thẻ căn cước công dân cùng những chứng nhận danh hiệu thể thao quốc gia năm xưa, viện trưởng - một phụ nữ trung niên với mái tóc hoa râm và ánh nhìn hiền hậu - đã không giấu nổi sự xúc động.
Bà viện trưởng nắm chặt lấy đôi bàn tay tôi, giọng run run kể lại ngọn ngành quá khứ của cô bé tội nghiệp. Đảng Nhạn mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi mới lên tám tuổi sau một vụ tai nạn giao thông thảm khốc; em được đưa vào viện phúc lợi này lớn lên trong sự thiếu thốn tình thương gia đình. Năm mười một tuổi, trong một lần chuyên gia bơi lội của tỉnh về rà soát mầm non thể thao, Đảng Nhạn đã lọt vào mắt xanh của các huấn luyện viên nhờ sải tay dài khác thường, các khớp xương dẻo dai và cảm giác nước tuyệt vời.
Em được tuyển thẳng vào đội tuyển năng khiếu của tỉnh, trở thành niềm hy vọng lớn nhất của cả viện phúc lợi. Thế nhưng, môi trường tập luyện khắc nghiệt, sự kỳ vọng quá lớn cùng nỗi ám ảnh kinh hoàng về việc bị bỏ rơi đã đè nặng lên bờ vai bé nhỏ. Cứ mỗi lần bước lên bục nhảy thi đấu trước hàng ngàn khán giả và tiếng còi thúc giục, toàn thân Đảng Nhạn lại co giật từng cơn; mười đầu ngón tay em run rẩy mất kiểm soát đến mức không thể bấm chặt ngón chân vào mép ván nhảy. Sau ba lần liên tiếp mắc lỗi kỹ thuật và ngã sấp mặt xuống nước vì hoảng loạn, ban huấn luyện đội tuyển tỉnh đã lắc đầu thở dài, ký quyết định trả em về lại viện phúc lợi với kết luận lạnh lùng: mắc hội chứng rối loạn lo âu thi đấu nặng nề, không có tố chất tâm lý để trở thành vận động viên đỉnh cao.
Bản kết luận nghiệt ngã ấy giống như một nhát dao tước đoạt đi đôi cánh vừa chớm nở của cô bé. Kể từ ngày trở về, Đảng Nhạn sống thu mình lại như một chiếc bóng cô độc giữa sân viện; em không dám tiếp xúc với ai, chỉ biết lén lút ra bờ hồ cũ kỹ tập luyện những động tác không trọng lượng trong bóng tối mịt mùng.
- Con bé yêu nhảy cầu hơn cả sinh mạng của mình, cô Giang à... - Giám đốc viện phúc lợi nghẹn ngào lau giọt nước mắt nơi khóe mi, nhìn qua khung cửa sổ về phía cô bé đang đứng đợi ngoài hành lang - Chỉ là con bé quá tự ti và sợ hãi; nó luôn nghĩ rằng bản thân là kẻ vô dụng, là gánh nặng bị người ta vứt bỏ. Nếu cô có thể dang rộng vòng tay đón nhận và cho con bé thêm một cơ hội, cả viện phúc lợi này sẽ mang ơn cô suốt đời.
Nghe những lời tâm can ấy, mắt tôi cay xè. Tôi lập tức đặt bút ký vào các văn bản bảo trợ pháp lý, cam kết chu cấp toàn bộ chi phí sinh hoạt, học tập và rèn luyện thể thao chuyên nghiệp cho Đảng Nhạn. Nhìn con dấu đỏ tươi in đậm trên mặt giấy trắng, tôi thầm tự nhủ: tôi sẽ không để đứa trẻ này phải chịu thêm bất kỳ tổn thương nào nữa.
Sau khi hoàn tất thủ tục ở viện phúc lợi, tôi dành buổi chiều muộn cuối cùng ở Giang Thành để đi tìm một người - người mà suốt bảy năm qua tôi không dám đối diện vì nỗi cắn rứt lương tâm.
Tôi bắt một chuyến xe buýt cũ kỹ chạy dọc theo con đường rợp bóng cây xà cừ dẫn về khu tập thể ngành thể dục thể thao cũ trên đường Hữu Nghị. Từng bậc cầu thang xi măng nứt nẻ, từng mảng vôi tường bong tróc bám đầy rêu xanh đều in đậm dấu chân của tôi thời niên thiếu. Nơi đây từng là mái ấm của huấn luyện viên Lâm Ngọc - người thầy tận tụy đã dành trọn cả cuộc đời để nhào nặn nên một Giang Mịch Thanh vô địch Olympic.
Thế nhưng, khi tôi leo lên đến tầng ba, bước chân tôi bỗng khựng lại giữa hành lang hun hút gió lạnh.
Cánh cửa sắt màu xanh xám quen thuộc của căn hộ số ba mươi hai đóng chặt then cài. Ổ khóa kim loại lớn treo lơ lửng đã phủ một lớp bụi mờ dày cộm và rỉ sét hoen ố. Tôi vội vàng bước tới, đưa tay đập nhẹ lên cánh cửa sắt; tiếng kêu thình thịch vang lên khô khốc, trơ trọi giữa không gian im ắng như tờ.
- Cô Lâm ơi! Cô Lâm có nhà không ạ? Con là Mịch Thanh đây...
Không có tiếng bước chân lẹp xẹp của đôi dép lê quen thuộc. Cũng không có tiếng cằn nhằn ấm áp của người thầy già mỗi khi học trò đến muộn.
Đúng lúc ấy, cánh cửa gỗ của căn hộ đối diện khẽ cọt kẹt mở ra. Một bà cụ hàng xóm tóc bạc phơ chống gậy bước ra, nhìn tôi với ánh mắt ngạc nhiên pha lẫn thương cảm:
- Cháu tìm huấn luyện viên Lâm sao? Bà ấy đã chuyển đi nơi khác từ hơn một năm trước rồi cháu ơi.
Trái tim tôi rơi tõm xuống đáy vực thẳm. Tôi run giọng hỏi dồn dập:
- Bà ơi, cô Lâm dọn đi đâu ạ? Số điện thoại cũ của cô cháu gọi mãi không được...
Bà cụ thở dài thắt thẻo:
- Sau khi giải nghệ sớm vì bệnh tim, sức khỏe của bà ấy suy sụp nhanh lắm, suốt ngày u uất nằm trong phòng chẳng buồn nói chuyện với ai. Hơn một năm trước, bà ấy lên cơn nhồi máu cơ tim thập tử nhất sinh, may mà được hàng xóm phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời. Sau đợt đó, con gái bà ấy ở dưới quê lên đón cả nhà đi nơi khác để tiện bề chăm sóc thuốc men rồi. Số điện thoại bàn ở đây cũng bị cắt từ dạo đó; đến tôi là hàng xóm mấy chục năm nay cũng chẳng biết gia đình bà ấy dọn về vùng quê nào nữa.
Từng lời từng chữ của bà lão hàng xóm như những nhát búa giáng thẳng vào lồng ngực tôi. Cơn gió bấc thốc qua khe cửa sổ hành lang làm sống lưng tôi lạnh ngắt.
Người thầy mà tôi kính trọng nhất, người từng coi tôi như con ruột và hy sinh cả tuổi thanh xuân cho sự nghiệp của tôi, cuối cùng lại phải rời bỏ mảnh đất này trong bệnh tật và cô đơn tột cùng. Tất cả những bi kịch ấy, suy cho cùng, đều bắt nguồn từ sự mù quáng của chính tôi bảy năm về trước. Tôi đã vì một người đàn ông vô tâm, vì một cuộc hôn nhân hào nhoáng giả tạo mà nhẫn tâm vứt bỏ tấm vé tham dự Thế vận hội, dập tắt ngọn lửa thiêng liêng mà người thầy đã dày công gìn giữ suốt nửa đời người.
Tôi quỳ sụp một bên gối xuống nền xi măng lạnh buốt trước cánh cửa sắt đóng kín. Bàn tay tôi run lẩy bẩy rút ra cuốn sổ tay nhỏ cùng chiếc bút mực trong túi áo. Dưới ánh chiều tà ảm đạm, tôi nắn nót viết từng dòng chữ thấm đẫm ân hận và nước mắt:
Thưa cô kính yêu, con là Mịch Thanh đây ạ. Con đã sai rồi... Bảy năm qua con sống trong u mê tăm tối, con có tội lớn với sự dạy dỗ và kỳ vọng của cô. Hôm nay con quay về đây, chỉ mong được quỳ dưới chân cô để nói một lời tạ lỗi muộn màng. Con để lại số điện thoại cá nhân và địa chỉ liên lạc mới của con tại Kinh Châu ở phía dưới. Con cầu xin cô, nếu một ngày nào đó cô trở về chốn xưa, xin cô hãy liên lạc lại với con, cho đứa học trò bất hiếu này được chuộc lại một phần lỗi lầm năm cũ...
Tôi cẩn thận gấp mảnh giấy lại làm tư, run rẩy nhét sâu qua khe hở hẹp dưới chân cánh cửa sắt han gỉ. Nhìn mảnh giấy trắng nằm im lìm trên nền nhà phủ bụi mờ bên trong, khóe mắt tôi cay xè. Tôi biết niềm hy vọng này vô cùng mong manh như sợi tơ trước gió, nhưng đó là điểm tựa duy nhất để tâm hồn rách nát của tôi không sụp đổ hoàn toàn.
Sáng sớm hôm sau, tôi dẫn Đảng Nhạn ra sân bay Giang Thành để đáp chuyến bay sớm trở lại Kinh Châu.
Đây là lần đầu tiên trong đời cô bé mười ba tuổi được bước chân vào một nhà ga hàng không rộng lớn. Nhìn những tòa nhà kính cao ngút ngàn, tiếng loa thông báo vang vọng khắp nơi và dòng người hối hả qua lại, Đảng Nhạn sợ hãi nép sát vào người tôi, bàn tay nhỏ thó nắm chặt lấy gấu áo khoác của tôi không rời nửa bước. Bộ quần áo thể thao màu xanh thẫm mới tinh mà tôi mua cho em tối qua trông vẫn rộng thùng thình; thân hình còi cọc, đen nhẻm của cô bé khiến bất kỳ ai nhìn vào cũng lầm tưởng em chỉ là một đứa trẻ lên chín lên mười, chẳng ai dám tin em sắp bước sang tuổi mười bốn.
Khi chiếc máy bay gầm rú lao vút lên bầu trời, vượt qua những tầng mây trắng xám để tiến vào không trung bao la, nỗi sợ hãi bên trong cô bé dường như bùng nổ đến đỉnh điểm.
Đảng Nhạn ngồi thu lu ở chiếc ghế cạnh cửa sổ. Thân hình bé nhỏ của em lọt thỏm giữa khoang ghế hành khách rộng rãi, thậm chí chưa chiếm nổi một nửa diện tích mặt nệm. Lưng em dán chặt vào thành ghế, cứng đờ như một khúc gỗ; đôi mắt mở to trừng trừng nhìn ra khoảng không hun hút ngoài khung cửa kính tròn, đồng tử giãn to vì kinh hãi.
Tiếng động cơ phản lực rít lên từng hồi ù ù bên tai khiến áp suất không khí thay đổi đột ngột. Và rồi, điều tôi lo lắng nhất cuối cùng cũng xuất hiện ngay trước mắt.
Hai cánh tay gầy guộc của Đảng Nhạn đặt trên đầu gối bắt đầu giật giật từng cơn. Ban đầu chỉ là sự rung lắc nhẹ nơi đầu ngón tay cái, nhưng chỉ vài giây sau, toàn bộ mười đầu ngón tay của cô bé bắt đầu run rẩy bần bật, run rẩy dữ dội ngoài tầm kiểm soát. Các khớp xương ngón tay trắng bệch ra vì cố sức bấu chặt vào lớp vải quần thể thao, gân xanh nổi chằng chịt trên mu bàn tay khẳng khiu. Hơi thở của em trở nên dồn dập, đứt quãng, lồng ngực phập phồng gấp gáp như một người đang chới với giữa dòng nước xiết mà không tìm thấy phao cứu sinh.
Đó chính là phản xạ ám ảnh tâm lý - tàn tích nghiệt ngã của những ngày tháng bị sỉ vả và ruồng bỏ ở đội tuyển tỉnh năm xưa. Ký ức về những cú ngã đau đớn từ bục nhảy ba mét, những ánh nhìn thất vọng của ban huấn luyện và cánh cổng sắt lạnh lùng của trung tâm thể thao đóng sập lại trước mắt đang quay về bóp nghẹt buồng phổi của em. Em sợ hãi chiếc máy bay này; em sợ hãi thành phố Kinh Châu xa lạ; và trên hết, em sợ rằng mình sẽ lại thất bại một lần nữa, sợ rằng người phụ nữ đang ngồi bên cạnh cũng sẽ lắc đầu chán chường rồi vứt bỏ em lại bên lề đường như cách người ta từng làm.
Thấy cô bé run rẩy đến mức bờ môi bắt đầu tím tái, tim tôi nhói buốt như có ai bóp nghẹt. Tôi hiểu rất rõ rằng, đối với một đứa trẻ mang tâm hồn thương tổn sâu sắc như Đảng Nhạn, bất kỳ một lời trách móc, gặng hỏi hay kỳ vọng nặng nề nào vào lúc này cũng sẽ trở thành giọt nước tràn ly phá nát chút dũng khí ít ỏi còn sót lại trong em.
Tôi không nói một lời nào về bài kiểm tra sát hạch sắp tới. Tôi cũng không nhắc lại những kỹ thuật nhảy cầu hay ánh hào quang huy chương của quá khứ.
Tôi khẽ nghiêng người qua lối đi hẹp, vươn bàn tay ấm áp của mình nhẹ nhàng phủ lên đôi bàn tay đang run rẩy co giật của em. Lòng bàn tay tôi thô ráp, mang theo những vết chai sần dày cộm tích tụ qua hơn mười năm bám trụ trên bục nhảy thể thao chuyên nghiệp. Tôi dùng trọn vẹn sự dịu dàng và kiên định của mình, từng chút một siết nhẹ lấy những ngón tay khẳng khiu, lạnh ngắt của đứa trẻ tội nghiệp.
Hơi ấm từ bàn tay tôi chầm chậm lan tỏa qua từng thớ da thịt buốt giá. Tôi ghé sát đầu lại gần em, cất giọng thủ thỉ, êm ái như tiếng ru của người mẹ vỗ về con thơ giữa cơn ác mộng:
- Đừng sợ, có cô ở đây rồi. Con có đói bụng không? Hay là con thấy khát nước? Để cô xin cô tiếp viên hàng không một ly nước ấm và một chiếc bánh ngọt nhỏ cho con lót dạ nhé?
Sự ân cần đột ngột ấy khiến cả người Đảng Nhạn khẽ giật bắn lên một cái.
Cô bé ngơ ngác quay đầu lại, ngước nhìn tôi bằng đôi mắt đen láy đã ầng ậc nước mắt. Đôi bờ môi mỏng manh của em run rẩy kịch liệt, cổ họng nghẹn ứ lại như muốn vỡ òa, nhưng em vẫn cố gắng cắn chặt môi để ngăn không cho tiếng khóc bật ra thành tiếng. Em sợ làm phiền người khác, sợ bản thân trở nên phiền phức trong mắt tôi.
Một giọt nước mắt nóng hổi lăn dài trên gò má gầy guộc đen nhẻm, rơi xuống mu bàn tay của tôi. Đảng Nhạn lắc đầu quầy quậy, giọng nói nghẹn ngào, đứt quãng như từng nhịp thở yếu ớt:
- Dạ... con không đói đâu ạ... con cũng không khát nước đâu cô... Cô Giang ơi, cô đưa con đến Kinh Châu là để con được tiếp tục tập nhảy cầu thật sao cô? Con... con xin thề với cô, con nhất định sẽ ngoan ngoãn nghe lời cô dặn... Con không sợ khổ, không sợ đau, con sẽ tập luyện ngày đêm... Xin cô... xin cô đừng bao giờ bỏ rơi con...
Từng lời hứa ngây thơ, từng câu van nài khẩn thiết của đứa trẻ mười ba tuổi như những mũi kim đâm thấu vào tim can tôi.
Cùng là một đứa trẻ, nhưng Mạnh Dư Nhạc sống trong nhung lụa ngập tràn thì coi thường mồ hôi nước mắt của mẹ, sẵn sàng đạp đổ niềm đam mê để chạy theo thói hưởng lạc phù phiếm; trong khi đứa trẻ cơ nhỡ trước mặt tôi đây, dù toàn thân run rẩy vì sợ hãi, dù mang trên mình trăm ngàn vết thương lòng, vẫn khát khao đến cháy bỏng được đứng trên bục nhảy để tìm lại ánh sáng cho cuộc đời mình.
Tôi siết chặt bàn tay Đảng Nhạn hơn nữa, đôi mắt tôi đỏ hoe nhưng ánh nhìn kiên định như một tảng đá ngầm giữa biển khơi. Tôi nhìn thẳng vào mắt em, gằn từng tiếng rành rọt:
- Cô hứa với con. Chỉ cần con không tự mình bỏ cuộc, thì dù trời có sập xuống, cô cũng tuyệt đối không bao giờ buông tay con!
Nghe được lời cam kết ấy, đôi bàn tay của Đảng Nhạn trong lòng bàn tay tôi dần bớt run rẩy. Em khẽ gật đầu, nép sát đầu vào bờ vai tôi, tìm kiếm một bến đỗ bình yên sau bao năm tháng lênh đênh giữa dòng đời giông bão.
Đúng lúc đó, tiếng chuông thông báo trên khoang máy bay vang lên một tiếng ngân nga trong trẻo, kèm theo giọng đọc trầm ấm của cơ trưởng qua hệ thống loa phát thanh:
- Kính thưa quý khách, máy bay của chúng ta đang bắt đầu hạ độ cao để chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay quốc tế Kinh Châu. Nhiệt độ ngoài trời hiện tại là mười hai độ, thời tiết có gió lớn và mây mù bao phủ...
Tôi đưa mắt nhìn qua ô cửa sổ tròn. Phía dưới kia, vòm trời Kinh Châu đang dần hiện ra, xám xịt và nặng trĩu những dải mây đen vần vũ như một cơn bão lớn sắp sửa đổ bộ xuống mặt đất.
Thành phố Kinh Châu phồn hoa và tàn nhẫn đã ở ngay dưới chân chúng tôi. Nơi ấy, bài kiểm tra sát hạch khắt khe với ánh mắt soi mói của ban huấn luyện đang đợi sẵn; và nơi ấy, Mạnh Tề Hành, Mạnh Dư Nhạc cùng người phụ nữ Sở An vẫn đang sống trong sự cao ngạo của giới hào môn danh gia vọng tộc.
Một cuộc chiến mới chính thức bắt đầu; và tôi biết, ngọn lửa mà tôi vừa thắp lại trong lòng đứa trẻ này sẽ phải đối mặt với những cơn sóng dữ dữ dội nhất của cuộc đời.