Chương 9: Phía Sau Bức Rèm Khảo Sát Tấm Chồng
Gió thu se lạnh khẽ lướt qua rèm lụa trong phòng ngủ trang nhã của Tạ phu nhân, mang theo hương hoa quế thoang thoảng từ khu vườn sau nhà. Bên trong gian phòng tĩnh lặng, ánh nến lung linh hắt bóng hai mẹ con lên vách tường gỗ trầm mặc, tạo nên một khung cảnh ấm áp nhưng lại chất chứa muôn vàn âu lo. Tạ phu nhân khẽ xua tay ra hiệu cho toàn bộ nha hoàn thân cận lui ra ngoài, sau đó cẩn thận cài then cửa phòng lại rồi mới quay trở về mép giường. Bà đưa tay nắm lấy bàn tay mềm mại của ái nữ Tạ Phác, ánh mắt tràn ngập niềm xót xa cùng nỗi nghẹn ngào khó nói thành lời. Bà nhìn dung nhan thanh tú, đoan trang như hoa chớm nở của con gái mà cõi lòng quặn thắt như có ngàn mũi kim châm, bởi bà biết tương lai của đứa con này đang đứng trước một khúc quanh định mệnh vô cùng nghiệt ngã.
Tạ phu nhân khẽ thở dài một tiếng thật sâu, giọng nói nghẹn ngào đứt quãng trong bóng tối mờ ảo của gian phòng. Bà nhìn thẳng vào mắt con gái rồi cất lời tâm sự, từng chữ thốt ra đều mang nặng nỗi cay đắng của một người làm mẹ trước cơn gia biến. Bà bảo rằng cha con và bà đã suy nghĩ nát óc, trăn trở suốt bao nhiêu đêm ròng rã mới chọn ra được hai người trong số đám khất cái kia để tính chuyện chung thân. Bổn gia Tạ Nhượng lòng lang dạ thú muốn đem Tạ Phác cống nạp cho tướng giặc Hồ tộc để mưu cầu phú quý, trưởng bối Tạ Khánh thì đang bị giam lỏng ở hậu viện, mối nguy như lửa cháy ngang mày chẳng thể chần chừ thêm một khắc nào nữa. Mẫu thân không biết nên chọn ai cho con, sợ gả nhầm người khiến con phải chịu khổ một đời, cho nên hôm nay mới gọi con đến đây để tự mình nhìn ngắm và cân nhắc.
Tạ Phác khẽ ngẩng đầu nhìn mẫu thân, đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu thoáng hiện lên nét ngỡ ngàng rồi nhanh chóng chìm vào sự tĩnh lặng nhu mì. Nàng hiểu rõ tình cảnh hiểm nghèo của gia đình lúc này, hiểu rằng sự an nguy của bản thân nàng đang trực tiếp đe dọa đến tính mạng của cha mẹ và ấu đệ. Nàng thấy những giọt nước mắt lăn dài trên gò má gầy guộc của mẫu thân, cõi lòng dâng lên nỗi xót thương khôn xiết dành cho đấng sinh thành. Nàng khẽ nghiêng đầu tựa vào lồng ngực ấm áp của bà, vòng tay ôm lấy tấm lưng hao gầy của người mẹ hiền từ, để mặc cho những giọt lệ của bà rơi ướt đẫm mái tóc mây bồng bềnh của mình.
Từ thuở tấm bé cho đến tận ngày hôm nay, Tạ Phác được phụ mẫu nâng niu như ngọc quý trong tay, rất hiếm khi bước chân ra khỏi ngưỡng cửa Tạ phủ. Số lần nàng được ngắm nhìn phố xá náo nhiệt bên ngoài chỉ đếm được trên đầu ngón tay, thế giới bao la đối với nàng chỉ gói gọn trong khoảng sân nhỏ, trang sách cũ và những bức thêu dở dang bên khung cửa sổ. Nàng hoàn toàn xa lạ với những toan tính lọc lừa nơi nhân gian, lại càng không hiểu biết gì về thói đời ấm lạnh ngoài kia, cho nên đối với nàng lúc này, việc gả cho ai dường như cũng chẳng có gì khác biệt. Nàng khẽ cất giọng dịu dàng, từng lời thốt ra nhẹ tênh như một chiếc lá rơi nhưng lại kiên định đến lạ lùng, rằng cha mẹ đã vì nàng mà gánh chịu bao nhiêu hiểm nguy, nay mẫu thân muốn gả nàng cho ai thì nàng sẽ một lòng thuận theo người đó mà không một lời oán thán.
Nghe những lời hiếu thuận đến thắt lòng của con gái, Tạ phu nhân càng thêm nghẹn ngào, bàn tay khẽ vuốt ve mái tóc mượt mà của nàng. Bà lắc đầu quầy quậy, bảo rằng hôn nhân đại sự là chuyện hệ trọng cả đời của một nữ tử, tuyệt đối không thể phó mặc cho số phận trôi dạt như cánh bèo lục bình giữa dòng nước xiết. Dẫu gia đình rơi vào bước đường cùng phải chọn người hàn vi hạ tiện để tạo thành chuyện ván đã đóng thuyền, bà cũng nhất định phải để nàng tự mình chọn lấy người có thiện cảm nhất. Một lát nữa cha nàng sẽ gọi hai người kia vào phòng nghị sự để bàn việc, bà sẽ dắt nàng nấp sau bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải để quan sát thật kỹ diện mạo và phong thái của từng người, nếu thấy ai thuận mắt và hợp ý thì hãy nói nhỏ với bà để bà ra tay định đoạt.
Trong khi đó tại sương phòng phía tây của Tạ phủ, Chúc Hợp cùng các huynh đệ khất cái đang có những ngày tháng an nhàn, no đủ nhất kể từ khi lưu lạc đến vùng đất Bình Thành này. Không còn phải dầm mưa dãi nắng nơi đầu đường xó chợ, không còn phải lo lắng bữa đói bữa no hay tranh giành từng mẩu bánh thừa thối rữa, ai nấy đều được ăn no mặc ấm và có chỗ ngả lưng yên tĩnh mỗi khi đêm về. Khi một tên gia đinh bước vào thông báo rằng Tạ viên ngoại muốn mời Mã Đại và Chúc Hợp lập tức đến phòng nghị sự có việc cần bàn, Chúc Hợp không khỏi thoáng chút bất ngờ trong lòng. Hắn tự nhủ mấy ngày gần đây bản thân chỉ chú tâm giảng dạy đạo lý làm người và kiến thức canh nông cho tiểu thiếu gia Tạ Kì, chưa từng có nửa lời sai lệch hay hành vi nào quá phận, cớ sao gia chủ lại đột ngột triệu kiến hai người bọn hắn cùng một lúc.
Mã Đại vỗ mạnh vào bắp đùi rắn chắc của mình một cái thật kêu, cười ha hả bảo rằng chắc hẳn Tạ ân công lại muốn nhờ vả chuyện gì đó trên giang hồ hoặc có món ngon rượu quý muốn thết đãi hai huynh đệ. Chúc Hợp khẽ mỉm cười chỉnh lại vạt áo vải thô màu xanh đã được giặt giũ sạch sẽ, trong lòng lại âm thầm dâng lên một mối hoài nghi khó hiểu trước sự đường đột này. Hắn nhớ rõ trong ký ức kiếp trước mờ mịt của mình, khoảng thời gian này Tạ gia đang phải chịu áp lực khủng khiếp từ bổn gia ở kinh kỳ, và việc Tạ Thành giữ đám khất cái lại trong phủ chắc chắn không đơn thuần chỉ là vì lòng trắc ẩn cứu người. Hắn bước theo sau vóc dáng to lớn của Mã Đại, từng bước chân vững vàng tiến về phía phòng nghị sự trang nghiêm của Tạ phủ, nơi sắp diễn ra một màn kén rể bí mật mà hắn hoàn toàn không ngờ tới.
Phòng nghị sự của Tạ phủ rộng rãi và thoáng đãng, bàn ghế gỗ lim được lau chùi bóng loáng toát lên vẻ quyền quý, uy nghiêm của một gia đình cự phú bậc nhất vùng. Ở góc phía đông của căn phòng, một bức bình phong sáu tấm bằng gỗ tử đàn chạm khắc tinh xảo tích Bát Tiên Quá Hải đứng sừng sững, khéo léo ngăn cách một khoảng không gian nhỏ hẹp và kín đáo phía sau rèm thưa. Người đứng ở bên ngoài nhìn vào chỉ thấy những đường nét chạm khắc rồng phượng và sóng nước uốn lượn tầng tầng lớp lớp, hoàn toàn không thể thấy được bất kỳ bóng người nào ẩn nấp bên trong; thế nhưng người ngồi phía sau lại có thể dễ dàng phóng tầm mắt qua những khe hở li ti để quan sát toàn bộ mọi cử chỉ, hành động của những kẻ đang hiện diện nơi chính đường.
Tạ phu nhân nắm chặt lấy bàn tay có phần run rẩy của Tạ Phác, khẽ ra hiệu cho nàng giữ im lặng tuyệt đối khi nghe thấy tiếng bước chân dồn dập vang lên ngoài hành lang. Tạ Phác nín thở ghé sát đôi mắt trong trẻo vào khe hở nhỏ giữa hai tấm bình phong, cõi lòng đập liên hồi những nhịp đập bồn chồn, hoang mang xen lẫn chút tò mò của một thiếu nữ lần đầu trộm nhìn nam nhân xa lạ. Qua lớp gỗ chạm trổ hình tiên ông cưỡi sóng, nàng nhìn thấy thân ảnh quen thuộc của phụ thân đang ngồi uy nghi trên chiếc ghế bành bọc gấm, gương mặt ông đăm chiêu nghiêm nghị nhưng ánh mắt lại phảng phất nét mệt mỏi khôn nguôi sau bao ngày lo toan chống đỡ với sóng gió gia tộc.
Ngay sau đó, hai bóng người từ từ bước qua ngạch cửa phòng nghị sự, tạo nên một sự tương phản vô cùng rõ rệt khiến ánh mắt Tạ Phác lập tức bị thu hút mạnh mẽ. Người đi đầu chính là Mã Đại, hắn có thân hình vạm vỡ, lưng hùm vai gấu, nước da ngăm đen dày dạn sương gió cùng bộ râu quai nón rậm rạp toát lên vẻ phong trần bộc trực của một kẻ lăn lộn giang hồ. Từng bước đi của Mã Đại nặng trịch, hai cánh tay buông thõng đung đưa tự nhiên, phong thái ngạo nghễ không chút e dè sợ sệt trước sự xa hoa của gian phòng phú quý. Trong khi đó, người đi phía sau lại là một thanh niên thư sinh có dáng dấp mảnh khảnh, bước đi khoan thai nhẹ nhàng như làn gió thoảng đầu mùa, toàn thân toát lên một luồng khí chất nho nhã, thanh tao khác hẳn với thân phận bần hàn hiện tại.
Chúc Hợp bước vào phòng với vẻ cung kính nhưng không hề khúm núm, đôi mắt sáng trong tựa vì sao đêm và gương mặt khôi ngô tuấn tú nổi bật dưới ánh sáng ban ngày. Dù trên người chỉ khoác tấm áo vải thô màu xanh đạm bạc, hắn vẫn giữ được phong thái ung dung tự tại của một bậc văn nhân đọc sách thánh hiền, lưng thẳng như cành trúc trước gió đông. Tạ Phác nấp sau bức bình phong nhìn chằm chằm vào người thanh niên ấy, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác rung động kỳ lạ khó gọi thành tên. Đứng cạnh một Mã Đại cao to lực lưỡng như hộ pháp đền chùa, Chúc Hợp trông có phần nhỏ bé và thỉnh thoảng còn bị thân hình đồ sộ của đại ca che khuất tầm nhìn, thế nhưng khí chất đĩnh đạc toát ra từ người hắn lại khiến người khác không tài nào rời mắt được.
Tạ Thành đưa tay vuốt chòm râu hoa râm, cất giọng trầm ấm mời hai người ngồi xuống hai chiếc ghế gỗ đặt đối diện với bàn trà của mình. Mã Đại không hề khách sáo, hắn cười hề hề rồi thả phịch thân hình đồ sộ xuống chiếc ghế bên phải, chiếc ghế gỗ lim vững chãi khẽ rung lên một tiếng cọt kẹt dưới sức nặng của hắn. Chúc Hợp thì ngược lại, hắn cẩn thận cúi đầu vái chào gia chủ theo đúng lễ nghi của kẻ hậu bối, sau đó mới nhẹ nhàng vén vạt áo ngồi xuống chiếc ghế bên trái, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, lưng giữ thẳng tắp không một chút nghiêng lệch. Sự khác biệt một trời một vực trong từng cử chỉ nhỏ nhặt ấy càng làm nổi bật lên tính cách của hai người, khiến cho người quan sát sau rèm thưa càng nhìn càng thấy rõ ràng tâm tính.
Khi hai người đã an tọa, vị trí trong gian phòng khách lập tức có sự chuyển biến rõ rệt đối với tầm nhìn của người ngồi sau bình phong. Mã Đại ngồi quay nửa lưng về phía bức chạm khắc Bát Tiên Quá Hải, chỉ để lộ ra tấm lưng bè bè thô ráp và góc nghiêng của khuôn mặt rậm râu; trong khi đó, Chúc Hợp lại ngồi đối diện chéo góc, gương mặt thanh tú cùng toàn bộ biểu cảm trên dung mạo của hắn đều hiện lên vô cùng rõ ràng trước mắt Tạ Phác. Tạ Phác trời sinh có trí nhớ phi phàm, bất kỳ sự vật hay con người nào nàng từng gặp qua một lần đều được khắc sâu vào tâm khảm khó lòng phai nhạt. Nhìn thật kỹ vào những đường nét cương nghị nơi sống mũi cao vút và vầng trán rộng của người thanh niên áo xanh, trong tâm trí nàng bất chợt lóe lên một hình ảnh xưa cũ tưởng chừng đã bị bụi thời gian chôn vùi.
Đó là một buổi chiều mùa đông lạnh thấu xương của mấy năm về trước, khi tuyết trắng phủ đầy khắp các mái ngói và góc phố tiêu điều của trấn nhỏ. Khi cỗ xe ngựa của Tạ phủ dừng lại bên góc tường thành đổ nát, qua tấm rèm xe khẽ hé mở, nàng đã nhìn thấy một thiếu niên khất cái co ro trong manh áo rách tả tơi, đôi môi thâm tím vì lạnh nhưng ánh mắt lại quật cường không chịu khuất phục trước nghịch cảnh. Khi nàng sai tiểu nha hoàn mang chiếc bánh hoa quế còn ấm nóng đến tặng, thiếu niên ấy đã đón lấy chiếc bánh bằng hai bàn tay run rẩy, rồi ngẩng đầu nhìn về phía cỗ xe ngựa bằng một ánh mắt vừa ngỡ ngàng vừa chan chứa lòng biết ơn sâu sắc. Dung mạo của chàng thiếu niên gầy gò năm ấy dần dần trùng khớp với người thư sinh nho nhã đang ngồi đĩnh đạc trước mắt nàng lúc này, khiến trái tim Tạ Phác đập thình thịch vì sự trùng hợp kỳ diệu của số phận.
Nàng khẽ cắn nhẹ vành môi dưới, thầm nhủ người này quả nhiên chính là chàng khất cái từng nhận chiếc bánh hoa quế năm xưa. Nhìn phong thái nho nhã nhẹ nhàng và cốt cách trầm ổn của hắn bây giờ, thật khó mà tưởng tượng nổi hắn đã từng phải trải qua những tháng ngày ăn xin khổ ải đầu đường xó chợ. Tạ phu nhân ngồi bên cạnh khẽ liếc nhìn con gái, bà tinh ý nhận thấy ánh mắt của Tạ Phác đã dừng lại trên người Chúc Hợp suốt một lúc lâu mà không hề rời đi, đôi gò má trắng ngần của nàng bắt đầu ửng lên những ráng hồng thẹn thùng như cánh hoa đào mùa xuân. Tạ phu nhân thầm gật đầu hài lòng, trong lòng bà cũng không khỏi thầm khen ngợi dung mạo tuấn tú khôi ngô của Chúc Hợp, quả thực rất thuận mắt và xứng đôi vừa lứa với con gái cưng của bà hơn hẳn một Mã Đại thô kệch kia.
Trong gian phòng nghị sự, Tạ Thành bắt đầu cất tiếng hỏi han về tình hình ăn ở của đám khất cái trong những ngày vừa qua tại hậu viện. Mã Đại hào sảng cất giọng sang sảng đáp lời, khoe rằng huynh đệ ai nấy đều vô cùng cảm kích ân đức của Tạ lão gia, cơm no ba bữa áo ấm cả ngày chẳng còn mong mỏi gì hơn. Tạ Thành khẽ gật đầu, sau đó chuyển hướng câu chuyện sang việc học hành của ấu tử Tạ Kì, dò hỏi Chúc Hợp xem việc truyền thụ kinh thư tiến triển ra sao. Chúc Hợp từ tốn thưa gửi, từng lời nói nhả ra đều gãy gọn, thấu tình đạt lý, phân tích rõ ràng phương pháp dạy học lấy sự hiểu biết thực tế làm gốc chứ không bắt ép đứa trẻ phải học vẹt từng câu chữ cứng nhắc trong sách vở.
Thế nhưng ngay giữa lúc cuộc trò chuyện đang diễn ra êm đẹp, Chúc Hợp bỗng nhiên cảm thấy một luồng cảm giác kỳ lạ chạy dọc sống lưng, giống như có một ánh mắt vô hình nào đó đang chăm chú dõi theo từng cử chỉ của mình từ một góc khuất. Giác quan nhạy bén của một người từng trải qua hai kiếp người khiến hắn không thể phớt lờ đi sự xao động mong manh ấy trong không khí. Hắn bất chợt ngừng lời, khẽ nghiêng đầu đưa ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng về phía bức bình phong sáu tấm bằng gỗ tử đàn đang dựng đứng ở góc phòng. Ánh mắt hắn xuyên qua khoảng không gian tĩnh lặng, dừng lại trên những hoa văn chạm trổ Bát Tiên Quá Hải, chất chứa bên trong một nỗi niềm phức tạp khôn nguôi, vừa có sự hoài niệm sâu thẳm, vừa có nét bàng hoàng ngơ ngác như đang tìm kiếm một hình bóng quen thuộc từ tiền kiếp.
Tạ Phác đang ghé sát mắt nhìn qua khe hở bình phong, bỗng nhiên thấy Chúc Hợp quay phắt đầu lại nhìn thẳng về phía mình, nàng như bị một luồng điện vô hình chạy dọc khắp toàn thân khiến tim giật thót một cái. Dẫu biết rõ bức bình phong gỗ dày dặn này có thể che chắn hoàn toàn bóng dáng của mình và người bên ngoài tuyệt đối không thể nhìn xuyên qua được, nhưng ánh mắt sâu thẳm và tha thiết như chạm thẳng vào tâm can của Chúc Hợp vẫn khiến nàng hoảng hốt vội vã cúi gằm mặt xuống để trốn tránh. Bàn tay nàng run rẩy túm chặt lấy vạt áo lụa của mẫu thân, lồng ngực phập phồng những nhịp thở dồn dập, trong lòng dâng lên một cảm giác vừa thẹn thùng vừa hoang mang khó tả trước sự thần giao cách cảm kỳ lạ giữa hai người.
Sáu tấm gỗ tử đàn dày cộp chạm khắc tích Bát Tiên Quá Hải tuy che kín hoàn toàn thân ảnh mảnh mai của Tạ Phác, nhưng linh cảm mãnh liệt trong lòng Chúc Hợp lại mách bảo chắc chắn rằng phía sau bức bình phong kia đang có người ẩn nấp. Hắn ngây người nhìn chằm chằm vào khoảng không gian ấy, trong đầu chợt hiện lên hình bóng dịu dàng đoan trang của người thê tử kiếp trước, khiến tâm trí hắn bỗng chốc rơi vào cõi mộng mị xa xăm mà quên mất bản thân đang ngồi đàm đạo trước mặt gia chủ. Mã Đại thấy Chúc Hợp tự nhiên im bặt rồi nhìn chằm chằm vào bức bình phong vô tri vô giác, bèn cất tiếng gọi lớn vài ba câu nhưng Chúc Hợp vẫn như người mất hồn không hề hay biết.
Mãi đến khi Mã Đại đưa bàn tay hộ pháp vỗ mạnh một cái vào bả vai của hắn, Chúc Hợp mới giật mình hoàn hồn trở lại thực tại, vội vàng chớp mắt chỉnh lại tư thế ngồi. Hắn đưa mắt nhìn lên thì thấy sắc mặt của vị nhạc phụ tương lai Tạ Thành đã sa sầm xuống, đôi lông mày hoa râm nhíu chặt lại lộ rõ vẻ không hài lòng tột độ. Trong mắt Tạ Thành, việc một kẻ hàn vi đang nói chuyện với gia chủ mà lại dám thất thần lơ đãng nhìn đi nơi khác là một biểu hiện của sự thất lễ, thiếu tôn trọng và không có định lực của một bậc trượng phu. Chúc Hợp vội vàng chắp tay tạ lỗi vì sự thất thố của mình, nhưng trong lòng Tạ Thành đã thầm trừ đi của hắn vài phần hảo cảm, cảm thấy tên tiểu tử này dẫu có tài chữ nghĩa nhưng tâm tính dường như vẫn còn quá bồng bột và thiếu sự chín chắn.
Cuộc trò chuyện sau đó diễn ra một cách gượng gạo thêm một tuần trà nữa rồi Tạ Thành phất tay cho hai người lui ra ngoài. Trong khi đó ở phía sau bức bình phong, Tạ phu nhân đã khẽ kéo tay con gái dẫn nàng men theo lối cửa ngách bí mật để quay trở về hậu viện, tránh chạm mặt với đám người nơi tiền đường. Vừa bước chân vào trong gian khuê phòng quen thuộc thoang thoảng mùi trầm hương, Tạ phu nhân liền cho lui hết hạ nhân ra ngoài canh cửa, sau đó kéo Tạ Phác ngồi xuống bên mép sập gụ. Bà nhìn thẳng vào khuôn mặt vẫn còn vương chút ráng hồng bối rối của con gái, khẽ mỉm cười dịu dàng rồi cất tiếng hỏi han xem sau khi tận mắt quan sát hai người, trong lòng nàng đã có ý ưng thuận ai hơn hay chưa.
Tạ Phác ngập ngừng mân mê dải lụa thêu hoa trước ngực, đôi mắt rủ xuống giấu đi những xao động đang cuộn trào trong đáy mắt. Nàng nhớ lại từng khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng đầy ấn tượng vừa diễn ra nơi phòng nghị sự, nhớ lại dáng vẻ bộc trực có phần lỗ mãng của Mã Đại và phong thái nho nhã đĩnh đạc của Chúc Hợp. Nếu phải đặt hai người lên bàn cân để chọn lấy một người gửi gắm tấm thân bồ liễu, thì không nghi ngờ gì nữa, trái tim nàng đã hoàn toàn nghiêng về phía người thanh niên họ Chúc kia. Đặc biệt là khoảnh khắc Chúc Hợp bất chợt quay đầu nhìn về phía bình phong, ánh mắt chất chứa biết bao nỗi niềm u uẩn, vừa ngơ ngác lại vừa chan chứa ân tình của hắn đã in sâu vào tâm trí nàng như một vết khắc không thể xóa nhòa.
Nàng cảm thấy giữa mình và người thanh niên xa lạ ấy dường như có một sợi dây tơ duyên vô hình nào đó đã được buộc chặt từ kiếp nào, tạo nên một cảm giác thân thuộc đến nao lòng mà chính nàng cũng không sao giải thích nổi. Thấy con gái cứ cúi đầu im lặng thật lâu không đáp, Tạ phu nhân liền nhẹ nhàng gợi mở, cất giọng ướm hỏi xem nàng nghĩ thế nào về Chúc Hợp. Nghe mẫu thân nhắc thẳng đến cái tên ấy, đôi gò má Tạ Phác càng thêm đỏ ửng như ráng chiều, nàng bối rối lí nhí thưa rằng bản thân thực sự không biết phải nói sao cho phải, bởi nàng chưa từng tiếp xúc hay trò chuyện trực tiếp với hắn bao giờ.
Thế nhưng dù Tạ Phác có cố gắng che giấu bằng những lời lẽ ngập ngừng bẽn lẽn, thì từng biến chuyển nhỏ nhất trên nét mặt cùng ánh mắt rạng ngời của nàng cũng không thể nào qua mắt được một người mẹ từng trải như Tạ phu nhân. Tạ phu nhân nở một nụ cười ấm áp đầy thấu hiểu, đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay mềm mại của ái nữ, ôn tồn bảo rằng nàng không cần phải lo lắng hay vội vã quyết định ngay lúc này. Bà dặn nàng cứ bình tâm suy nghĩ cho thật thấu đáo, chỉ cần trong lòng nàng có chút thiện cảm với ai thì người làm mẹ như bà nhất định sẽ dốc hết tâm lực để tác thành cho nàng có được một bến đỗ bình yên nhất có thể.
Ở một diễn biến khác, sau khi rời khỏi phòng nghị sự của Tạ phủ, Mã Đại và Chúc Hợp cùng nhau rảo bước trên con đường lát đá xanh dẫn về sương phòng phía tây. Mã Đại vừa đi vừa gãi gãi đầu, vẻ mặt đầy thắc mắc bèn huých cùi chỏ vào sườn Chúc Hợp rồi cất giọng hỏi lớn xem hắn có đoán được vì sao hôm nay Tạ ân công lại tự nhiên gọi hai huynh đệ đến đàm đạo những chuyện vặt vãnh như vậy hay không. Chúc Hợp lúc này vẫn còn đang đắm chìm trong dòng suy tưởng miên man, tâm trí hắn như bị giam cầm trong khoảnh khắc giao cảm ánh mắt kỳ lạ ban nãy nơi phòng khách. Cảm giác quen thuộc đến thắt lòng ấy cứ quanh quẩn trong tâm trí hắn không dứt, tựa như một ánh mắt dịu dàng từ ngàn năm trước đang dõi theo từng bước chân lưu lạc của hắn giữa chốn hồng trần.
Một suy nghĩ táo bạo bỗng nhiên lóe lên trong đầu Chúc Hợp khiến toàn thân hắn bất giác run rẩy vì kinh ngạc. Hắn tự nhủ phía sau bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải kia, ngoài Tạ phu nhân và nàng ra thì còn có thể là ai vào đây nữa. Chẳng lẽ Tạ lão gia gọi hai người bọn hắn đến không phải để bàn việc thường ngày, mà là để cho người ngồi sau rèm thưa khảo sát, kén chọn rể hiền nhằm tìm cách gả gấp Tạ Phác đi để tránh tai họa từ bổn gia. Nhận thức được điều đó, Chúc Hợp không khỏi thảng thốt tự trách bản thân sao lại quá đỗi ngu ngốc và vụng về đến thế. Một cơ hội bằng vàng ngàn năm có một để ghi điểm trước mặt thê tử kiếp trước và nhạc phụ tương lai, vậy mà hắn lại để bản thân thất thần ngơ ngác đến mức khiến cho Tạ Thành phải cau mày bực bội.
Mã Đại thấy người đệ đệ bên cạnh cứ lơ đễnh như người mất hồn bèn vỗ bôm bốp vào vai hắn trêu chọc, hỏi xem có phải hôm nay hắn bị trúng gió độc hay không mà hồn vía cứ bay bổng lên tận mây xanh suốt từ nãy đến giờ. Chúc Hợp khẽ gượng cười lắc đầu đáp lại rằng bản thân chỉ đang suy nghĩ vài chuyện quan trọng về việc dạy học cho tiểu thiếu gia mà thôi. Mã Đại lập tức cười ha hả khoác vai hắn thật thân thiết, bảo rằng nghe đám gia nhân trong phủ kháo nhau rằng hai thầy trò Chúc tiên sinh gần đây tâm đầu ý hợp, dạy dỗ đâu ra đấy khiến cho cả phủ ai nấy đều nể phục tài năng chữ nghĩa của hắn, thật không uổng công ngày trước huynh đệ cùng nhau chia ngọt sẻ bùi nơi xó chợ.
Khi màn đêm buông xuống bao trùm lên toàn bộ Tạ phủ, bóng tối tĩnh mịch dường như càng làm cho bầu không khí trong phòng ngủ của vợ chồng Tạ Thành thêm phần căng thẳng, ngột ngạt. Dưới ánh đèn dầu leo lét hắt bóng hai người lên bức vách, một cuộc tranh luận nảy lửa và gay gắt chưa từng có đã nổ ra giữa hai vợ chồng gia chủ về chuyện chung thân đại sự của Tạ Phác. Dựa vào những gì đã quan sát và biểu hiện của hai ứng viên vào ban ngày, Tạ Thành kiên quyết giữ vững quan điểm muốn gả con gái cho Mã Đại. Ông đập tay xuống mặt bàn trà gỗ, trầm giọng phân tích rằng Mã Đại là người bộc trực, tính tình hào sảng trượng nghĩa, lại có uy tín rất cao trong đám giang hồ khất cái lưu lạc; gả Tạ Phác cho một người như vậy thì dẫu sau này có xảy ra biến cố loạn lạc lớn, Mã Đại cũng có đủ sức mạnh cơ bắp và sự liều lĩnh để liều mạng bảo bọc cho nàng chu toàn.
Ngược lại, Tạ phu nhân vừa nghe phu quân nhắc đến ý định gả con gái rượu cho Mã Đại thì lập tức biến sắc, giận dữ đứng bật dậy kịch liệt phản đối đến cùng. Bà nhìn thẳng vào mặt trượng phu, đôi mắt rưng rưng nhưng giọng nói lại đanh thép lạ thường, bảo rằng Tạ Thành chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt mà không thèm nghĩ đến hạnh phúc cả đời của con gái. Mã Đại dẫu có trượng nghĩa đến đâu thì bản chất vẫn là một kẻ thô lậu, chữ nghĩa không biết một bẻ đôi, ăn nói cộc cằn lỗ mãng thì làm sao có thể hòa hợp tâm hồn với một tiểu thư khuê các từ nhỏ đã quen ngâm thơ vịnh nguyệt như Tạ Phác. Bà khẳng định rằng Chúc Hợp mới là sự lựa chọn hoàn hảo nhất, bởi hắn đọc sách thánh hiền, hiểu biết sâu rộng, cử chỉ nho nhã đĩnh đạc, lại có dung mạo khôi ngô tuấn tú, sau này hai vợ chồng mới có thể tương kính như tân, nâng khăn sửa túi cho nhau một cách êm ấm.
Tạ Thành vuốt râu thở dài một hơi đầy vẻ bất lực, cố gắng giải thích rằng Chúc Hợp tuy thông minh đĩnh ngộ nhưng lại mắc cái tật mồm mép lanh lợi, hay nói những chuyện viển vông to tát vượt quá tầm hiểu biết của kẻ bần hàn khiến ông cảm thấy không an tâm. Hơn nữa hôm nay ở phòng nghị sự, tiểu tử họ Chúc kia còn dám thất thần nhìn trộm lung tung, tâm tính dường như không đủ trầm ổn để làm chỗ dựa vững chắc cho gia đình giữa thời loạn lạc. Thế nhưng Tạ phu nhân lại một mực bác bỏ mọi lý lẽ của phu quân, bà tung ra con bài quyết định cuối cùng rằng chính mắt bà đã nhìn thấy Tạ Phác có hảo cảm đặc biệt với Chúc Hợp, ánh mắt con bé nhìn hắn hoàn toàn khác hẳn với khi nhìn Mã Đại, và khi bà gặng hỏi thì nàng đã ngầm ưng thuận mối lương duyên này.
Nghe đến việc ái nữ đã tự mình lựa chọn Chúc Hợp, Tạ Thành bỗng chốc nghẹn lời, mọi sự phản kháng và lý lẽ sắc bén trong đầu ông phút chốc tan biến thành mây khói. Là người đứng đầu một gia tộc cự phú nhiều năm qua, việc lớn việc nhỏ trong phủ xưa nay đều do một tay ông định đoạt, nhưng đối với những chuyện liên quan đến hạnh phúc và tâm can của vợ con thì ông chưa bao giờ là người độc đoán chuyên quyền. Tạ Thành hiểu rất rõ tính khí của phu nhân, một khi bà đã hạ quyết tâm bảo vệ điều gì thì dẫu có trời sập đất lở cũng khó lòng lay chuyển nổi. Nhìn ánh mắt kiên định xen lẫn nỗi van nài của người vợ đã cùng mình đồng cam cộng khổ bao năm qua, Tạ Thành đành buông một tiếng thở dài thườn thượt, gật đầu chấp nhận từ bỏ ý định chọn Mã Đại để chiều theo ý nguyện của hai mẹ con.
Trong khi đó ở sương phòng phía tây, Chúc Hợp nằm trằn trọc trên chiếc giường gỗ thô sơ suốt cả một đêm dài mà không tài nào chợp mắt nổi. Từng mảnh ghép rời rạc trong những ngày qua dần dần được hắn xâu chuỗi lại một cách logic và rõ ràng trong tâm trí: từ việc Tạ Thành giữ đám khất cái lại trong phủ, tin tức gia biến từ bổn gia Tạ Nhượng, việc thử thách hắn dạy học cho Tạ Kì, cho đến sự xuất hiện đầy bí ẩn của bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải vào ban sáng. Hắn hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm rằng người nấp sau bức bình phong kia chính là Tạ Phác, và gia đình Tạ Thành đang ráo riết tìm cách gả nàng cho một kẻ hàn vi để tạo thành chuyện ván đã đóng thuyền nhằm thoát khỏi nanh vuốt của giặc Hồ. Nghĩ đến việc bản thân suýt chút nữa đã làm hỏng đại sự vì một phút lơ đễnh, Chúc Hợp lại càng thêm bồn chồn, thầm tự nhủ ngày mai nhất định phải tìm mọi cách xoay chuyển càn khôn nếu có cơ hội.
Đúng như những gì Chúc Hợp đã dự liệu, sáng sớm ngày hôm sau khi những tia nắng bình minh đầu tiên vừa le lói qua kẽ lá, một tên gia đinh thân cận của Tạ Thành đã lặng lẽ tìm đến tận sương phòng, thì thầm truyền đạt lời nhắn rằng gia chủ muốn mời riêng một mình Chúc tiên sinh đến thư phòng bàn việc kín. Nhận được lời mời triệu kiến riêng biệt này, trái tim Chúc Hợp như muốn nhảy múa rộn ràng trong lồng ngực vì một niềm vui sướng khôn tả xiết. Hắn biết rõ suy đoán của mình đã hoàn toàn chính xác, việc Tạ Thành không gọi Mã Đại mà chỉ gọi riêng một mình hắn chứng tỏ cán cân lựa chọn của gia chủ đã nghiêng hẳn về phía hắn. Hắn vội vàng rửa mặt bằng nước lạnh cho thật tỉnh táo, chỉnh đốn lại y phục chỉnh tề rồi theo chân tên gia đinh rảo bước tiến về phía thư phòng tĩnh mịch ở hậu viện.
Bước qua cánh cửa gỗ lim của thư phòng, Chúc Hợp ngửi thấy mùi mực nho quyện lẫn hương trầm dịu nhẹ thoang thoảng trong không gian. Tạ Thành đang ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn đọc sách rộng lớn, trên bàn bày la liệt những sổ sách điền sản và nghiên mực cổ bằng đá đoan thạch. Nhìn thấy Chúc Hợp bước vào, sắc mặt Tạ Thành lộ rõ vẻ nghiêm nghị khác hẳn với sự cởi mở thường ngày, đôi mắt chim ưng sắc sảo không ngừng đánh giá từng cử chỉ của người thanh niên trẻ tuổi. Chúc Hợp bước lên phía trước ba bước, cung kính cúi rạp người hành lễ theo đúng quy củ của bậc hậu sinh diện kiến tiền bối, thần sắc nghiêm chỉnh, đĩnh đạc và toát lên vẻ trang trọng tuyệt đối khiến Tạ Thành trong lòng khẽ gật đầu khen ngợi.
Tạ Thành đưa tay chỉ vào chiếc ghế đối diện, cất giọng trầm thấp bảo hắn ngồi xuống rồi bắt đầu cuộc tra hỏi cặn kẽ để làm rõ nguồn gốc lai lịch của người thanh niên này. Ông vuốt chòm râu hoa râm, đôi mắt nheo lại quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt của Chúc Hợp, cất tiếng hỏi rằng trước đây nghe nói quê cũ của Chúc tiên sinh ở vùng Thượng Dã xa xôi, vậy gia cảnh thuở trước ra sao và người thân ruột thịt trong nhà hiện tại còn những ai. Đây là câu hỏi then chốt đầu tiên mang tính sống còn, bởi một gia đình danh môn phú hào như Tạ thị dẫu có rơi vào nghịch cảnh hiểm nghèo đến đâu cũng tuyệt đối không thể gả con gái cho một kẻ lai lịch bất minh hoặc có dính líu đến những mối ân oán nguy hiểm nơi chốn quan trường.
Chúc Hợp sớm đã lường trước câu hỏi này từ đêm hôm trước, hắn khẽ cúi đầu lộ rõ vẻ mặt đau xót ngậm ngùi, giọng nói trầm xuống nghẹn ngào như gợi lại một quá khứ đầy bi thương. Hắn cất lời thưa rằng phụ mẫu của hắn bạc mệnh qua đời từ sớm, bản thân hắn từ nhỏ đã theo cha sống cuộc đời ẩn dật nơi thâm sơn cùng cốc xa lánh bụi trần, nay chỉ còn lại một thân một mình phiêu bạt giữa chốn nhân gian gió bụi. Tạ Thành nghe vậy liền gặng hỏi thêm xem hắn có còn thân thích, họ hàng thân cận nào ở quê cũ hay không. Chúc Hợp liền khéo léo dệt nên một câu chuyện hoàn mỹ không một kẽ hở, kể rằng gia đình hắn bao đời nay vốn giữ nếp thanh bần ẩn cư nơi rừng sâu, khi phụ thân tạ thế cách đây tròn ba năm, hắn đã làm tròn chữ hiếu của đạo làm con bằng cách dựng một am cỏ đơn sơ ngay bên cạnh phần mộ của cha để sớm hôm hương khói, giữ trọn đạo hiếu đủ ba năm ròng rã mới chịu xuống núi.
Hắn giải thích tiếp rằng trong suốt ba năm hắn ẩn cư giữ hiếu nơi rừng sâu cách biệt với thế giới bên ngoài, thiên hạ liên tục xảy ra những biến cố binh đao loạn lạc tàn khốc, các thế lực ngoại tộc tràn vào cướp phá khiến cho xóm làng tan tác, thân thích họ hàng đều phiêu dạt khắp bốn phương trời chẳng còn tin tức gì. Khi hắn mãn tang bước chân xuống núi tìm kiếm người thân thì quê hương cũ đã thành bình địa hoang tàn, bản thân hắn không một xu dính túi, lại chẳng có họ hàng nương tựa nên đành phải hòa vào dòng người lưu dân khất thực kiếm miếng ăn sống qua ngày, may mắn thay nhờ trời thương mới dạt được đến vùng đất Bình Thành này và được Tạ ân công cứu mạng. Câu chuyện ngụy tạo về việc ẩn cư giữ hiếu ba năm không chỉ giải thích một cách vô cùng hợp lý việc tại sao hắn có cốt cách nho nhã và học vấn uyên thâm của một bậc danh sĩ nhưng lại phải đi ăn xin, mà còn khéo léo chứng minh cho Tạ Thành thấy hắn là một con người chí hiếu, có nhân phẩm đạo đức cao đẹp đáng để tin cậy.
Tạ Thành nghe xong câu chuyện thì ánh mắt sắc bén ban đầu dần dần giãn ra, thay vào đó là sự xúc động và cảm phục trước tấm lòng hiếu thảo hiếm có của một người con giữa thời buổi loạn lạc suy đồi này. Ông gật đầu liên hồi, cất tiếng hỏi thêm xem người thầy đã chỉ dạy cho hắn những kiến thức uyên bác về kinh thư và canh nông kia rốt cuộc là bậc cao nhân phương nào. Chúc Hợp điềm đạm đáp rằng mọi chữ nghĩa và đạo lý làm người hắn có được ngày hôm nay đều do một tay phụ thân lúc sinh thời đích thân truyền thụ lại. Khi Tạ Thành tò mò gặng hỏi về danh hào của bậc hiền phụ tài ba ấy, Chúc Hợp liền thở dài thưa rằng phụ thân hắn cả đời lánh đời tu tâm, xem nhẹ danh lợi phù phiếm nơi hồng trần nên chưa từng bao giờ nhắc đến tên tuổi hay chức tước bên ngoài trước mặt con cái.
Nhìn thấy sự điềm đạm và đối đáp trôi chảy không một vết gợn của Chúc Hợp, Tạ Thành hoàn toàn bị thuyết phục và dẹp bỏ được mọi mối nghi ngờ cuối cùng trong lòng. Ông hắng giọng một tiếng, đặt chén trà xuống bàn rồi nhìn thẳng vào mắt Chúc Hợp, đi thẳng vào vấn đề cốt lõi nhất của buổi gặp gỡ hôm nay bằng một câu hỏi nghiêm túc, rằng phụ thân hắn lúc sinh thời đã từng chỉ định hôn thê hay hứa hôn cho hắn với mối nhân duyên nào hay chưa. Chúc Hợp nghe đến đây thì trong lòng mừng thầm như mở cờ, hắn lập tức ngẩng cao đầu, ánh mắt trong sáng nhìn thẳng vào vị nhạc phụ tương lai, quả quyết thưa rằng bản thân cả đời chỉ biết đèn sách và phụng dưỡng cha mẹ, tuyệt đối chưa từng có bất kỳ hôn ước hay vướng bận tình cảm với bất kỳ nữ tử nào trên cõi đời này.
Không để Chúc Hợp phải chờ đợi thêm một khắc nào nữa, Tạ Thành lập tức khoát tay, ánh mắt bỗng chốc trở nên vô cùng kiên định và dứt khoát lạ thường. Ông cất giọng hỏi thẳng thừng, từng chữ vang lên rõ mồn một trong không gian tĩnh mịch của thư phòng, rằng cậu có bằng lòng cưới con gái Tạ Phác của ta làm thê tử hay không. Dẫu cho từ đêm qua Chúc Hợp đã suy đoán và chuẩn bị sẵn tâm lý cho tình huống này hàng trăm lần, nhưng khi tận tai nghe thấy chính miệng Tạ Thành thốt ra lời đề nghị gả con gái, toàn thân hắn vẫn không khỏi chấn động mãnh liệt như bị sét đánh ngang tai, một cảm giác hạnh phúc tột cùng trào dâng khiến sống mũi hắn cay xè và hai mắt ngấn lệ.
Cơ hội tái sinh ngàn năm có một để bù đắp cho người thê tử kiếp trước cuối cùng đã thành hiện thực ngay trước mắt chàng. Chúc Hợp không một chút chần chừ do dự, hắn lập tức rời khỏi ghế ngồi, quỳ sụp xuống nền đá hoa cương mát lạnh, dập đầu hành một đại lễ tạ ơn vô cùng trang trọng trước mặt Tạ Thành. Giọng nói của hắn vang lên dõng dạc, nghẹn ngào nhưng tràn đầy sự kiên định sắt son, rằng vãn bối một kẻ bần hàn trôi dạt được ân công rủ lòng thương nhìn trúng là phúc phận to lớn ngút trời mà ba đời tu nhân tích đức mới có được, vãn bối xin dập đầu bái tạ đại ân đại đức của ân công đã thành toàn cho mối nhân duyên này.
Thấy Chúc Hợp đồng ý nhanh như chớp giật mà không cần nửa khắc suy nghĩ hay làm bộ khiêm tốn từ chối như những kẻ hủ nho thông thường, Tạ Thành không khỏi thoáng chút ngỡ ngàng, sững sờ mất một lúc mới định thần lại được. Thế nhưng lời của bậc trưởng bối gia chủ một khi đã thốt ra khỏi miệng thì như tên đã bắn khỏi cung, tuyệt đối không thể nào rút lại được nữa. Tạ Thành nhìn người thanh niên đang quỳ mọp dưới chân mình, trong lòng vừa có chút buồn cười lại vừa dâng lên nỗi bùi ngùi xót xa cho số phận của con gái rượu, đành buông một tiếng thở dài thật khẽ rồi đưa tay đỡ hắn dậy, miệng cất lời gọi một tiếng con rể đầy miễn cưỡng.
Tạ Thành kéo Chúc Hợp đứng thẳng dậy, sắc mặt trở nên vô cùng nghiêm nghị khi bắt đầu dặn dò những điều hệ trọng liên quan đến cuộc hôn nhân chớp nhoáng này. Ông trầm giọng bảo rằng tình hình gia cảnh hiểm nghèo lúc này chắc hẳn Chúc Hợp cũng đã lờ mờ đoán được phần nào, thế lực của bổn gia đang rình rập ngoài kia như hổ đói rình mồi, cho nên ông dự định sẽ tổ chức hôn lễ thật khẩn trương chỉ trong vòng ba ngày tới để biến mọi sự thành ván đã đóng thuyền. Ông sẽ chuẩn bị chu tất mọi khế ước ruộng đất màu mỡ cùng một lượng lớn ngân lượng vàng bạc coi như của hồi môn trao riêng cho hai vợ chồng, để sau này dẫu có xảy ra bất kỳ biến cố phong ba nào thì con gái ông cũng có đủ sản nghiệp tự chủ mà sống một đời an nhàn sung túc.
Nói đến đây, đôi mắt Tạ Thành bỗng lóe lên một tia sắc lạnh đầy uy quyền của một người cha sẵn sàng liều mạng để che chở cho giọt máu của mình. Ông nhìn chằm chằm vào mặt Chúc Hợp, cất giọng đe nẹt đầy nghiêm khắc rằng Tạ Phác là bảo bối mà vợ chồng ông nâng niu như ngọc quý từ thuở lọt lòng, nếu sau này thành thân rồi mà Chúc Hợp dám cậy tài khinh bạc, ức hiếp hay để cho nàng phải chịu nửa phần ấm ức, tủi hờn thì dẫu có phải đuổi cùng giết tận đến chân trời góc bể, ông cũng nhất định sẽ không bao giờ tha thứ cho hắn. Lời cảnh cáo đanh thép ấy vang vọng trong thư phòng như một lời thề sắt đá của tình phụ tử thiêng liêng.
Trước sự đe nẹt nghiêm khắc của vị nhạc phụ tương lai, Chúc Hợp không những không hề sợ hãi hay nao núng, mà trái lại trong lòng hắn càng thêm kính trọng và biết ơn tấm lòng thương con vô bờ bến của Tạ Thành. Hắn ngẩng cao đầu, ánh mắt sáng ngời tràn đầy sự chân thành tuyệt đối, lập tức thay đổi cách xưng hô một cách vô cùng tự nhiên và dõng dạc. Hắn chắp tay cung kính thưa rằng nhạc phụ xin hãy rộng lòng yên tâm, con rể xin lấy tính mạng và danh dự của cả đời mình ra thề thốt trước hương linh tổ tiên, rằng con sẽ toàn tâm toàn ý yêu thương, trân trọng và bảo bọc nàng suốt cả cuộc đời này, tuyệt đối không bao giờ để nàng phải chịu một chút thiệt thòi hay rơi một giọt nước mắt ấm ức nào.
Nhìn thấy vẻ mặt hớn hở, tràn ngập niềm vui sướng rạng rỡ của Chúc Hợp cùng cái miệng lanh lợi đổi xưng hô ngọt xớt thành nhạc phụ nhanh như gió thoảng, Tạ Thành vừa bực mình vừa buồn cười, chỉ biết lắc đầu ngao ngán tự hỏi không biết phu nhân và con gái của mình rốt cuộc đã nhìn trúng điểm gì ở tên tiểu tử mặt dày mày dạn này. Ông khua tay xua đuổi Chúc Hợp ra ngoài, dặn dò hắn trong ba ngày tới phải tạm dừng việc dạy học cho Tạ Kì để chuẩn bị tinh thần và lễ phục cho ngày đại hỷ. Chúc Hợp cúi đầu hành lễ chu tất rồi quay lưng bước ra khỏi thư phòng, từng bước chân sải dài trên hành lang đá xanh mà ngỡ như mình đang bước đi trên những đám mây ngũ sắc bồng bềnh giữa trời xanh.
Tin tức chấn động về việc cự phú Tạ Thành quyết định kén chọn Chúc tiên sinh làm hiền tế và chuẩn bị gả đại tiểu thư Tạ Phác chỉ trong vòng ba ngày tới nhanh chóng lan truyền khắp các ngóc ngách của Tạ phủ như một cơn gió lốc. Đám gia nhân, tỳ nữ ai nấy đều xôn xao bàn tán không ngớt, vừa kinh ngạc trước sự việc chưa từng có tiền lệ này, vừa ngấm ngầm ghen tị với vận may trời ban của một kẻ bần hàn trôi dạt bỗng chốc một bước lên mây trở thành cô gia quyền quý. Trong số những người đón nhận tin tức ấy, Mã Đại là người bàng hoàng và xúc động hơn cả. Hắn không thể ngờ được rằng người đệ đệ thư sinh gầy gò từng cùng mình chịu đói chịu rét nơi góc tường thành ngày nào, nay lại chuẩn bị rước được thiên kim tiểu thư như hoa như ngọc về làm thê tử.
Chiều hôm ấy, Mã Đại lập tức túm lấy cổ áo Chúc Hợp lôi xềnh xệch ra một quán rượu nhỏ tồi tàn nằm ở góc khuất của con phố phía tây Bình Thành. Mã Đại đặt mạnh vò rượu hoa điêu lớn xuống mặt bàn gỗ ọp ẹp, đôi mắt mở to nhìn Chúc Hợp trân trối suốt một hồi lâu rồi bất chợt cười lớn ha hả, tiếng cười vang dội làm rung rinh cả mái tranh xiêu vẹo của quán cóc ven đường. Trong ánh mắt của người đại ca giang hồ phong trần ấy thoáng hiện lên một chút ghen tị, hâm mộ rất đỗi con người, nhưng trên hết vẫn là sự chân thành và niềm vui mừng khôn xiết dành cho người đệ đệ kết nghĩa hoạn nạn có nhau. Hắn rót đầy hai bát rượu lớn tràn cả ra mép bàn, cất giọng hào sảng bảo rằng đời người quả thực như một giấc mộng hoang đường, hôm nay không say túy lúy thì tuyệt đối không cho Chúc Hợp bước chân về phủ.
Hai huynh đệ vừa uống rượu vừa ôn lại những ngày tháng cơ hàn cực nhục, những đêm đông giá rét phải ôm nhau mà ngủ để sưởi ấm dưới mái hiên chùa đổ nát. Mã Đại nấc lên một tiếng vì hơi men cay nồng, vỗ mạnh vào lưng Chúc Hợp dặn dò rằng sau này đã làm người có thân phận, có thê tử danh môn khuê các thì phải sống cho đàng hoàng đĩnh đạc, tuyệt đối không được quên đi những tháng ngày gian khó đã qua và phải hết lòng đối đãi tử tế với Tạ gia. Chúc Hợp xúc động nâng bát rượu lớn uống cạn một hơi, trong lòng thầm cảm tạ tấm chân tình mộc mạc của người huynh đệ thảo mãng, đồng thời càng thêm thấm thía giá trị của cơ hội tái sinh mà ông trời đã ưu ái ban tặng cho cuộc đời mình.
Không khí chuẩn bị cho hôn lễ trong ba ngày ngắn ngủi tại Tạ phủ diễn ra vô cùng khẩn trương, tất bật nhưng lại được tiến hành trong sự kín kẽ và bảo mật tối đa. Để tránh tai mắt của đám người bổn gia Tạ Nhượng đang rình rập dòm ngó và ngăn chặn tin tức lọt ra ngoài trước khi việc đã rồi, Tạ Thành hạ lệnh phong tỏa nghiêm ngặt các cổng ra vào, nội bất xuất ngoại bất nhập đối với toàn bộ người hầu kẻ hạ. Mọi nghi thức cưới xin rườm rà theo phong tục cổ truyền như nạp thái, vấn danh, nạp cát đều được giản lược tối đa chỉ trong chớp mắt; thay vào đó, Tạ phu nhân dốc toàn bộ tâm lực chăm chút cho lễ phục tân nương và chuẩn bị chu tất mọi đồ dùng khuê phòng tốt nhất cho con gái rượu.
Đúng ngày lành tháng tốt đã định, hôn lễ diễn ra trong phạm vi nội bộ Tạ phủ mà không hề mời mọc bất kỳ tân khách hay họ hàng thân thích nào bên ngoài. Dưới ánh sáng rực rỡ của hàng chục ngọn nến đỏ thêu hoa long phụng và khói trầm nghi ngút nơi từ đường, Chúc Hợp trong bộ hỷ phục màu đỏ thẫm thêu chỉ vàng sang trọng, dáng người cao ráo khôi ngô, sánh bước bên cạnh tân nương Tạ Phác đang trùm chiếc khăn voan đỏ thêu hoa tinh xảo. Hai người cùng nhau quỳ lạy trời đất, bái tạ song thân và hoàn tất nghi thức phu thê giao bái trong sự xúc động nghẹn ngào của vợ chồng Tạ Thành cùng ánh mắt ngưỡng mộ xen lẫn chúc phúc của những người có mặt. Tạ Thành ngồi trên ghế chủ vị, nhìn hai đứa trẻ hoàn tất nghi lễ danh chính ngôn thuận mà hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má, tảng đá đè nặng trong lòng ông suốt bao ngày qua cuối cùng cũng được trút bỏ, dập tắt hoàn toàn dã tâm cống nạp của gia chủ Tạ Nhượng.
Khi bóng đêm buông xuống hoàn toàn, những tiếng chúc tụng ồn ã nơi tiền sảnh dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch thiêng liêng của đêm động phòng hoa chúc. Chúc Hợp bước từng bước chậm rãi qua hành lang dài rợp bóng đèn lồng đỏ, khẽ đẩy cánh cửa gỗ chạm hoa của gian tân phòng mới được bài trí lộng lẫy. Mùi hương quế quyện lẫn hương trầm thoang thoảng dịu ngọt lập tức vây lấy khứu giác của hắn, đưa hắn bước vào một không gian ấm áp huyền ảo như chốn bồng lai tiên cảnh. Trên chiếc giường cưới trải đệm gấm thêu tích uyên ương hỷ hước, ánh nến đỏ lung linh nhảy múa soi rọi bóng hình thon thả, kiều diễm của Tạ Phác đang ngồi khép nép ngay ngắn chờ đợi phu quân.
Chiếc khăn voan đỏ thêu hoa lộng lẫy che khuất hoàn toàn dung nhan tuyệt mỹ của nàng, chỉ để lộ ra đôi bàn tay búp măng trắng ngần đang siết nhẹ lấy dải lụa thêu hoa trước gối. Chúc Hợp đứng chôn chân bên mép giường, lặng lẽ ngắm nhìn người thê tử của mình mà cõi lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc mãnh liệt đan xen lẫn lộn. Hắn nhớ lại kiếp trước tăm tối của mình, khi hắn đắm chìm trong danh lợi phù phiếm và những lời đường mật dối trá của đám thê thiếp tranh sủng, để rồi lạnh nhạt, phụ bạc và đẩy người phụ nữ hiền thục đoan trang này vào cảnh cô đơn sầu muộn cho đến tận lúc lâm chung. Nỗi ân hận tột cùng cào xé tâm can hắn suốt bao năm tháng lưu lạc nơi hoàng tuyền dường như vẫn còn nguyên vẹn trong từng hơi thở.
Đứng trước cảnh tượng hạnh phúc ngỡ như trong cõi mộng ảo này, Chúc Hợp bỗng nhiên cảm thấy hoang mang lo sợ rằng tất cả chỉ là một giấc chiêm bao hão huyền do tâm thức hắn tự dệt nên giữa những ngày đông lạnh giá. Để tự chứng minh cho bản thân thấy đây là sự thật hiển hiện, hắn bất giác đưa bàn tay run rẩy xuống, dùng hết sức véo thật mạnh vào bắp đùi của mình một cái đau điếng. Cơn đau nhói buốt truyền thẳng lên đại não làm toàn thân hắn khẽ giật mình, thế nhưng ngay sau cơn đau ấy, một nụ cười rạng rỡ, ngập tràn niềm hạnh phúc vô biên bỗng bừng sáng trên gương mặt khôi ngô của chàng thư sinh trẻ tuổi.
Cơn đau ấy là thật, gian phòng tân hôn rực rỡ này là thật, và người thê tử ngoan hiền đang ngồi lặng lẽ đợi chàng dưới lớp khăn voan đỏ kia cũng hoàn toàn là thật. Hắn không hề nằm mơ, ông trời đã thực sự rủ lòng thương ban cho hắn cơ hội sống lại lần thứ hai để chuộc lại toàn bộ những lỗi lầm nghiệt ngã của tiền kiếp. Chúc Hợp khẽ bước tới gần chiếc giường cưới thêm một bước, ánh mắt chàng ngập tràn tình yêu thương tha thiết và sự kiên định sắt son, tự nhủ từ giây phút này trở đi, chàng sẽ dùng cả sinh mệnh và linh hồn của mình để chở che cho nàng, quyết một đời một kiếp một đôi người, dẫu cho phong ba bão táp hay gươm đao của giặc ngoại bang có ập đến cũng tuyệt đối không bao giờ buông tay. Chàng vươn tay cầm lấy chiếc cân hỷ bằng gỗ đào đặt trên bàn trà, từng ngón tay run rẩy khẽ nâng mép khăn voan đỏ lên trong sự hồi hộp vô bờ bến, sẵn sàng đón nhận số phận mới bên người con gái đã định mệnh thuộc về cuộc đời chàng.
Gió thu se lạnh khẽ lướt qua rèm lụa trong phòng ngủ trang nhã của Tạ phu nhân, mang theo hương hoa quế thoang thoảng từ khu vườn sau nhà. Bên trong gian phòng tĩnh lặng, ánh nến lung linh hắt bóng hai mẹ con lên vách tường gỗ trầm mặc, tạo nên một khung cảnh ấm áp nhưng lại chất chứa muôn vàn âu lo. Tạ phu nhân khẽ xua tay ra hiệu cho toàn bộ nha hoàn thân cận lui ra ngoài, sau đó cẩn thận cài then cửa phòng lại rồi mới quay trở về mép giường. Bà đưa tay nắm lấy bàn tay mềm mại của ái nữ Tạ Phác, ánh mắt tràn ngập niềm xót xa cùng nỗi nghẹn ngào khó nói thành lời. Bà nhìn dung nhan thanh tú, đoan trang như hoa chớm nở của con gái mà cõi lòng quặn thắt như có ngàn mũi kim châm, bởi bà biết tương lai của đứa con này đang đứng trước một khúc quanh định mệnh vô cùng nghiệt ngã.
Tạ phu nhân khẽ thở dài một tiếng thật sâu, giọng nói nghẹn ngào đứt quãng trong bóng tối mờ ảo của gian phòng. Bà nhìn thẳng vào mắt con gái rồi cất lời tâm sự, từng chữ thốt ra đều mang nặng nỗi cay đắng của một người làm mẹ trước cơn gia biến. Bà bảo rằng cha con và bà đã suy nghĩ nát óc, trăn trở suốt bao nhiêu đêm ròng rã mới chọn ra được hai người trong số đám khất cái kia để tính chuyện chung thân. Bổn gia Tạ Nhượng lòng lang dạ thú muốn đem Tạ Phác cống nạp cho tướng giặc Hồ tộc để mưu cầu phú quý, trưởng bối Tạ Khánh thì đang bị giam lỏng ở hậu viện, mối nguy như lửa cháy ngang mày chẳng thể chần chừ thêm một khắc nào nữa. Mẫu thân không biết nên chọn ai cho con, sợ gả nhầm người khiến con phải chịu khổ một đời, cho nên hôm nay mới gọi con đến đây để tự mình nhìn ngắm và cân nhắc.
Tạ Phác khẽ ngẩng đầu nhìn mẫu thân, đôi mắt trong veo như làn nước mùa thu thoáng hiện lên nét ngỡ ngàng rồi nhanh chóng chìm vào sự tĩnh lặng nhu mì. Nàng hiểu rõ tình cảnh hiểm nghèo của gia đình lúc này, hiểu rằng sự an nguy của bản thân nàng đang trực tiếp đe dọa đến tính mạng của cha mẹ và ấu đệ. Nàng thấy những giọt nước mắt lăn dài trên gò má gầy guộc của mẫu thân, cõi lòng dâng lên nỗi xót thương khôn xiết dành cho đấng sinh thành. Nàng khẽ nghiêng đầu tựa vào lồng ngực ấm áp của bà, vòng tay ôm lấy tấm lưng hao gầy của người mẹ hiền từ, để mặc cho những giọt lệ của bà rơi ướt đẫm mái tóc mây bồng bềnh của mình.
Từ thuở tấm bé cho đến tận ngày hôm nay, Tạ Phác được phụ mẫu nâng niu như ngọc quý trong tay, rất hiếm khi bước chân ra khỏi ngưỡng cửa Tạ phủ. Số lần nàng được ngắm nhìn phố xá náo nhiệt bên ngoài chỉ đếm được trên đầu ngón tay, thế giới bao la đối với nàng chỉ gói gọn trong khoảng sân nhỏ, trang sách cũ và những bức thêu dở dang bên khung cửa sổ. Nàng hoàn toàn xa lạ với những toan tính lọc lừa nơi nhân gian, lại càng không hiểu biết gì về thói đời ấm lạnh ngoài kia, cho nên đối với nàng lúc này, việc gả cho ai dường như cũng chẳng có gì khác biệt. Nàng khẽ cất giọng dịu dàng, từng lời thốt ra nhẹ tênh như một chiếc lá rơi nhưng lại kiên định đến lạ lùng, rằng cha mẹ đã vì nàng mà gánh chịu bao nhiêu hiểm nguy, nay mẫu thân muốn gả nàng cho ai thì nàng sẽ một lòng thuận theo người đó mà không một lời oán thán.
Nghe những lời hiếu thuận đến thắt lòng của con gái, Tạ phu nhân càng thêm nghẹn ngào, bàn tay khẽ vuốt ve mái tóc mượt mà của nàng. Bà lắc đầu quầy quậy, bảo rằng hôn nhân đại sự là chuyện hệ trọng cả đời của một nữ tử, tuyệt đối không thể phó mặc cho số phận trôi dạt như cánh bèo lục bình giữa dòng nước xiết. Dẫu gia đình rơi vào bước đường cùng phải chọn người hàn vi hạ tiện để tạo thành chuyện ván đã đóng thuyền, bà cũng nhất định phải để nàng tự mình chọn lấy người có thiện cảm nhất. Một lát nữa cha nàng sẽ gọi hai người kia vào phòng nghị sự để bàn việc, bà sẽ dắt nàng nấp sau bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải để quan sát thật kỹ diện mạo và phong thái của từng người, nếu thấy ai thuận mắt và hợp ý thì hãy nói nhỏ với bà để bà ra tay định đoạt.
Trong khi đó tại sương phòng phía tây của Tạ phủ, Chúc Hợp cùng các huynh đệ khất cái đang có những ngày tháng an nhàn, no đủ nhất kể từ khi lưu lạc đến vùng đất Bình Thành này. Không còn phải dầm mưa dãi nắng nơi đầu đường xó chợ, không còn phải lo lắng bữa đói bữa no hay tranh giành từng mẩu bánh thừa thối rữa, ai nấy đều được ăn no mặc ấm và có chỗ ngả lưng yên tĩnh mỗi khi đêm về. Khi một tên gia đinh bước vào thông báo rằng Tạ viên ngoại muốn mời Mã Đại và Chúc Hợp lập tức đến phòng nghị sự có việc cần bàn, Chúc Hợp không khỏi thoáng chút bất ngờ trong lòng. Hắn tự nhủ mấy ngày gần đây bản thân chỉ chú tâm giảng dạy đạo lý làm người và kiến thức canh nông cho tiểu thiếu gia Tạ Kì, chưa từng có nửa lời sai lệch hay hành vi nào quá phận, cớ sao gia chủ lại đột ngột triệu kiến hai người bọn hắn cùng một lúc.
Mã Đại vỗ mạnh vào bắp đùi rắn chắc của mình một cái thật kêu, cười ha hả bảo rằng chắc hẳn Tạ ân công lại muốn nhờ vả chuyện gì đó trên giang hồ hoặc có món ngon rượu quý muốn thết đãi hai huynh đệ. Chúc Hợp khẽ mỉm cười chỉnh lại vạt áo vải thô màu xanh đã được giặt giũ sạch sẽ, trong lòng lại âm thầm dâng lên một mối hoài nghi khó hiểu trước sự đường đột này. Hắn nhớ rõ trong ký ức kiếp trước mờ mịt của mình, khoảng thời gian này Tạ gia đang phải chịu áp lực khủng khiếp từ bổn gia ở kinh kỳ, và việc Tạ Thành giữ đám khất cái lại trong phủ chắc chắn không đơn thuần chỉ là vì lòng trắc ẩn cứu người. Hắn bước theo sau vóc dáng to lớn của Mã Đại, từng bước chân vững vàng tiến về phía phòng nghị sự trang nghiêm của Tạ phủ, nơi sắp diễn ra một màn kén rể bí mật mà hắn hoàn toàn không ngờ tới.
Phòng nghị sự của Tạ phủ rộng rãi và thoáng đãng, bàn ghế gỗ lim được lau chùi bóng loáng toát lên vẻ quyền quý, uy nghiêm của một gia đình cự phú bậc nhất vùng. Ở góc phía đông của căn phòng, một bức bình phong sáu tấm bằng gỗ tử đàn chạm khắc tinh xảo tích Bát Tiên Quá Hải đứng sừng sững, khéo léo ngăn cách một khoảng không gian nhỏ hẹp và kín đáo phía sau rèm thưa. Người đứng ở bên ngoài nhìn vào chỉ thấy những đường nét chạm khắc rồng phượng và sóng nước uốn lượn tầng tầng lớp lớp, hoàn toàn không thể thấy được bất kỳ bóng người nào ẩn nấp bên trong; thế nhưng người ngồi phía sau lại có thể dễ dàng phóng tầm mắt qua những khe hở li ti để quan sát toàn bộ mọi cử chỉ, hành động của những kẻ đang hiện diện nơi chính đường.
Tạ phu nhân nắm chặt lấy bàn tay có phần run rẩy của Tạ Phác, khẽ ra hiệu cho nàng giữ im lặng tuyệt đối khi nghe thấy tiếng bước chân dồn dập vang lên ngoài hành lang. Tạ Phác nín thở ghé sát đôi mắt trong trẻo vào khe hở nhỏ giữa hai tấm bình phong, cõi lòng đập liên hồi những nhịp đập bồn chồn, hoang mang xen lẫn chút tò mò của một thiếu nữ lần đầu trộm nhìn nam nhân xa lạ. Qua lớp gỗ chạm trổ hình tiên ông cưỡi sóng, nàng nhìn thấy thân ảnh quen thuộc của phụ thân đang ngồi uy nghi trên chiếc ghế bành bọc gấm, gương mặt ông đăm chiêu nghiêm nghị nhưng ánh mắt lại phảng phất nét mệt mỏi khôn nguôi sau bao ngày lo toan chống đỡ với sóng gió gia tộc.
Ngay sau đó, hai bóng người từ từ bước qua ngạch cửa phòng nghị sự, tạo nên một sự tương phản vô cùng rõ rệt khiến ánh mắt Tạ Phác lập tức bị thu hút mạnh mẽ. Người đi đầu chính là Mã Đại, hắn có thân hình vạm vỡ, lưng hùm vai gấu, nước da ngăm đen dày dạn sương gió cùng bộ râu quai nón rậm rạp toát lên vẻ phong trần bộc trực của một kẻ lăn lộn giang hồ. Từng bước đi của Mã Đại nặng trịch, hai cánh tay buông thõng đung đưa tự nhiên, phong thái ngạo nghễ không chút e dè sợ sệt trước sự xa hoa của gian phòng phú quý. Trong khi đó, người đi phía sau lại là một thanh niên thư sinh có dáng dấp mảnh khảnh, bước đi khoan thai nhẹ nhàng như làn gió thoảng đầu mùa, toàn thân toát lên một luồng khí chất nho nhã, thanh tao khác hẳn với thân phận bần hàn hiện tại.
Chúc Hợp bước vào phòng với vẻ cung kính nhưng không hề khúm núm, đôi mắt sáng trong tựa vì sao đêm và gương mặt khôi ngô tuấn tú nổi bật dưới ánh sáng ban ngày. Dù trên người chỉ khoác tấm áo vải thô màu xanh đạm bạc, hắn vẫn giữ được phong thái ung dung tự tại của một bậc văn nhân đọc sách thánh hiền, lưng thẳng như cành trúc trước gió đông. Tạ Phác nấp sau bức bình phong nhìn chằm chằm vào người thanh niên ấy, trong lòng chợt dâng lên một cảm giác rung động kỳ lạ khó gọi thành tên. Đứng cạnh một Mã Đại cao to lực lưỡng như hộ pháp đền chùa, Chúc Hợp trông có phần nhỏ bé và thỉnh thoảng còn bị thân hình đồ sộ của đại ca che khuất tầm nhìn, thế nhưng khí chất đĩnh đạc toát ra từ người hắn lại khiến người khác không tài nào rời mắt được.
Tạ Thành đưa tay vuốt chòm râu hoa râm, cất giọng trầm ấm mời hai người ngồi xuống hai chiếc ghế gỗ đặt đối diện với bàn trà của mình. Mã Đại không hề khách sáo, hắn cười hề hề rồi thả phịch thân hình đồ sộ xuống chiếc ghế bên phải, chiếc ghế gỗ lim vững chãi khẽ rung lên một tiếng cọt kẹt dưới sức nặng của hắn. Chúc Hợp thì ngược lại, hắn cẩn thận cúi đầu vái chào gia chủ theo đúng lễ nghi của kẻ hậu bối, sau đó mới nhẹ nhàng vén vạt áo ngồi xuống chiếc ghế bên trái, hai bàn tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, lưng giữ thẳng tắp không một chút nghiêng lệch. Sự khác biệt một trời một vực trong từng cử chỉ nhỏ nhặt ấy càng làm nổi bật lên tính cách của hai người, khiến cho người quan sát sau rèm thưa càng nhìn càng thấy rõ ràng tâm tính.
Khi hai người đã an tọa, vị trí trong gian phòng khách lập tức có sự chuyển biến rõ rệt đối với tầm nhìn của người ngồi sau bình phong. Mã Đại ngồi quay nửa lưng về phía bức chạm khắc Bát Tiên Quá Hải, chỉ để lộ ra tấm lưng bè bè thô ráp và góc nghiêng của khuôn mặt rậm râu; trong khi đó, Chúc Hợp lại ngồi đối diện chéo góc, gương mặt thanh tú cùng toàn bộ biểu cảm trên dung mạo của hắn đều hiện lên vô cùng rõ ràng trước mắt Tạ Phác. Tạ Phác trời sinh có trí nhớ phi phàm, bất kỳ sự vật hay con người nào nàng từng gặp qua một lần đều được khắc sâu vào tâm khảm khó lòng phai nhạt. Nhìn thật kỹ vào những đường nét cương nghị nơi sống mũi cao vút và vầng trán rộng của người thanh niên áo xanh, trong tâm trí nàng bất chợt lóe lên một hình ảnh xưa cũ tưởng chừng đã bị bụi thời gian chôn vùi.
Đó là một buổi chiều mùa đông lạnh thấu xương của mấy năm về trước, khi tuyết trắng phủ đầy khắp các mái ngói và góc phố tiêu điều của trấn nhỏ. Khi cỗ xe ngựa của Tạ phủ dừng lại bên góc tường thành đổ nát, qua tấm rèm xe khẽ hé mở, nàng đã nhìn thấy một thiếu niên khất cái co ro trong manh áo rách tả tơi, đôi môi thâm tím vì lạnh nhưng ánh mắt lại quật cường không chịu khuất phục trước nghịch cảnh. Khi nàng sai tiểu nha hoàn mang chiếc bánh hoa quế còn ấm nóng đến tặng, thiếu niên ấy đã đón lấy chiếc bánh bằng hai bàn tay run rẩy, rồi ngẩng đầu nhìn về phía cỗ xe ngựa bằng một ánh mắt vừa ngỡ ngàng vừa chan chứa lòng biết ơn sâu sắc. Dung mạo của chàng thiếu niên gầy gò năm ấy dần dần trùng khớp với người thư sinh nho nhã đang ngồi đĩnh đạc trước mắt nàng lúc này, khiến trái tim Tạ Phác đập thình thịch vì sự trùng hợp kỳ diệu của số phận.
Nàng khẽ cắn nhẹ vành môi dưới, thầm nhủ người này quả nhiên chính là chàng khất cái từng nhận chiếc bánh hoa quế năm xưa. Nhìn phong thái nho nhã nhẹ nhàng và cốt cách trầm ổn của hắn bây giờ, thật khó mà tưởng tượng nổi hắn đã từng phải trải qua những tháng ngày ăn xin khổ ải đầu đường xó chợ. Tạ phu nhân ngồi bên cạnh khẽ liếc nhìn con gái, bà tinh ý nhận thấy ánh mắt của Tạ Phác đã dừng lại trên người Chúc Hợp suốt một lúc lâu mà không hề rời đi, đôi gò má trắng ngần của nàng bắt đầu ửng lên những ráng hồng thẹn thùng như cánh hoa đào mùa xuân. Tạ phu nhân thầm gật đầu hài lòng, trong lòng bà cũng không khỏi thầm khen ngợi dung mạo tuấn tú khôi ngô của Chúc Hợp, quả thực rất thuận mắt và xứng đôi vừa lứa với con gái cưng của bà hơn hẳn một Mã Đại thô kệch kia.
Trong gian phòng nghị sự, Tạ Thành bắt đầu cất tiếng hỏi han về tình hình ăn ở của đám khất cái trong những ngày vừa qua tại hậu viện. Mã Đại hào sảng cất giọng sang sảng đáp lời, khoe rằng huynh đệ ai nấy đều vô cùng cảm kích ân đức của Tạ lão gia, cơm no ba bữa áo ấm cả ngày chẳng còn mong mỏi gì hơn. Tạ Thành khẽ gật đầu, sau đó chuyển hướng câu chuyện sang việc học hành của ấu tử Tạ Kì, dò hỏi Chúc Hợp xem việc truyền thụ kinh thư tiến triển ra sao. Chúc Hợp từ tốn thưa gửi, từng lời nói nhả ra đều gãy gọn, thấu tình đạt lý, phân tích rõ ràng phương pháp dạy học lấy sự hiểu biết thực tế làm gốc chứ không bắt ép đứa trẻ phải học vẹt từng câu chữ cứng nhắc trong sách vở.
Thế nhưng ngay giữa lúc cuộc trò chuyện đang diễn ra êm đẹp, Chúc Hợp bỗng nhiên cảm thấy một luồng cảm giác kỳ lạ chạy dọc sống lưng, giống như có một ánh mắt vô hình nào đó đang chăm chú dõi theo từng cử chỉ của mình từ một góc khuất. Giác quan nhạy bén của một người từng trải qua hai kiếp người khiến hắn không thể phớt lờ đi sự xao động mong manh ấy trong không khí. Hắn bất chợt ngừng lời, khẽ nghiêng đầu đưa ánh mắt sắc sảo nhìn thẳng về phía bức bình phong sáu tấm bằng gỗ tử đàn đang dựng đứng ở góc phòng. Ánh mắt hắn xuyên qua khoảng không gian tĩnh lặng, dừng lại trên những hoa văn chạm trổ Bát Tiên Quá Hải, chất chứa bên trong một nỗi niềm phức tạp khôn nguôi, vừa có sự hoài niệm sâu thẳm, vừa có nét bàng hoàng ngơ ngác như đang tìm kiếm một hình bóng quen thuộc từ tiền kiếp.
Tạ Phác đang ghé sát mắt nhìn qua khe hở bình phong, bỗng nhiên thấy Chúc Hợp quay phắt đầu lại nhìn thẳng về phía mình, nàng như bị một luồng điện vô hình chạy dọc khắp toàn thân khiến tim giật thót một cái. Dẫu biết rõ bức bình phong gỗ dày dặn này có thể che chắn hoàn toàn bóng dáng của mình và người bên ngoài tuyệt đối không thể nhìn xuyên qua được, nhưng ánh mắt sâu thẳm và tha thiết như chạm thẳng vào tâm can của Chúc Hợp vẫn khiến nàng hoảng hốt vội vã cúi gằm mặt xuống để trốn tránh. Bàn tay nàng run rẩy túm chặt lấy vạt áo lụa của mẫu thân, lồng ngực phập phồng những nhịp thở dồn dập, trong lòng dâng lên một cảm giác vừa thẹn thùng vừa hoang mang khó tả trước sự thần giao cách cảm kỳ lạ giữa hai người.
Sáu tấm gỗ tử đàn dày cộp chạm khắc tích Bát Tiên Quá Hải tuy che kín hoàn toàn thân ảnh mảnh mai của Tạ Phác, nhưng linh cảm mãnh liệt trong lòng Chúc Hợp lại mách bảo chắc chắn rằng phía sau bức bình phong kia đang có người ẩn nấp. Hắn ngây người nhìn chằm chằm vào khoảng không gian ấy, trong đầu chợt hiện lên hình bóng dịu dàng đoan trang của người thê tử kiếp trước, khiến tâm trí hắn bỗng chốc rơi vào cõi mộng mị xa xăm mà quên mất bản thân đang ngồi đàm đạo trước mặt gia chủ. Mã Đại thấy Chúc Hợp tự nhiên im bặt rồi nhìn chằm chằm vào bức bình phong vô tri vô giác, bèn cất tiếng gọi lớn vài ba câu nhưng Chúc Hợp vẫn như người mất hồn không hề hay biết.
Mãi đến khi Mã Đại đưa bàn tay hộ pháp vỗ mạnh một cái vào bả vai của hắn, Chúc Hợp mới giật mình hoàn hồn trở lại thực tại, vội vàng chớp mắt chỉnh lại tư thế ngồi. Hắn đưa mắt nhìn lên thì thấy sắc mặt của vị nhạc phụ tương lai Tạ Thành đã sa sầm xuống, đôi lông mày hoa râm nhíu chặt lại lộ rõ vẻ không hài lòng tột độ. Trong mắt Tạ Thành, việc một kẻ hàn vi đang nói chuyện với gia chủ mà lại dám thất thần lơ đãng nhìn đi nơi khác là một biểu hiện của sự thất lễ, thiếu tôn trọng và không có định lực của một bậc trượng phu. Chúc Hợp vội vàng chắp tay tạ lỗi vì sự thất thố của mình, nhưng trong lòng Tạ Thành đã thầm trừ đi của hắn vài phần hảo cảm, cảm thấy tên tiểu tử này dẫu có tài chữ nghĩa nhưng tâm tính dường như vẫn còn quá bồng bột và thiếu sự chín chắn.
Cuộc trò chuyện sau đó diễn ra một cách gượng gạo thêm một tuần trà nữa rồi Tạ Thành phất tay cho hai người lui ra ngoài. Trong khi đó ở phía sau bức bình phong, Tạ phu nhân đã khẽ kéo tay con gái dẫn nàng men theo lối cửa ngách bí mật để quay trở về hậu viện, tránh chạm mặt với đám người nơi tiền đường. Vừa bước chân vào trong gian khuê phòng quen thuộc thoang thoảng mùi trầm hương, Tạ phu nhân liền cho lui hết hạ nhân ra ngoài canh cửa, sau đó kéo Tạ Phác ngồi xuống bên mép sập gụ. Bà nhìn thẳng vào khuôn mặt vẫn còn vương chút ráng hồng bối rối của con gái, khẽ mỉm cười dịu dàng rồi cất tiếng hỏi han xem sau khi tận mắt quan sát hai người, trong lòng nàng đã có ý ưng thuận ai hơn hay chưa.
Tạ Phác ngập ngừng mân mê dải lụa thêu hoa trước ngực, đôi mắt rủ xuống giấu đi những xao động đang cuộn trào trong đáy mắt. Nàng nhớ lại từng khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng đầy ấn tượng vừa diễn ra nơi phòng nghị sự, nhớ lại dáng vẻ bộc trực có phần lỗ mãng của Mã Đại và phong thái nho nhã đĩnh đạc của Chúc Hợp. Nếu phải đặt hai người lên bàn cân để chọn lấy một người gửi gắm tấm thân bồ liễu, thì không nghi ngờ gì nữa, trái tim nàng đã hoàn toàn nghiêng về phía người thanh niên họ Chúc kia. Đặc biệt là khoảnh khắc Chúc Hợp bất chợt quay đầu nhìn về phía bình phong, ánh mắt chất chứa biết bao nỗi niềm u uẩn, vừa ngơ ngác lại vừa chan chứa ân tình của hắn đã in sâu vào tâm trí nàng như một vết khắc không thể xóa nhòa.
Nàng cảm thấy giữa mình và người thanh niên xa lạ ấy dường như có một sợi dây tơ duyên vô hình nào đó đã được buộc chặt từ kiếp nào, tạo nên một cảm giác thân thuộc đến nao lòng mà chính nàng cũng không sao giải thích nổi. Thấy con gái cứ cúi đầu im lặng thật lâu không đáp, Tạ phu nhân liền nhẹ nhàng gợi mở, cất giọng ướm hỏi xem nàng nghĩ thế nào về Chúc Hợp. Nghe mẫu thân nhắc thẳng đến cái tên ấy, đôi gò má Tạ Phác càng thêm đỏ ửng như ráng chiều, nàng bối rối lí nhí thưa rằng bản thân thực sự không biết phải nói sao cho phải, bởi nàng chưa từng tiếp xúc hay trò chuyện trực tiếp với hắn bao giờ.
Thế nhưng dù Tạ Phác có cố gắng che giấu bằng những lời lẽ ngập ngừng bẽn lẽn, thì từng biến chuyển nhỏ nhất trên nét mặt cùng ánh mắt rạng ngời của nàng cũng không thể nào qua mắt được một người mẹ từng trải như Tạ phu nhân. Tạ phu nhân nở một nụ cười ấm áp đầy thấu hiểu, đưa tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay mềm mại của ái nữ, ôn tồn bảo rằng nàng không cần phải lo lắng hay vội vã quyết định ngay lúc này. Bà dặn nàng cứ bình tâm suy nghĩ cho thật thấu đáo, chỉ cần trong lòng nàng có chút thiện cảm với ai thì người làm mẹ như bà nhất định sẽ dốc hết tâm lực để tác thành cho nàng có được một bến đỗ bình yên nhất có thể.
Ở một diễn biến khác, sau khi rời khỏi phòng nghị sự của Tạ phủ, Mã Đại và Chúc Hợp cùng nhau rảo bước trên con đường lát đá xanh dẫn về sương phòng phía tây. Mã Đại vừa đi vừa gãi gãi đầu, vẻ mặt đầy thắc mắc bèn huých cùi chỏ vào sườn Chúc Hợp rồi cất giọng hỏi lớn xem hắn có đoán được vì sao hôm nay Tạ ân công lại tự nhiên gọi hai huynh đệ đến đàm đạo những chuyện vặt vãnh như vậy hay không. Chúc Hợp lúc này vẫn còn đang đắm chìm trong dòng suy tưởng miên man, tâm trí hắn như bị giam cầm trong khoảnh khắc giao cảm ánh mắt kỳ lạ ban nãy nơi phòng khách. Cảm giác quen thuộc đến thắt lòng ấy cứ quanh quẩn trong tâm trí hắn không dứt, tựa như một ánh mắt dịu dàng từ ngàn năm trước đang dõi theo từng bước chân lưu lạc của hắn giữa chốn hồng trần.
Một suy nghĩ táo bạo bỗng nhiên lóe lên trong đầu Chúc Hợp khiến toàn thân hắn bất giác run rẩy vì kinh ngạc. Hắn tự nhủ phía sau bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải kia, ngoài Tạ phu nhân và nàng ra thì còn có thể là ai vào đây nữa. Chẳng lẽ Tạ lão gia gọi hai người bọn hắn đến không phải để bàn việc thường ngày, mà là để cho người ngồi sau rèm thưa khảo sát, kén chọn rể hiền nhằm tìm cách gả gấp Tạ Phác đi để tránh tai họa từ bổn gia. Nhận thức được điều đó, Chúc Hợp không khỏi thảng thốt tự trách bản thân sao lại quá đỗi ngu ngốc và vụng về đến thế. Một cơ hội bằng vàng ngàn năm có một để ghi điểm trước mặt thê tử kiếp trước và nhạc phụ tương lai, vậy mà hắn lại để bản thân thất thần ngơ ngác đến mức khiến cho Tạ Thành phải cau mày bực bội.
Mã Đại thấy người đệ đệ bên cạnh cứ lơ đễnh như người mất hồn bèn vỗ bôm bốp vào vai hắn trêu chọc, hỏi xem có phải hôm nay hắn bị trúng gió độc hay không mà hồn vía cứ bay bổng lên tận mây xanh suốt từ nãy đến giờ. Chúc Hợp khẽ gượng cười lắc đầu đáp lại rằng bản thân chỉ đang suy nghĩ vài chuyện quan trọng về việc dạy học cho tiểu thiếu gia mà thôi. Mã Đại lập tức cười ha hả khoác vai hắn thật thân thiết, bảo rằng nghe đám gia nhân trong phủ kháo nhau rằng hai thầy trò Chúc tiên sinh gần đây tâm đầu ý hợp, dạy dỗ đâu ra đấy khiến cho cả phủ ai nấy đều nể phục tài năng chữ nghĩa của hắn, thật không uổng công ngày trước huynh đệ cùng nhau chia ngọt sẻ bùi nơi xó chợ.
Khi màn đêm buông xuống bao trùm lên toàn bộ Tạ phủ, bóng tối tĩnh mịch dường như càng làm cho bầu không khí trong phòng ngủ của vợ chồng Tạ Thành thêm phần căng thẳng, ngột ngạt. Dưới ánh đèn dầu leo lét hắt bóng hai người lên bức vách, một cuộc tranh luận nảy lửa và gay gắt chưa từng có đã nổ ra giữa hai vợ chồng gia chủ về chuyện chung thân đại sự của Tạ Phác. Dựa vào những gì đã quan sát và biểu hiện của hai ứng viên vào ban ngày, Tạ Thành kiên quyết giữ vững quan điểm muốn gả con gái cho Mã Đại. Ông đập tay xuống mặt bàn trà gỗ, trầm giọng phân tích rằng Mã Đại là người bộc trực, tính tình hào sảng trượng nghĩa, lại có uy tín rất cao trong đám giang hồ khất cái lưu lạc; gả Tạ Phác cho một người như vậy thì dẫu sau này có xảy ra biến cố loạn lạc lớn, Mã Đại cũng có đủ sức mạnh cơ bắp và sự liều lĩnh để liều mạng bảo bọc cho nàng chu toàn.
Ngược lại, Tạ phu nhân vừa nghe phu quân nhắc đến ý định gả con gái rượu cho Mã Đại thì lập tức biến sắc, giận dữ đứng bật dậy kịch liệt phản đối đến cùng. Bà nhìn thẳng vào mặt trượng phu, đôi mắt rưng rưng nhưng giọng nói lại đanh thép lạ thường, bảo rằng Tạ Thành chỉ biết nhìn cái lợi trước mắt mà không thèm nghĩ đến hạnh phúc cả đời của con gái. Mã Đại dẫu có trượng nghĩa đến đâu thì bản chất vẫn là một kẻ thô lậu, chữ nghĩa không biết một bẻ đôi, ăn nói cộc cằn lỗ mãng thì làm sao có thể hòa hợp tâm hồn với một tiểu thư khuê các từ nhỏ đã quen ngâm thơ vịnh nguyệt như Tạ Phác. Bà khẳng định rằng Chúc Hợp mới là sự lựa chọn hoàn hảo nhất, bởi hắn đọc sách thánh hiền, hiểu biết sâu rộng, cử chỉ nho nhã đĩnh đạc, lại có dung mạo khôi ngô tuấn tú, sau này hai vợ chồng mới có thể tương kính như tân, nâng khăn sửa túi cho nhau một cách êm ấm.
Tạ Thành vuốt râu thở dài một hơi đầy vẻ bất lực, cố gắng giải thích rằng Chúc Hợp tuy thông minh đĩnh ngộ nhưng lại mắc cái tật mồm mép lanh lợi, hay nói những chuyện viển vông to tát vượt quá tầm hiểu biết của kẻ bần hàn khiến ông cảm thấy không an tâm. Hơn nữa hôm nay ở phòng nghị sự, tiểu tử họ Chúc kia còn dám thất thần nhìn trộm lung tung, tâm tính dường như không đủ trầm ổn để làm chỗ dựa vững chắc cho gia đình giữa thời loạn lạc. Thế nhưng Tạ phu nhân lại một mực bác bỏ mọi lý lẽ của phu quân, bà tung ra con bài quyết định cuối cùng rằng chính mắt bà đã nhìn thấy Tạ Phác có hảo cảm đặc biệt với Chúc Hợp, ánh mắt con bé nhìn hắn hoàn toàn khác hẳn với khi nhìn Mã Đại, và khi bà gặng hỏi thì nàng đã ngầm ưng thuận mối lương duyên này.
Nghe đến việc ái nữ đã tự mình lựa chọn Chúc Hợp, Tạ Thành bỗng chốc nghẹn lời, mọi sự phản kháng và lý lẽ sắc bén trong đầu ông phút chốc tan biến thành mây khói. Là người đứng đầu một gia tộc cự phú nhiều năm qua, việc lớn việc nhỏ trong phủ xưa nay đều do một tay ông định đoạt, nhưng đối với những chuyện liên quan đến hạnh phúc và tâm can của vợ con thì ông chưa bao giờ là người độc đoán chuyên quyền. Tạ Thành hiểu rất rõ tính khí của phu nhân, một khi bà đã hạ quyết tâm bảo vệ điều gì thì dẫu có trời sập đất lở cũng khó lòng lay chuyển nổi. Nhìn ánh mắt kiên định xen lẫn nỗi van nài của người vợ đã cùng mình đồng cam cộng khổ bao năm qua, Tạ Thành đành buông một tiếng thở dài thườn thượt, gật đầu chấp nhận từ bỏ ý định chọn Mã Đại để chiều theo ý nguyện của hai mẹ con.
Trong khi đó ở sương phòng phía tây, Chúc Hợp nằm trằn trọc trên chiếc giường gỗ thô sơ suốt cả một đêm dài mà không tài nào chợp mắt nổi. Từng mảnh ghép rời rạc trong những ngày qua dần dần được hắn xâu chuỗi lại một cách logic và rõ ràng trong tâm trí: từ việc Tạ Thành giữ đám khất cái lại trong phủ, tin tức gia biến từ bổn gia Tạ Nhượng, việc thử thách hắn dạy học cho Tạ Kì, cho đến sự xuất hiện đầy bí ẩn của bức bình phong sáu tấm chạm tích Bát Tiên Quá Hải vào ban sáng. Hắn hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn một trăm phần trăm rằng người nấp sau bức bình phong kia chính là Tạ Phác, và gia đình Tạ Thành đang ráo riết tìm cách gả nàng cho một kẻ hàn vi để tạo thành chuyện ván đã đóng thuyền nhằm thoát khỏi nanh vuốt của giặc Hồ. Nghĩ đến việc bản thân suýt chút nữa đã làm hỏng đại sự vì một phút lơ đễnh, Chúc Hợp lại càng thêm bồn chồn, thầm tự nhủ ngày mai nhất định phải tìm mọi cách xoay chuyển càn khôn nếu có cơ hội.
Đúng như những gì Chúc Hợp đã dự liệu, sáng sớm ngày hôm sau khi những tia nắng bình minh đầu tiên vừa le lói qua kẽ lá, một tên gia đinh thân cận của Tạ Thành đã lặng lẽ tìm đến tận sương phòng, thì thầm truyền đạt lời nhắn rằng gia chủ muốn mời riêng một mình Chúc tiên sinh đến thư phòng bàn việc kín. Nhận được lời mời triệu kiến riêng biệt này, trái tim Chúc Hợp như muốn nhảy múa rộn ràng trong lồng ngực vì một niềm vui sướng khôn tả xiết. Hắn biết rõ suy đoán của mình đã hoàn toàn chính xác, việc Tạ Thành không gọi Mã Đại mà chỉ gọi riêng một mình hắn chứng tỏ cán cân lựa chọn của gia chủ đã nghiêng hẳn về phía hắn. Hắn vội vàng rửa mặt bằng nước lạnh cho thật tỉnh táo, chỉnh đốn lại y phục chỉnh tề rồi theo chân tên gia đinh rảo bước tiến về phía thư phòng tĩnh mịch ở hậu viện.
Bước qua cánh cửa gỗ lim của thư phòng, Chúc Hợp ngửi thấy mùi mực nho quyện lẫn hương trầm dịu nhẹ thoang thoảng trong không gian. Tạ Thành đang ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn đọc sách rộng lớn, trên bàn bày la liệt những sổ sách điền sản và nghiên mực cổ bằng đá đoan thạch. Nhìn thấy Chúc Hợp bước vào, sắc mặt Tạ Thành lộ rõ vẻ nghiêm nghị khác hẳn với sự cởi mở thường ngày, đôi mắt chim ưng sắc sảo không ngừng đánh giá từng cử chỉ của người thanh niên trẻ tuổi. Chúc Hợp bước lên phía trước ba bước, cung kính cúi rạp người hành lễ theo đúng quy củ của bậc hậu sinh diện kiến tiền bối, thần sắc nghiêm chỉnh, đĩnh đạc và toát lên vẻ trang trọng tuyệt đối khiến Tạ Thành trong lòng khẽ gật đầu khen ngợi.
Tạ Thành đưa tay chỉ vào chiếc ghế đối diện, cất giọng trầm thấp bảo hắn ngồi xuống rồi bắt đầu cuộc tra hỏi cặn kẽ để làm rõ nguồn gốc lai lịch của người thanh niên này. Ông vuốt chòm râu hoa râm, đôi mắt nheo lại quan sát từng biến chuyển nhỏ nhất trên cơ mặt của Chúc Hợp, cất tiếng hỏi rằng trước đây nghe nói quê cũ của Chúc tiên sinh ở vùng Thượng Dã xa xôi, vậy gia cảnh thuở trước ra sao và người thân ruột thịt trong nhà hiện tại còn những ai. Đây là câu hỏi then chốt đầu tiên mang tính sống còn, bởi một gia đình danh môn phú hào như Tạ thị dẫu có rơi vào nghịch cảnh hiểm nghèo đến đâu cũng tuyệt đối không thể gả con gái cho một kẻ lai lịch bất minh hoặc có dính líu đến những mối ân oán nguy hiểm nơi chốn quan trường.
Chúc Hợp sớm đã lường trước câu hỏi này từ đêm hôm trước, hắn khẽ cúi đầu lộ rõ vẻ mặt đau xót ngậm ngùi, giọng nói trầm xuống nghẹn ngào như gợi lại một quá khứ đầy bi thương. Hắn cất lời thưa rằng phụ mẫu của hắn bạc mệnh qua đời từ sớm, bản thân hắn từ nhỏ đã theo cha sống cuộc đời ẩn dật nơi thâm sơn cùng cốc xa lánh bụi trần, nay chỉ còn lại một thân một mình phiêu bạt giữa chốn nhân gian gió bụi. Tạ Thành nghe vậy liền gặng hỏi thêm xem hắn có còn thân thích, họ hàng thân cận nào ở quê cũ hay không. Chúc Hợp liền khéo léo dệt nên một câu chuyện hoàn mỹ không một kẽ hở, kể rằng gia đình hắn bao đời nay vốn giữ nếp thanh bần ẩn cư nơi rừng sâu, khi phụ thân tạ thế cách đây tròn ba năm, hắn đã làm tròn chữ hiếu của đạo làm con bằng cách dựng một am cỏ đơn sơ ngay bên cạnh phần mộ của cha để sớm hôm hương khói, giữ trọn đạo hiếu đủ ba năm ròng rã mới chịu xuống núi.
Hắn giải thích tiếp rằng trong suốt ba năm hắn ẩn cư giữ hiếu nơi rừng sâu cách biệt với thế giới bên ngoài, thiên hạ liên tục xảy ra những biến cố binh đao loạn lạc tàn khốc, các thế lực ngoại tộc tràn vào cướp phá khiến cho xóm làng tan tác, thân thích họ hàng đều phiêu dạt khắp bốn phương trời chẳng còn tin tức gì. Khi hắn mãn tang bước chân xuống núi tìm kiếm người thân thì quê hương cũ đã thành bình địa hoang tàn, bản thân hắn không một xu dính túi, lại chẳng có họ hàng nương tựa nên đành phải hòa vào dòng người lưu dân khất thực kiếm miếng ăn sống qua ngày, may mắn thay nhờ trời thương mới dạt được đến vùng đất Bình Thành này và được Tạ ân công cứu mạng. Câu chuyện ngụy tạo về việc ẩn cư giữ hiếu ba năm không chỉ giải thích một cách vô cùng hợp lý việc tại sao hắn có cốt cách nho nhã và học vấn uyên thâm của một bậc danh sĩ nhưng lại phải đi ăn xin, mà còn khéo léo chứng minh cho Tạ Thành thấy hắn là một con người chí hiếu, có nhân phẩm đạo đức cao đẹp đáng để tin cậy.
Tạ Thành nghe xong câu chuyện thì ánh mắt sắc bén ban đầu dần dần giãn ra, thay vào đó là sự xúc động và cảm phục trước tấm lòng hiếu thảo hiếm có của một người con giữa thời buổi loạn lạc suy đồi này. Ông gật đầu liên hồi, cất tiếng hỏi thêm xem người thầy đã chỉ dạy cho hắn những kiến thức uyên bác về kinh thư và canh nông kia rốt cuộc là bậc cao nhân phương nào. Chúc Hợp điềm đạm đáp rằng mọi chữ nghĩa và đạo lý làm người hắn có được ngày hôm nay đều do một tay phụ thân lúc sinh thời đích thân truyền thụ lại. Khi Tạ Thành tò mò gặng hỏi về danh hào của bậc hiền phụ tài ba ấy, Chúc Hợp liền thở dài thưa rằng phụ thân hắn cả đời lánh đời tu tâm, xem nhẹ danh lợi phù phiếm nơi hồng trần nên chưa từng bao giờ nhắc đến tên tuổi hay chức tước bên ngoài trước mặt con cái.
Nhìn thấy sự điềm đạm và đối đáp trôi chảy không một vết gợn của Chúc Hợp, Tạ Thành hoàn toàn bị thuyết phục và dẹp bỏ được mọi mối nghi ngờ cuối cùng trong lòng. Ông hắng giọng một tiếng, đặt chén trà xuống bàn rồi nhìn thẳng vào mắt Chúc Hợp, đi thẳng vào vấn đề cốt lõi nhất của buổi gặp gỡ hôm nay bằng một câu hỏi nghiêm túc, rằng phụ thân hắn lúc sinh thời đã từng chỉ định hôn thê hay hứa hôn cho hắn với mối nhân duyên nào hay chưa. Chúc Hợp nghe đến đây thì trong lòng mừng thầm như mở cờ, hắn lập tức ngẩng cao đầu, ánh mắt trong sáng nhìn thẳng vào vị nhạc phụ tương lai, quả quyết thưa rằng bản thân cả đời chỉ biết đèn sách và phụng dưỡng cha mẹ, tuyệt đối chưa từng có bất kỳ hôn ước hay vướng bận tình cảm với bất kỳ nữ tử nào trên cõi đời này.
Không để Chúc Hợp phải chờ đợi thêm một khắc nào nữa, Tạ Thành lập tức khoát tay, ánh mắt bỗng chốc trở nên vô cùng kiên định và dứt khoát lạ thường. Ông cất giọng hỏi thẳng thừng, từng chữ vang lên rõ mồn một trong không gian tĩnh mịch của thư phòng, rằng cậu có bằng lòng cưới con gái Tạ Phác của ta làm thê tử hay không. Dẫu cho từ đêm qua Chúc Hợp đã suy đoán và chuẩn bị sẵn tâm lý cho tình huống này hàng trăm lần, nhưng khi tận tai nghe thấy chính miệng Tạ Thành thốt ra lời đề nghị gả con gái, toàn thân hắn vẫn không khỏi chấn động mãnh liệt như bị sét đánh ngang tai, một cảm giác hạnh phúc tột cùng trào dâng khiến sống mũi hắn cay xè và hai mắt ngấn lệ.
Cơ hội tái sinh ngàn năm có một để bù đắp cho người thê tử kiếp trước cuối cùng đã thành hiện thực ngay trước mắt chàng. Chúc Hợp không một chút chần chừ do dự, hắn lập tức rời khỏi ghế ngồi, quỳ sụp xuống nền đá hoa cương mát lạnh, dập đầu hành một đại lễ tạ ơn vô cùng trang trọng trước mặt Tạ Thành. Giọng nói của hắn vang lên dõng dạc, nghẹn ngào nhưng tràn đầy sự kiên định sắt son, rằng vãn bối một kẻ bần hàn trôi dạt được ân công rủ lòng thương nhìn trúng là phúc phận to lớn ngút trời mà ba đời tu nhân tích đức mới có được, vãn bối xin dập đầu bái tạ đại ân đại đức của ân công đã thành toàn cho mối nhân duyên này.
Thấy Chúc Hợp đồng ý nhanh như chớp giật mà không cần nửa khắc suy nghĩ hay làm bộ khiêm tốn từ chối như những kẻ hủ nho thông thường, Tạ Thành không khỏi thoáng chút ngỡ ngàng, sững sờ mất một lúc mới định thần lại được. Thế nhưng lời của bậc trưởng bối gia chủ một khi đã thốt ra khỏi miệng thì như tên đã bắn khỏi cung, tuyệt đối không thể nào rút lại được nữa. Tạ Thành nhìn người thanh niên đang quỳ mọp dưới chân mình, trong lòng vừa có chút buồn cười lại vừa dâng lên nỗi bùi ngùi xót xa cho số phận của con gái rượu, đành buông một tiếng thở dài thật khẽ rồi đưa tay đỡ hắn dậy, miệng cất lời gọi một tiếng con rể đầy miễn cưỡng.
Tạ Thành kéo Chúc Hợp đứng thẳng dậy, sắc mặt trở nên vô cùng nghiêm nghị khi bắt đầu dặn dò những điều hệ trọng liên quan đến cuộc hôn nhân chớp nhoáng này. Ông trầm giọng bảo rằng tình hình gia cảnh hiểm nghèo lúc này chắc hẳn Chúc Hợp cũng đã lờ mờ đoán được phần nào, thế lực của bổn gia đang rình rập ngoài kia như hổ đói rình mồi, cho nên ông dự định sẽ tổ chức hôn lễ thật khẩn trương chỉ trong vòng ba ngày tới để biến mọi sự thành ván đã đóng thuyền. Ông sẽ chuẩn bị chu tất mọi khế ước ruộng đất màu mỡ cùng một lượng lớn ngân lượng vàng bạc coi như của hồi môn trao riêng cho hai vợ chồng, để sau này dẫu có xảy ra bất kỳ biến cố phong ba nào thì con gái ông cũng có đủ sản nghiệp tự chủ mà sống một đời an nhàn sung túc.
Nói đến đây, đôi mắt Tạ Thành bỗng lóe lên một tia sắc lạnh đầy uy quyền của một người cha sẵn sàng liều mạng để che chở cho giọt máu của mình. Ông nhìn chằm chằm vào mặt Chúc Hợp, cất giọng đe nẹt đầy nghiêm khắc rằng Tạ Phác là bảo bối mà vợ chồng ông nâng niu như ngọc quý từ thuở lọt lòng, nếu sau này thành thân rồi mà Chúc Hợp dám cậy tài khinh bạc, ức hiếp hay để cho nàng phải chịu nửa phần ấm ức, tủi hờn thì dẫu có phải đuổi cùng giết tận đến chân trời góc bể, ông cũng nhất định sẽ không bao giờ tha thứ cho hắn. Lời cảnh cáo đanh thép ấy vang vọng trong thư phòng như một lời thề sắt đá của tình phụ tử thiêng liêng.
Trước sự đe nẹt nghiêm khắc của vị nhạc phụ tương lai, Chúc Hợp không những không hề sợ hãi hay nao núng, mà trái lại trong lòng hắn càng thêm kính trọng và biết ơn tấm lòng thương con vô bờ bến của Tạ Thành. Hắn ngẩng cao đầu, ánh mắt sáng ngời tràn đầy sự chân thành tuyệt đối, lập tức thay đổi cách xưng hô một cách vô cùng tự nhiên và dõng dạc. Hắn chắp tay cung kính thưa rằng nhạc phụ xin hãy rộng lòng yên tâm, con rể xin lấy tính mạng và danh dự của cả đời mình ra thề thốt trước hương linh tổ tiên, rằng con sẽ toàn tâm toàn ý yêu thương, trân trọng và bảo bọc nàng suốt cả cuộc đời này, tuyệt đối không bao giờ để nàng phải chịu một chút thiệt thòi hay rơi một giọt nước mắt ấm ức nào.
Nhìn thấy vẻ mặt hớn hở, tràn ngập niềm vui sướng rạng rỡ của Chúc Hợp cùng cái miệng lanh lợi đổi xưng hô ngọt xớt thành nhạc phụ nhanh như gió thoảng, Tạ Thành vừa bực mình vừa buồn cười, chỉ biết lắc đầu ngao ngán tự hỏi không biết phu nhân và con gái của mình rốt cuộc đã nhìn trúng điểm gì ở tên tiểu tử mặt dày mày dạn này. Ông khua tay xua đuổi Chúc Hợp ra ngoài, dặn dò hắn trong ba ngày tới phải tạm dừng việc dạy học cho Tạ Kì để chuẩn bị tinh thần và lễ phục cho ngày đại hỷ. Chúc Hợp cúi đầu hành lễ chu tất rồi quay lưng bước ra khỏi thư phòng, từng bước chân sải dài trên hành lang đá xanh mà ngỡ như mình đang bước đi trên những đám mây ngũ sắc bồng bềnh giữa trời xanh.
Tin tức chấn động về việc cự phú Tạ Thành quyết định kén chọn Chúc tiên sinh làm hiền tế và chuẩn bị gả đại tiểu thư Tạ Phác chỉ trong vòng ba ngày tới nhanh chóng lan truyền khắp các ngóc ngách của Tạ phủ như một cơn gió lốc. Đám gia nhân, tỳ nữ ai nấy đều xôn xao bàn tán không ngớt, vừa kinh ngạc trước sự việc chưa từng có tiền lệ này, vừa ngấm ngầm ghen tị với vận may trời ban của một kẻ bần hàn trôi dạt bỗng chốc một bước lên mây trở thành cô gia quyền quý. Trong số những người đón nhận tin tức ấy, Mã Đại là người bàng hoàng và xúc động hơn cả. Hắn không thể ngờ được rằng người đệ đệ thư sinh gầy gò từng cùng mình chịu đói chịu rét nơi góc tường thành ngày nào, nay lại chuẩn bị rước được thiên kim tiểu thư như hoa như ngọc về làm thê tử.
Chiều hôm ấy, Mã Đại lập tức túm lấy cổ áo Chúc Hợp lôi xềnh xệch ra một quán rượu nhỏ tồi tàn nằm ở góc khuất của con phố phía tây Bình Thành. Mã Đại đặt mạnh vò rượu hoa điêu lớn xuống mặt bàn gỗ ọp ẹp, đôi mắt mở to nhìn Chúc Hợp trân trối suốt một hồi lâu rồi bất chợt cười lớn ha hả, tiếng cười vang dội làm rung rinh cả mái tranh xiêu vẹo của quán cóc ven đường. Trong ánh mắt của người đại ca giang hồ phong trần ấy thoáng hiện lên một chút ghen tị, hâm mộ rất đỗi con người, nhưng trên hết vẫn là sự chân thành và niềm vui mừng khôn xiết dành cho người đệ đệ kết nghĩa hoạn nạn có nhau. Hắn rót đầy hai bát rượu lớn tràn cả ra mép bàn, cất giọng hào sảng bảo rằng đời người quả thực như một giấc mộng hoang đường, hôm nay không say túy lúy thì tuyệt đối không cho Chúc Hợp bước chân về phủ.
Hai huynh đệ vừa uống rượu vừa ôn lại những ngày tháng cơ hàn cực nhục, những đêm đông giá rét phải ôm nhau mà ngủ để sưởi ấm dưới mái hiên chùa đổ nát. Mã Đại nấc lên một tiếng vì hơi men cay nồng, vỗ mạnh vào lưng Chúc Hợp dặn dò rằng sau này đã làm người có thân phận, có thê tử danh môn khuê các thì phải sống cho đàng hoàng đĩnh đạc, tuyệt đối không được quên đi những tháng ngày gian khó đã qua và phải hết lòng đối đãi tử tế với Tạ gia. Chúc Hợp xúc động nâng bát rượu lớn uống cạn một hơi, trong lòng thầm cảm tạ tấm chân tình mộc mạc của người huynh đệ thảo mãng, đồng thời càng thêm thấm thía giá trị của cơ hội tái sinh mà ông trời đã ưu ái ban tặng cho cuộc đời mình.
Không khí chuẩn bị cho hôn lễ trong ba ngày ngắn ngủi tại Tạ phủ diễn ra vô cùng khẩn trương, tất bật nhưng lại được tiến hành trong sự kín kẽ và bảo mật tối đa. Để tránh tai mắt của đám người bổn gia Tạ Nhượng đang rình rập dòm ngó và ngăn chặn tin tức lọt ra ngoài trước khi việc đã rồi, Tạ Thành hạ lệnh phong tỏa nghiêm ngặt các cổng ra vào, nội bất xuất ngoại bất nhập đối với toàn bộ người hầu kẻ hạ. Mọi nghi thức cưới xin rườm rà theo phong tục cổ truyền như nạp thái, vấn danh, nạp cát đều được giản lược tối đa chỉ trong chớp mắt; thay vào đó, Tạ phu nhân dốc toàn bộ tâm lực chăm chút cho lễ phục tân nương và chuẩn bị chu tất mọi đồ dùng khuê phòng tốt nhất cho con gái rượu.
Đúng ngày lành tháng tốt đã định, hôn lễ diễn ra trong phạm vi nội bộ Tạ phủ mà không hề mời mọc bất kỳ tân khách hay họ hàng thân thích nào bên ngoài. Dưới ánh sáng rực rỡ của hàng chục ngọn nến đỏ thêu hoa long phụng và khói trầm nghi ngút nơi từ đường, Chúc Hợp trong bộ hỷ phục màu đỏ thẫm thêu chỉ vàng sang trọng, dáng người cao ráo khôi ngô, sánh bước bên cạnh tân nương Tạ Phác đang trùm chiếc khăn voan đỏ thêu hoa tinh xảo. Hai người cùng nhau quỳ lạy trời đất, bái tạ song thân và hoàn tất nghi thức phu thê giao bái trong sự xúc động nghẹn ngào của vợ chồng Tạ Thành cùng ánh mắt ngưỡng mộ xen lẫn chúc phúc của những người có mặt. Tạ Thành ngồi trên ghế chủ vị, nhìn hai đứa trẻ hoàn tất nghi lễ danh chính ngôn thuận mà hai hàng nước mắt lăn dài trên gò má, tảng đá đè nặng trong lòng ông suốt bao ngày qua cuối cùng cũng được trút bỏ, dập tắt hoàn toàn dã tâm cống nạp của gia chủ Tạ Nhượng.
Khi bóng đêm buông xuống hoàn toàn, những tiếng chúc tụng ồn ã nơi tiền sảnh dần dần lắng xuống, nhường chỗ cho sự tĩnh mịch thiêng liêng của đêm động phòng hoa chúc. Chúc Hợp bước từng bước chậm rãi qua hành lang dài rợp bóng đèn lồng đỏ, khẽ đẩy cánh cửa gỗ chạm hoa của gian tân phòng mới được bài trí lộng lẫy. Mùi hương quế quyện lẫn hương trầm thoang thoảng dịu ngọt lập tức vây lấy khứu giác của hắn, đưa hắn bước vào một không gian ấm áp huyền ảo như chốn bồng lai tiên cảnh. Trên chiếc giường cưới trải đệm gấm thêu tích uyên ương hỷ hước, ánh nến đỏ lung linh nhảy múa soi rọi bóng hình thon thả, kiều diễm của Tạ Phác đang ngồi khép nép ngay ngắn chờ đợi phu quân.
Chiếc khăn voan đỏ thêu hoa lộng lẫy che khuất hoàn toàn dung nhan tuyệt mỹ của nàng, chỉ để lộ ra đôi bàn tay búp măng trắng ngần đang siết nhẹ lấy dải lụa thêu hoa trước gối. Chúc Hợp đứng chôn chân bên mép giường, lặng lẽ ngắm nhìn người thê tử của mình mà cõi lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc mãnh liệt đan xen lẫn lộn. Hắn nhớ lại kiếp trước tăm tối của mình, khi hắn đắm chìm trong danh lợi phù phiếm và những lời đường mật dối trá của đám thê thiếp tranh sủng, để rồi lạnh nhạt, phụ bạc và đẩy người phụ nữ hiền thục đoan trang này vào cảnh cô đơn sầu muộn cho đến tận lúc lâm chung. Nỗi ân hận tột cùng cào xé tâm can hắn suốt bao năm tháng lưu lạc nơi hoàng tuyền dường như vẫn còn nguyên vẹn trong từng hơi thở.
Đứng trước cảnh tượng hạnh phúc ngỡ như trong cõi mộng ảo này, Chúc Hợp bỗng nhiên cảm thấy hoang mang lo sợ rằng tất cả chỉ là một giấc chiêm bao hão huyền do tâm thức hắn tự dệt nên giữa những ngày đông lạnh giá. Để tự chứng minh cho bản thân thấy đây là sự thật hiển hiện, hắn bất giác đưa bàn tay run rẩy xuống, dùng hết sức véo thật mạnh vào bắp đùi của mình một cái đau điếng. Cơn đau nhói buốt truyền thẳng lên đại não làm toàn thân hắn khẽ giật mình, thế nhưng ngay sau cơn đau ấy, một nụ cười rạng rỡ, ngập tràn niềm hạnh phúc vô biên bỗng bừng sáng trên gương mặt khôi ngô của chàng thư sinh trẻ tuổi.
Cơn đau ấy là thật, gian phòng tân hôn rực rỡ này là thật, và người thê tử ngoan hiền đang ngồi lặng lẽ đợi chàng dưới lớp khăn voan đỏ kia cũng hoàn toàn là thật. Hắn không hề nằm mơ, ông trời đã thực sự rủ lòng thương ban cho hắn cơ hội sống lại lần thứ hai để chuộc lại toàn bộ những lỗi lầm nghiệt ngã của tiền kiếp. Chúc Hợp khẽ bước tới gần chiếc giường cưới thêm một bước, ánh mắt chàng ngập tràn tình yêu thương tha thiết và sự kiên định sắt son, tự nhủ từ giây phút này trở đi, chàng sẽ dùng cả sinh mệnh và linh hồn của mình để chở che cho nàng, quyết một đời một kiếp một đôi người, dẫu cho phong ba bão táp hay gươm đao của giặc ngoại bang có ập đến cũng tuyệt đối không bao giờ buông tay. Chàng vươn tay cầm lấy chiếc cân hỷ bằng gỗ đào đặt trên bàn trà, từng ngón tay run rẩy khẽ nâng mép khăn voan đỏ lên trong sự hồi hộp vô bờ bến, sẵn sàng đón nhận số phận mới bên người con gái đã định mệnh thuộc về cuộc đời chàng.