Chương 8: Cúi Đầu Xin Cưới Và Tránh Họa Xâm Lăng
Tạ Nhượng ngồi vững trên chiếc ghế gia chủ của Tạ thị đã nhiều năm, nương nhờ vào bóng râm quyền lực của quý tộc người Hồ mà hưởng thụ cuộc sống an nhàn nhung lụa. Mặc dù sự an nhàn vinh hoa ấy được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt và sự hy sinh tủi nhục của bao nhiêu phận nữ nhi trong tông tộc, nhưng trong thâm tâm lão chưa từng dấy lên một tia áy náy nào. Hơn mười năm qua tại đất bắc này, Tạ Nhượng luôn nói một là một, nói hai là hai, lời lão ban ra tựa như thánh chỉ không ai dám làm trái; con cháu họ Tạ chi trên chi dưới đều cúi đầu răm rắp phục tùng dưới uy thế của lão. Năm xưa, khi nghe tin gia đình Tạ Thành gồm cả già trẻ lớn bé dứt khoát thu dọn hành lý rời khỏi bổn gia để chuyển đến Bình Thành lập nghiệp, Tạ Nhượng từng vô cùng kinh ngạc xen lẫn giận dữ. Chẳng qua vào thời điểm ấy lão vừa mới đoạt được vị trí gia chủ, nội bộ gia tộc còn nhiều mối nghi kỵ và nguy cơ tứ phía bủa vây, lão đành phải nuốt cục tức vào trong, tỏ vẻ khoan dung rộng lượng mà không truy cứu đến cùng. Chớp mắt một cái, thời gian đã thoi đưa trôi qua hơn mười năm bình yên nơi đất khách quê người.
Giờ đây, ngọn lửa chiến loạn ở phương bắc ngày càng lan rộng, dã tâm của những bộ tộc ngoại bang ngày một bành trướng không đáy. Những cô nương dung mạo thanh tú, xinh đẹp nhất của các chi thứ họ Tạ hầu hết đều đã bị Tạ Nhượng đem đi làm vật phẩm cống nạp, dâng tặng cho các tướng lĩnh hung bạo của người Hồ để đổi lấy quyền uy và bổng lộc. Đến khi phía ngoại tộc tiếp tục đòi hỏi thêm mỹ nhân dòng dõi thế gia, Tạ Nhượng lại xót xa đứa con gái ruột mà lão nâng niu như ngọc quý trong tay, không nỡ đẩy con mình vào hang hùm miệng cọp. Lão tính đi tính lại, cuối cùng nhớ đến Tạ Phác - đứa cháu gái thanh thuần đoan trang của chi thứ Bình Thành vốn đã đến tuổi cập kê. Tạ Nhượng lạnh lùng quyết định để Tạ Phác gánh chịu tai kiếp lần này thay cho con gái lão, xem đó là nghĩa vụ tất yếu của một kẻ thuộc chi thứ đối với bổn gia. Muốn ép Tạ Thành phải ngoan ngoãn giao nộp cốt nhục của mình, lão hiểu rõ không thể nóng vội dùng vũ lực thô bạo ngay từ đầu mà phải tìm cách bắt thóp, định ra tội danh làm hoen ố gia phong để có cớ trị tội rồi danh chính ngôn thuận mang người đi.
Từ hôm Tạ Lâm được Tạ Thành giải vây khỏi đám dân chúng phẫn nộ và cứu ra khỏi phủ Bình Thành, bổn gia đã nghiêm khắc truyền lệnh cấm hắn không được tự tiện nhúng tay vào việc này nữa, mọi chuyện sẽ do đích thân gia chủ đứng ra đòi lại thể diện. Tạ Lâm ôm một mối hận thù cay đắng tận xương tủy, một kẻ quen thói kiêu ngạo từ nhỏ như hắn chưa từng phải chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề đến nhường ấy; hắn không còn mặt mũi nào nhìn mặt bằng hữu cùng trang lứa, ngày đêm chỉ mong xé xác Chúc Hợp ra làm trăm mảnh. Điều khiến hắn càng thêm điên tiết là Tạ Thành chẳng những không trừng phạt đám khất cái bần hàn kia mà trái lại còn dang tay che chở, thu nhận toàn bộ bọn họ vào phủ làm gia đinh ăn lương tháng đàng hoàng. Tạ Lâm cho rằng Tạ Thành cố ý coi thường bổn gia, không xem một tiểu bối như hắn ra gì, bèn lập tức chạy về quỳ rạp dưới chân Tạ Nhượng mà thêm dầu vào lửa. Hắn thêu dệt nên bao nhiêu điều sai trái, phóng đại sự ngỗ ngược của Tạ Thành và sự lộng hành của bọn ăn mày tại Bình Thành nhằm kích động lòng tự ái của gia chủ, khẩn thiết cầu xin bổn gia xuất thủ làm chủ cho mình.
Lời cáo trạng đầy oán hận của Tạ Lâm chính là cái cớ hoàn hảo nhất mà Tạ Nhượng đang mong chờ để tìm đến gây chuyện với chi thứ Bình Thành. Rút kinh nghiệm từ sự non nớt và nông nổi của Tạ Lâm, lần này Tạ Nhượng không phái đám thanh niên trẻ tuổi hung hăng đi nữa, thay vào đó lão đích thân mời trưởng bối Tạ Khánh - một người có bối phận cao và tiếng tăm đức cao vọng trọng trong dòng tộc - đại diện cho bổn gia đi một chuyến. Tính theo thứ bậc gia phả, Tạ Thành phải cung kính gọi Tạ Khánh bằng một tiếng tam thúc; từ xưa đến nay họ Tạ luôn lấy lễ nghĩa Nho gia làm đầu, con cháu đều được dạy dỗ phải một lòng kính già yêu trẻ, tôn sư trọng đạo. Tạ Khánh ỷ vào thân phận trưởng bối, mang theo gia quy tông pháp và cả danh nghĩa đại cục của toàn thể Tạ thị đến phủ Bình Thành, lớn tiếng chỉ trích Tạ Thành bao che cho phường hạ lưu, đồng thời yêu cầu ông phải lập tức dâng Tạ Phác lên bổn gia để làm tròn chữ hiếu và chuộc lại lỗi lầm bất kính.
Thế nhưng, Tạ Khánh đã hoàn toàn tính toán sai lầm về bản lĩnh và lòng dạ kiên định của Tạ Thành. Người đàn ông trung niên từng một mình dẫn dắt gia quyến rời khỏi kinh thành năm xưa vốn dĩ chưa bao giờ là kẻ nhu nhược chịu để người khác giẫm đạp lên đầu; đối với ông, tôn kính trưởng bối là việc nên làm, nhưng nếu trưởng bối cấu kết với kẻ ác để đẩy con gái rượu của mình vào chỗ chết thì tấm lòng hiếu kính ấy cũng tan thành mây khói. Đứng giữa sảnh đường trang nghiêm, Tạ Thành không chút sợ hãi, thẳng thắn vạch trần dã tâm đê tiện của Tạ Nhượng muốn dùng mạng nữ nhi nhà ông để lót đường danh vọng cho chi trưởng. Trước sự thịnh nộ và những lời đe dọa trục xuất khỏi gia phả của Tạ Khánh, Tạ Thành chỉ lạnh lùng cười nhạt, dứt khoát từ chối mọi yêu sách vô lý; không dừng lại ở đó, ông lập tức hạ lệnh cho đám gia đinh to khỏe vừa mới thu nhận áp giải Tạ Khánh về khu nhà khách ở tận góc sâu của hậu viện. Tạ Thành bố trí lính gác nghiêm ngặt ngày đêm, giam lỏng hoàn toàn vị tam thúc này để phong tỏa mọi tin tức, quyết không để lão có cơ hội truyền bất kỳ bức mật thư nào về kinh thành.
Hành động quả quyết của Tạ Thành đã khiến toàn bộ người hầu kẻ hạ trong phủ Bình Thành không khỏi kinh hoàng thầm run rẩy. May mắn thay, gia đình ông đã tách khỏi tông tộc từ mười mấy năm trước, bằng không nếu hành vi bị coi là đại nghịch bất đạo này diễn ra ngay tại từ đường bổn gia, Tạ Thành chắc chắn sẽ phải chịu những trận đòn gia pháp thập tử nhất sinh, bị tước đoạt toàn bộ gia sản rồi giam cầm đến chết. Tuy nhiên, Tạ Thành biết rất rõ rằng giam lỏng Tạ Khánh chỉ là hạ sách tạm thời để kéo dài thời gian; Tạ Nhượng là một kẻ nham hiểm và tàn độc, một khi nhận thấy Tạ Khánh bặt vô âm tín quá lâu, lão nhất định sẽ không chịu bỏ qua. Khi ấy, bổn gia hoàn toàn có thể cấu kết với quan phủ địa phương hoặc thậm chí mượn tay kỵ binh người Hồ để danh chính ngôn thuận ập vào cướp người. Dù có phải liều mạng già này để đối đầu với cả dòng tộc, Tạ Thành cũng đã thề với lòng mình rằng phải bảo vệ giọt máu đầu lòng đến cùng, tuyệt đối không để con gái phải chịu chung số phận bi thảm với những phận đời nữ nhân trước đó.
Khi màn đêm buông xuống, không khí trong gian phòng ngủ của vợ chồng viên ngoại trầm mặc đến nghẹt thở. Ngọn nến leo lét trên bàn gỗ đàn hương tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, hắt bóng hai người lên vách tường tạo thành những vệt dài trăn trở. Tạ phu nhân sau khi cẩn thận trải lại chăn đệm liền quay sang nhìn phu quân, thấy ông vẫn ngồi lặng lẽ bên bàn trà, đôi lông mày nhíu chặt lại như hai lưỡi kiếm gỉ sét, trên tay cầm chén trà nguội ngắt từ lâu mà chẳng buồn nhấp môi. Bà bước lại gần, khẽ đặt bàn tay mềm mại lên bờ vai gầy guộc của chồng, giọng nói mang theo sự xót xa nghẹn ngào khuyên nhủ ông đừng nghĩ ngợi quá nhiều mà hãy mau đi nghỉ ngơi giữ gìn sức khỏe.
Tạ Thành nghe tiếng vợ thì khẽ giật mình, ông buông một tiếng thở dài thườn thượt, khóe mắt đã hằn sâu những nếp nhăn của sự mệt mỏi và dằn vặt. Ông nắm lấy bàn tay phu nhân, giọng run run bảo rằng làm sao ông có thể chợp mắt cho được khi tính mạng và danh tiết của con gái đang ngàn cân treo sợi tóc. Ông từng tuyên bố trước mặt người đời rằng dù có phải gả A Phác cho một kẻ ăn mày khất cái nghèo hèn thì cũng quyết không để con bé bị áp giải đến trướng giặc Hồ làm trò tiêu khiển cho lũ dã man, thế nhưng nói ra lời cay đắng ấy lòng người làm cha như bị dao cắt từng khúc ruột. Ông chỉ tự trách bản thân năm xưa quá đỗi yêu thương con, không nỡ gả nàng đi sớm nên mới dùng dằng giữ con ở lại bên cạnh đến tận tuổi này, để rồi hôm nay sự chậm trễ ấy lại vô tình biến thành mối họa lớn, khiến nàng trở thành miếng mồi ngon cho dã tâm của bổn gia.
Nhìn vẻ mặt tiều tụy của chồng, Tạ phu nhân rơm rớm nước mắt gặng hỏi xem ông rốt cuộc đã có dự tính hay tính toán gì trong đầu hay chưa. Bà hiểu rất rõ tính khí của Tạ Thành, một người đàn ông cương nghị cả đời chưa từng chịu khuất phục trước nghịch cảnh, nhưng bà chỉ sợ trong cơn bế tắc cùng quẫn, ông lại nảy sinh những suy nghĩ liều lĩnh nguy hiểm. Tạ Phác là đứa con đầu lòng của hai người, là kết tinh tình yêu sâu đậm thuở hàn vi, từng ngày từng tháng được bà ấp ủ nuôi nấng trưởng thành; nhìn đứa con gái ngoan ngoãn nết na, cầm kỳ thi họa đều vẹn toàn suốt gần hai mươi năm qua, bà chỉ cần tưởng tượng đến cảnh nàng phải chịu đọa đày nơi đất khách biên thùy là trái tim người mẹ đã thắt lại từng cơn buốt nhói.
Tạ Thành khẽ vuốt ve mu bàn tay vợ, trầm ngâm hồi lâu như đang cân nhắc từng lời nói trong bụng rồi ngập ngừng hỏi bà có còn nhớ đến mấy huynh đệ của Mã Đại hay không. Tạ phu nhân nghe vậy thì hơi sững người, trong lòng dấy lên một dự cảm bất an, bà ngước đôi mắt ngấn lệ nhìn thẳng vào phu quân mà dò hỏi ý tứ thực sự đằng sau câu nói ấy. Tạ Thành chậm rãi phân tích rằng Mã Đại tuy mang tiếng là khất cái lưu lạc đầu đường xó chợ, nhưng qua những ngày quan sát vừa rồi, ông nhận thấy người này tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài, đối đãi với huynh đệ vô cùng thành thật và có uy tín lớn trong chốn giang hồ.
Lời của Tạ Thành còn chưa kịp dứt thì Tạ phu nhân đã lập tức đứng bật dậy, dứt khoát gạt phắt đi và lớn tiếng phản bác rằng bà tuyệt đối không bao giờ đồng ý với ý định điên rồ ấy. Trước phản ứng gay gắt chưa từng có của người vợ hiền thục, Tạ Thành thoáng chút bối rối, vội vàng cất tiếng hỏi lý do vì sao bà lại cự tuyệt quyết liệt đến như vậy. Tạ phu nhân vừa khóc vừa nghẹn ngào bày tỏ nỗi lòng, bà bảo rằng Mã Đại dẫu có tốt tính đến đâu thì chung quy vẫn chỉ là một kẻ ăn mày thô kệch, không học thức, đến ba bữa cơm mỗi ngày trước đây còn phải ngửa tay xin thiên hạ thì làm sao có thể mang lại cho con gái rượu của họ một cuộc sống ấm êm, tử tế; phận làm cha làm mẹ nuôi con khôn lớn, có ai lại đành lòng nhìn đứa con gái cành vàng lá ngọc của mình phải bước chân vào cảnh bần hàn cơ cực như thế.
Thấy phu nhân kích động đến mức toàn thân run rẩy, Tạ Thành trong lòng vô cùng áy náy và chột dạ. Từ ngày hai người nên duyên vợ chồng đến nay, Tạ phu nhân luôn là một người phụ nữ đoan trang, dịu dàng, việc trong việc ngoài đều một mực thuận theo ý chồng; đây là lần đầu tiên bà tỏ ra giận dữ và kiên quyết đối đầu với ông như vậy. Ông vội vàng đứng dậy đỡ lấy vai vợ, dịu giọng an ủi rằng trong phủ đâu chỉ có một mình Mã Đại, nếu bà không vừa ý thì vẫn còn những sự lựa chọn khác để bàn bạc, chứ ông tuyệt đối không bao giờ muốn làm tổn thương đến con gái. Ông giải thích rằng sở dĩ nghĩ đến Mã Đại là vì hoàn cảnh thúc ép quá mức ngặt nghèo; nếu gả Tạ Phác cho một gã ăn mày trượng nghĩa, ông sẽ chuẩn bị sẵn một khối của hồi môn thật hậu hĩnh gồm ruộng vườn, nhà cửa và bạc trắng đầy rương để hai đứa tự lập, Mã Đại chắc chắn sẽ đội ơn sâu nghĩa nặng của họ Tạ mà cả đời nâng niu, cung phụng Tạ Phác như báu vật, cho dù sau này hai vợ chồng già có nhắm mắt xuôi tay thì con gái cũng không sợ bị hắt hủi hay bạc đãi.
Thế nhưng những lời phân trần chí tình chí lý ấy vẫn không thể xoa dịu được nỗi xót xa đang cào xé tâm can của Tạ phu nhân. Bà gạt nước mắt, quay mặt vào vách tường mà cự tuyệt nói chuyện, kiên quyết cho rằng giữa thiên hạ bao la này không lẽ lại không tìm được một người tử tế, đàng hoàng hơn để gửi gắm thân ngọc. Tạ Thành thở ngắn than dài, đành phải bỏ dở câu chuyện kén rể giữa chừng, toàn tâm toàn ý ngồi bên cạnh dỗ dành, nhận lỗi để mong phu nhân nguôi cơn sầu muộn. Suốt cả đêm hôm ấy, không khí trong phòng chìm vào sự im lặng nặng nề, Tạ phu nhân quay lưng đi không thèm đoái hoài đến ông, khiến Tạ Thành càng thêm trăn trở và đau đớn khôn nguôi; ông hiểu rõ lòng dạ người mẹ thương con là chính đáng, nhưng cái bẫy chết người mà bổn gia đang giăng ra thì lại không cho phép họ có quá nhiều thời gian để do dự.
Sáng ngày hôm sau, sương mù dày đặc vẫn còn bao phủ khắp các ngõ ngách của Bình Thành, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng biên ải. Tạ Thành thức dậy từ rất sớm, lòng dạ như có lửa đốt, ông liên tục phái gia nhân ra ngóng trông động tĩnh ở cửa phủ xem người của bổn gia có kéo đến đòi người hay tìm kiếm Tạ Khánh hay không. Chờ đợi suốt mấy canh giờ liền mà bên ngoài vẫn hoàn toàn yên ắng một cách đáng ngờ, sự tĩnh lặng ấy không những không làm ông an lòng mà trái lại càng khiến trực giác mách bảo rằng một cơn bão tố khủng khiếp hơn đang âm thầm tích tụ ở kinh thành. Để xua đi sự bồn chồn đang đè nặng trong lồng ngực, Tạ Thành quyết định rảo bước về phía viện dạy học ở mé đông hậu viện để kiểm tra tình hình học tập của cậu con trai độc nhất là Tạ Kì.
Khi bước chân đến gần hiên nhà râm mát rợp bóng cây hòe cổ thụ, Tạ Thành bỗng khựng lại khi nghe thấy những âm thanh tranh luận sôi nổi, khúc chiết vọng ra từ bên trong thư phòng. Qua khe cửa sổ hé mở, ông nhìn thấy Chúc Hợp đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế mây đối diện với Tạ Kì; trên chiếc bàn gỗ bày biện mấy cuốn sách cổ cùng một đĩa bánh ngọt còn dang dở. Điều khiến Tạ Thành vô cùng ngạc nhiên là Chúc Hợp hôm nay không hề bắt Tạ Kì phải ê a tụng niệm những bài thơ từ sáo rỗng hay những khuôn phép Nho gia cứng nhắc như các vị gia sư thông thường, mà chàng trai trẻ này đang cùng tiểu công tử bàn luận về một đề tài vô cùng rộng lớn: Liệu một quốc gia muốn trường tồn và hưng thịnh thì nên lấy nông nghiệp làm gốc rễ sinh tồn hay phải dựa vào thương nghiệp để khai thông nguồn của cải dồi dào.
Tạ Kì với sự non nớt của một đứa trẻ mười tuổi liền nhanh nhảu dẫn lại lời dạy của Triệu tiên sinh, cho rằng cổ nhân luôn dạy sĩ nông công thương, người làm ruộng đổ mồ hôi gieo hạt nuôi sống thiên hạ mới là gốc rễ thanh cao, còn kẻ làm nghề buôn bán chỉ biết chạy theo lợi nhuận trước mắt, lừa lọc đầu cơ tích trữ nên xếp ở bậc thấp hèn nhất trong xã hội. Nghe xong lời đáp ấy, Chúc Hợp không hề trách mắng mà chỉ khẽ mỉm cười, ánh mắt toát lên vẻ bao dung và thông tuệ sâu sắc. Chàng từ tốn dùng những hạt đậu và chén trà trên bàn để làm ví dụ minh họa trực quan, kiên nhẫn giảng giải cho Tạ Kì hiểu rằng nông nghiệp quả thực là gốc rễ để đảm bảo cái ăn cái mặc cơ bản cho muôn dân, nhưng nếu một đất nước chỉ biết cắm mặt vào đồng ruộng mà không có thương nhân mang lúa gạo từ nơi thừa đến nơi thiếu, không có người giao thương hàng hóa để đổi lấy muối, sắt và thuốc men thì nền kinh tế ấy sẽ trở nên xơ cứng, bế tắc và người nông dân dẫu có mùa màng bội thu cũng vẫn rơi vào cảnh khốn cùng vì không thể tiêu thụ được nông sản.
Chúc Hợp nhấn mạnh rằng thương nghiệp chính là dòng máu lưu thông trong cơ thể của một quốc gia, nối liền các vùng miền xa xôi, mang lại sự phồn thịnh và sức mạnh tài chính để duy trì quân đội chống lại ngoại xâm; chỉ khi nông thương cùng phát triển, bổ trợ cho nhau thì bá tánh mới có thể an cư lạc nghiệp và đất nước mới đủ sức đứng vững trước sóng gió thời cuộc. Những lời đàm đạo ấy khúc chiết, mạch lạc, vừa mang tầm nhìn chiến lược sâu rộng lại vừa gần gũi với thực tế đời sống, khiến cậu bé Tạ Kì nghe đến đâu liền sáng mắt ra đến đó, liên tục gật đầu thán phục và đặt thêm những câu hỏi sắc bén mà trước đây chưa từng dám thốt ra trước mặt Triệu tiên sinh.
Đứng nép mình bên ngoài rèm thưa, Tạ Thành lắng nghe từng câu từng chữ không sót một lời, trong lòng dấy lên những đợt sóng chấn động mãnh liệt. Gia đình ông vốn dĩ xuất thân từ thương gia, lăn lộn cả đời trên thương trường nếm trải đủ mọi cay đắng, bị đám thế gia vọng tộc coi thường là hạng con buôn thực dụng chỉ biết đến tiền bạc; nay nghe một người trẻ tuổi như Chúc Hợp phân tích rành rọt, thấu tình đạt lý và trân trọng giá trị của nghề buôn đến nhường ấy, Tạ Thành cảm thấy như vừa tìm được một tri kỷ hiểu thấu nỗi lòng mình. Ông thầm kinh ngạc trước vốn học vấn uyên bác và tư duy vượt tầm thời đại của tên khất cái này; Chúc Hợp rõ ràng là một viên ngọc thô hiếm có trong thiên hạ, ngoại trừ cái thói xấu hay ăn nói ngông cuồng, khoác lác về những chuyện cao xa mà ông từng chứng kiến trong ngày đầu gặp gỡ, thì tài năng của hắn thực sự khiến người ta phải nghiêng mình nể phục.
Tạ Thành lặng lẽ quay gót trở về thư phòng chính, bóng dáng trầm ngâm bước từng bước chậm rãi trên con đường rải sỏi hoa cương. Trong tâm trí ông lúc này, hình bóng của Chúc Hợp bất ngờ hiện lên rõ nét, xen ngang vào cuộc trăn trở kén rể cho con gái rượu. Nếu đặt hai người lên bàn cân so sánh, quả thực có sự khác biệt một trời một vực giữa Mã Đại và Chúc Hợp. Mã Đại thì thân hình vạm vỡ, lưng hùm vai gấu, tính tình bộc trực hào sảng, quen thói hành tẩu giang hồ và nắm trong tay cả một mạng lưới huynh đệ sẵn sàng liều mạng vì nhau; đó là thứ sức mạnh cơ bắp có thể bảo bọc Tạ Phác trước những hiểm nguy thô bạo. Nhưng nhìn từ góc độ của một tiểu thư khuê các xuất thân từ gia đình lễ giáo, Mã Đại lại hoàn toàn thiếu đi sự nho nhã, tinh tế cần thiết để hòa hợp tâm hồn với Tạ Phác; người mẹ như Tạ phu nhân làm sao có thể chấp nhận một chàng rể thô lỗ, không biết chữ nghĩa như thế.
Trái lại, Chúc Hợp lại mang trọn vẹn phong thái của một bậc danh sĩ phong lưu, diện mạo khôi ngô tuấn tú, mày thanh mắt sáng, cử chỉ đĩnh đạc đàng hoàng và đặc biệt là học vấn vô cùng thâm sâu. Chỉ cần nghe hắn đàm đạo là biết đây là người đọc vạn cuốn sách, am tường thế sự, hoàn toàn xứng đôi vừa lứa với tài năng và nhan sắc của Tạ Phác. Thế nhưng điều khiến Tạ Thành vẫn chưa thể hoàn toàn yên tâm chính là sự bí ẩn về lai lịch và tính cách có phần ngông nghênh của hắn; một kẻ lưu lạc tha hương, không rõ gốc gác tông tộc, lại hay thích nói những lời kinh thiên động địa thì liệu có thực sự là bến đỗ bình yên, vững chãi cho con gái ông nương tựa suốt cuộc đời hay không.
Tạ Thành ngồi dựa lưng vào chiếc ghế bành bọc gấm, đưa tay xoa nhẹ vầng trán đang đau nhức như búa bổ. Thời cuộc hiện nay hỗn loạn khôn lường, phương bắc đã hoàn toàn rơi vào vòng kiềm tỏa của quý tộc người Hồ suốt mấy chục năm qua; bổn gia Tạ thị ở kinh thành là một trong những thế lực tay sai đắc lực nhất của ngoại bang, uy thế ngập trời, không một danh môn vọng tộc nào trong vùng dám đứng ra đắc tội với Tạ Nhượng để che chở cho Tạ Phác. Nếu muốn tìm một mối hôn sự môn đăng hộ đối ở phương nam thì đường sá xa xôi vạn dặm, chiến tranh ngăn cách, chưa kịp đưa con gái đi đến nơi thì có khi đã bị kỵ binh bổn gia đuổi theo bắt lại giữa đường. Lối thoát duy nhất lúc này là phải giải quyết dứt điểm ngay tại đất Bình Thành, gả gấp Tạ Phác cho một người đáng tin cậy ở ngay bên cạnh để biến nàng thành phụ nữ đã có gia đình, triệt tiêu hoàn toàn cái cớ tuyển chọn trinh nữ dâng cống của giặc Hồ.
Sau một hồi suy đi tính lại đến nát óc, Tạ Thành quyết định gạt bỏ sĩ diện sang một bên để quay lại phòng ngủ tìm phu nhân thương lượng thêm một lần nữa. Khi ông bước vào phòng, Tạ phu nhân vẫn còn đang giận dỗi ngồi bên bàn thêu, đôi mắt sưng mọng vì khóc suốt đêm qua, thấy bóng dáng chồng bước vào liền lập tức quay mặt đi chỗ khác không buồn lên tiếng. Tạ Thành trong lòng vừa thương vừa xót, vội vàng bước tới ngồi xổm bên cạnh chân vợ, không ngần ngại hạ mình cất lời xin lỗi, tự nhận bản thân vụng về nông cạn đã làm phu nhân phải phiền lòng tổn thương. Thấy người đàn ông vốn dĩ uy nghiêm trước mặt bao nhiêu gia nhân ngoài sảnh nay lại vì con gái mà nhún nhường khép nép dỗ dành mình như thuở mới cưới, Tạ phu nhân dẫu có giận đến mấy cũng không nỡ làm mặt lạnh mãi, bà khẽ bật cười trong tiếng nấc nghẹn ngào rồi đưa tay lau đi giọt lệ nơi khóe mắt.
Nhân lúc phu nhân đã nguôi ngoai cơn giận, Tạ Thành mới lựa lời cẩn trọng nhắc lại chuyện hôn sự cấp bách của con gái. Ban đầu, khi nghe ông bảo rằng vẫn phải chọn người trong số những kẻ vừa thu nhận vào phủ, sắc mặt Tạ phu nhân lại thoáng chốc biến đổi, toan mở miệng phản đối. Nhưng Tạ Thành đã nhanh chóng nắm lấy tay bà, ôn tồn thuật lại toàn bộ những lời đàm đạo nông thương xuất sắc mà ông vừa tận tai nghe thấy ngoài thư phòng của Tạ Kì, đồng thời phân tích cặn kẽ về con người của Chúc Hợp. Ông chỉ ra rằng Chúc Hợp tuy xuất thân bần hàn lưu lạc, nhưng diện mạo tuấn tú đàng hoàng, khí chất thanh cao nho nhã và học thức sâu rộng chẳng kém gì những bậc thám hoa bảng nhãn nơi kinh kỳ; nếu gả Tạ Phác cho hắn, con gái sẽ có một người bạn đời biết thấu hiểu thi phú, hòa hợp tâm hồn, chứ không đến nỗi phải chịu cảnh sống chung với một kẻ thô kệch cục cằn.
Tạ phu nhân chăm chú lắng nghe, trong lòng bắt đầu xuất hiện những gợn sóng dao động dữ dội. Bà không phải là người phụ nữ ngu muội, cố chấp không biết phân biệt phải trái; bà hiểu rất rõ mối hiểm họa kinh hoàng từ giặc Hồ đang lơ lửng ngay trên đầu gia đình mình, và việc gả gấp con gái chính là con đường sống duy nhất lúc này. Nỗi giằng xé nội tâm giữa một bên là mong muốn con gái được gả vào chốn quyền quý môn đăng hộ đối, và một bên là thực tế nghiệt ngã phải cứu mạng con bằng mọi giá đã khiến người mẹ đau đớn khôn xiết. Sau một hồi im lặng đến nghẹt thở, lý trí cuối cùng đã chiến thắng sự nuông chiều tình cảm; Tạ phu nhân khẽ thở dài một tiếng não ruột, gật đầu đồng ý với phu quân rằng trong những ngày tới sẽ bí mật quan sát kỹ lưỡng cả hai người là Mã Đại và Chúc Hợp, xem ai mới thực sự là kẻ có tâm tính tốt lành để trao gửi cuộc đời của Tạ Phác.
Thế nhưng, giữa lúc hai vợ chồng gia chủ đang âm thầm tính toán những bước đi cẩn trọng thì tại sương phòng phía tây, Chúc Hợp cũng không hề nhàn rỗi. Là một người mang ký ức của kiếp trước sống lại, Chúc Hợp thấu hiểu sâu sắc hơn bất kỳ ai về nỗi bi thảm tột cùng mà Tạ Phác từng phải gánh chịu khi rơi vào tay loài cầm thú ngoại bang. Kiếp trước, chàng vì u mê mông muội, vì tự ti hèn hạ mà đã phụ bạc tấm chân tình của nàng, để nàng phải chết trong cô độc và tủi nhục nơi đất khách; trời xanh rủ lòng thương cho chàng được tái sinh một lần nữa, chàng đã thề trước vong linh tổ tiên rằng dẫu có phải thịt nát xương tan, dẫu phải đối đầu với vạn mã thiên quân, chàng cũng quyết không để bất kỳ kẻ nào vấy bẩn lên một sợi tóc của nàng.
Qua những lời kể ngây thơ của Tạ Kì trong những giờ học và những tin tức mà các huynh đệ ăn mày của Mã Đại thu thập được từ khắp các quán trà cổng thành, Chúc Hợp đã nắm bắt toàn bộ tình thế nguy nan của Tạ phủ. Hắn biết Tạ Khánh đang bị giam lỏng ở hậu viện, biết Tạ Nhượng ở kinh thành đang rục rịch điều động tai mắt, và biết rõ bức màn bình yên giả tạo ở Bình Thành sắp sửa bị xé toạc. Trong lòng Chúc Hợp như có ngọn lửa thiêu đốt dữ dội; hắn hiểu rằng nếu Tạ Thành cứ dùng dằng cân đo đong đếm giữa hắn và Mã Đại, hoặc nếu bổn gia đột ngột ra tay trước khi hôn sự được định đoạt, thì toàn bộ nỗ lực thay đổi số phận của hắn sẽ tan thành tro bụi. Chàng không thể ngồi yên chờ đợi người khác ban phát cơ hội cho mình; chàng phải chủ động đứng ra gánh vác, biến bản thân thành tấm khiên vững chắc nhất để che chở cho người con gái chàng yêu thương sâu đậm.
Đúng vào lúc chập tối, bầu trời Bình Thành bỗng nhiên nổi cơn giông gió, mây đen cuồn cuộn kéo về che khuất vầng trăng khuyết, dự báo một trận mưa rào dữ dội sắp trút xuống. Bên ngoài cổng lớn của Tạ phủ bất ngờ xuất hiện một phong thư hỏa tốc do kỵ mã từ kinh thành phi như bay tới ném lại rồi lập tức quay đầu ngựa biến mất trong màn đêm. Bức thư được niêm phong bằng sáp đỏ có khắc dấu ấn gia chủ Tạ thị, bên trong chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đanh thép của Tạ Nhượng: Lão tối hậu thư yêu cầu Tạ Thành phải lập tức thả Tạ Khánh ra, đồng thời trong vòng mười ngày phải chuẩn bị sẵn sàng kiệu hoa đưa Tạ Phác về kinh thành để bàn giao cho sứ giả người Hồ; nếu quá thời hạn trên mà dám chống lệnh, bổn gia sẽ tấu bẩm lên phủ đô hộ khép Tạ Thành vào tội phản nghịch, tru di tam tộc và san bằng phủ Bình Thành thành bình địa.
Cầm bức thư với những nét chữ hung hãn trên tay, Tạ Thành tức giận đến mức toàn thân run bần bật, sắc mặt tái mét không còn một giọt máu. Ông vò nát bức thư trong lòng bàn tay, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán, cơn phẫn nộ xen lẫn sự bất lực trào dâng khiến lồng ngực ông nghẹn ứ. Mười ngày, Tạ Nhượng chỉ cho ông đúng mười ngày ngắn ngủi; khoảng thời gian ấy quá đỗi gấp gáp, tựa như một sợi thòng lọng đang siết chặt dần quanh cổ cả gia đình ông. Ngay lúc Tạ Thành đang đứng chôn chân giữa thư phòng trong nỗi tuyệt vọng tột cùng thì cánh cửa gỗ bỗng vang lên tiếng gõ nhẹ nhàng nhưng vô cùng dứt khoát.
Tạ Thành khẽ giật mình, cố kìm nén cơn giận trong lòng rồi trầm giọng quát hỏi ai đang ở bên ngoài. Cánh cửa từ từ đẩy ra, bóng dáng thanh mảnh của Chúc Hợp xuất hiện dưới ánh đèn lồng hiên nhà; chàng mặc một bộ y phục màu xanh nho nhã tuy đã sờn rách nhưng được giặt giũ vô cùng sạch sẽ, trên gương mặt tuấn tú toát lên một vẻ điềm tĩnh lạ thường, hoàn toàn không có vẻ gì là sợ hãi trước bầu không khí ngột ngạt đang bao trùm lấy Tạ phủ. Chúc Hợp bước vào trong phòng, khép chặt cánh cửa lại sau lưng rồi cung kính vòng tay hành lễ trước Tạ Thành, cất giọng trầm ấm xin phép viên ngoại cho mình được diện kiến để đàm đạo một việc hệ trọng liên quan đến sự tồn vong của toàn thể gia tộc.
Tạ Thành nheo mắt nhìn chàng thư sinh trẻ tuổi trước mặt, trong lòng dấy lên sự nghi hoặc lẫn khó chịu; ông đang lúc ruột gan rối bời vì bức thư đe dọa của bổn gia, đâu còn tâm trí nào để nghe những lời nói khoác viển vông của một tên gia đinh dạy học. Ông phất tay áo lạnh lùng bảo rằng đêm đã khuya, nếu Chúc Hợp muốn bàn về việc học của Tạ Kì thì hãy đợi đến sáng mai, còn nếu có chuyện gì khác thì tốt nhất không nên quấy rầy lúc này. Thế nhưng Chúc Hợp vẫn đứng sừng sững không hề lay chuyển, ánh mắt chàng nhìn thẳng vào Tạ Thành, không hề né tránh hay rụt rè, cất lời rành rọt rằng tiểu nhân đến đây đêm nay không phải vì chuyện học hành của tiểu thiếu gia, mà là vì an nguy tính mạng của đại tiểu thư Tạ Phác và sự sống còn của toàn thể Tạ phủ Bình Thành trước dã tâm lang sói của bổn gia.
Câu nói sắc như dao cạo ấy lập tức khiến Tạ Thành sững sờ, tim đập thình thịch một hồi kinh ngạc. Ông trừng mắt nhìn Chúc Hợp, giọng nói trầm xuống đầy vẻ răn đe, hỏi xem từ đâu mà một kẻ khất cái tá túc như hắn lại dám to gan can dự vào chuyện cơ mật của chủ nhân, phải chăng hắn là tai mắt do ai phái đến để dò xét gia phủ. Chúc Hợp khẽ lắc đầu, nụ cười trên môi chàng thoáng chút bi tráng nhưng vô cùng kiên định; chàng bảo rằng tiểu nhân lưu lạc đầu đường xó chợ, được viên ngoại rủ lòng thương xót thu nhận cho một chốn dung thân và ban cho cơm ăn áo mặc đàng hoàng, ân đức ấy sâu như trời biển thì làm sao dám có lòng dạ phản trắc. Sở dĩ chàng biết được chuyện này là vì bổn gia Tạ thị bao năm qua làm tay sai cho người Hồ, đem bao nhiêu thiếu nữ chi thứ dâng nộp ngoại tộc đã là chuyện cả thiên hạ đều căm phẫn xót xa; nay Tạ Lâm đến gây sự thất bại, tam thúc Tạ Khánh đột ngột bị giữ lại hậu viện, và bức thư hỏa tốc vừa gửi đến cửa phủ lúc chập tối đã nói lên tất cả những gì đang diễn ra.
Trước sự thấu thị thế sự đến mức đáng sợ của chàng trai trẻ, Tạ Thành không khỏi hít sâu một hơi khí lạnh, sự cảnh giác ban đầu dần nhường chỗ cho sự kinh ngạc khôn xiết. Ông ngồi xuống ghế, nhìn chăm chú vào Chúc Hợp rồi cất giọng trầm đục hỏi rằng nếu đã biết rõ Tạ phủ đang đối mặt với họa diệt môn từ bàn tay quyền thế ngút trời của Tạ Nhượng và kỵ binh người Hồ, thì một kẻ tay không tấc sắt như hắn có thể làm được trò trống gì để xoay chuyển càn khôn. Chúc Hợp tiến lên phía trước một bước, hai đầu gối bỗng nhiên quỳ sụp xuống nền gạch xanh mát lạnh, hai tay chắp lại giơ cao ngang mày, dập đầu một cái thật mạnh tạo nên âm thanh vang dội giữa gian phòng vắng lặng.
Hành động đột ngột ấy khiến Tạ Thành giật mình đứng bật dậy, hoang mang hỏi Chúc Hợp rốt cuộc muốn giở trò gì. Chúc Hợp ngẩng cao đầu, ánh mắt rực sáng như hai vì sao giữa đêm đông u tối, từng lời từng chữ thốt ra từ đáy lòng chàng tựa như khắc vào đá tảng: Chúc Hợp tôi đêm nay mạo muội cúi đầu khẩn cầu viên ngoại, xin ngài hãy rủ lòng từ bi gả đại tiểu thư Tạ Phác cho tôi; chỉ cần ngài đồng ý mối hôn sự này, tôi nguyện đem cả tính mạng, danh dự và toàn bộ trí lực của đời mình ra để làm tấm lá chắn vững chắc nhất, quyết phá tan cớ liên hôn cống nạp của bổn gia và giúp Tạ phủ tránh khỏi mối họa xâm lăng tày trời.
Nghe xong lời cầu hôn táo bạo đến mức điên rồ ấy, Tạ Thành giận quá hóa cười, cơn thịnh nộ kìm nén bấy lâu nay như ngọn núi lửa phun trào. Ông đập mạnh tay xuống bàn làm chén trà nảy lên tanh tách, lớn tiếng mắng Chúc Hợp là kẻ ngông cuồng vô độ, dám nuôi dã tâm cóc ghẻ đòi ăn thịt thiên nga; con gái của ông dẫu có phải gả gấp trong cảnh ngặt nghèo thì cũng là thiên kim tiểu thư của một cự phú danh giá chốn Bình Thành, há lại có thể tùy tiện gả cho một kẻ bần hàn khất cái, không một tấc đất cắm dùi, đến cái tên họ gia thế còn chưa rõ ràng như hắn. Tạ Thành quát lớn hỏi Chúc Hợp lấy tư cách gì, lấy bản lĩnh gì mà dám đứng trước mặt ông tuyên bố sẽ bảo vệ được Tạ Phác trước nanh vuốt của Tạ Nhượng và quân giặc Hồ hung hãn.
Đối diện với cơn thịnh nộ sấm sét của gia chủ, Chúc Hợp vẫn quỳ thẳng lưng như một cây tùng sừng sững giữa trời bão tuyết, sắc mặt chàng không hề biến đổi, giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạnh lùng. Chàng cất lời phân tích rằng viên ngoại xin hãy bớt giận mà lắng nghe ba điều chí mạng: Thứ nhất, Tạ Nhượng ép gả đại tiểu thư là dựa trên danh nghĩa nàng vẫn là khuê nữ chưa chồng thuộc quyền quản hạt của tông tộc; một khi đại tiểu thư đã danh chính ngôn thuận bái đường thành thân, trở thành phụ nữ có gia đình, thì luật pháp tiền triều cũng như quy ước của các tộc ngoại bang đều không cho phép cướp đoạt phụ nữ đã có chồng làm vật cống nạp, Tạ Nhượng sẽ hoàn toàn mất đi tính chính danh để ép buộc. Thứ hai, nếu viên ngoại chọn gả đại tiểu thư cho các gia tộc giàu có khác ở Bình Thành hay các châu huyện lân cận, những kẻ ấy vì sợ hãi uy thế của Tạ Nhượng và người Hồ nhất định sẽ lập tức chối từ hoặc tệ hơn là bắt trói đại tiểu thư dâng nộp để lập công; chỉ có một kẻ không có gia tộc ràng buộc, không sợ hãi quyền thế như Chúc Hợp này mới dám cùng Tạ phủ đồng sinh cộng tử, kiên quyết không lùi bước.
Chúc Hợp ngừng lại một nhịp thở, ánh mắt chàng nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Tạ Thành rồi tiếp tục cất giọng trầm hùng đanh thép: Điều thứ ba, và cũng là điều quan trọng nhất, Mã Đại đại ca dẫu có lòng dũng cảm và nghĩa khí giang hồ, nhưng đại ca là người thô mộc, chỉ biết dùng đao kiếm thô thiển, đối đầu với quyền mưu chính trị của bổn gia và sự tàn bạo của quân đội người Hồ thì nắm đấm giang hồ chỉ như lấy trứng chọi đá. Còn Chúc Hợp tôi tuy nghèo hèn lưu lạc nhưng trong bụng chứa đầy kinh luân mưu lược, am hiểu sâu sắc quy luật vận hành của thời cuộc và điểm yếu của các phe phái; tôi có thể vì Tạ phủ mà bày mưu lập kế, biến việc kinh doanh thương nghiệp của viên ngoại thành một mạng lưới hậu cần không thể thiếu đối với các quan chức địa phương, mượn sức mạnh của các thế lực khác để kiềm chế Tạ Nhượng, khiến lão dẫu có căm ghét cũng không dám tùy tiện động đến một cọng cỏ của Tạ phủ.
Từng lý lẽ sắc bén, chặt chẽ và đầy tính thuyết phục của Chúc Hợp như những búa tạ giáng thẳng vào tâm trí của Tạ Thành, đập tan mọi nghi ngờ và định kiến ban đầu trong lòng ông. Tạ Thành lặng người đi, nhìn chăm chú vào người thanh niên đang quỳ trước mặt mình; trong ánh mắt của Chúc Hợp không hề có chút tham lam vụ lợi của kẻ nghèo hèn muốn bám víu vào nhà giàu, cũng không có vẻ xảo trá nịnh hót của phường tiểu nhân bỉ ổi, mà chỉ có một ngọn lửa chân thành, quyết liệt và một sự si tình sâu thẳm đến mức khiến người ta phải chấn động tâm can. Một kẻ dám quỳ xuống nhận lấy mũi tên nhắm vào mình, dám đứng ra gánh vác món nợ máu với cả một dòng tộc quyền thế ngút trời để bảo vệ một cô nương xa lạ, nếu không phải là bậc đại trượng phu có dũng có mưu thì tuyệt đối không thể làm được điều đó.
Tạ Thành thở dài một hơi thật dài, bàn tay đang nắm chặt từ từ thả lỏng ra, ông khẽ bước lại gần đỡ lấy hai cánh tay của Chúc Hợp, cất giọng trầm ngâm đầy cảm xúc bảo chàng hãy đứng dậy nói chuyện. Ông nhìn sâu vào mắt Chúc Hợp, hỏi lại một lần nữa rằng chàng có biết nếu cưới Tạ Phác vào lúc này, chàng sẽ lập tức trở thành cái gai trong mắt của Tạ Nhượng, trở thành kẻ thù không đội trời chung của bổn gia và có thể mất mạng bất cứ lúc nào hay không. Chúc Hợp đứng thẳng dậy, vạt áo xanh lay động trong làn gió đêm ùa qua song cửa, chàng mỉm cười nhẹ nhàng nhưng kiên định khôn cùng, đáp rằng từ khi sinh ra trên cõi đời này, thân thể chàng đã trải qua muôn vàn kiếp nạn sinh tử; nếu cái chết có thể đổi lấy sự bình an, hạnh phúc cho đại tiểu thư và bảo toàn được khí tiết của một con người, thì Chúc Hợp này dẫu có chết vạn lần cũng không một lời hối tiếc.
Cuộc trò chuyện giữa hai người đàn ông kéo dài đến tận canh ba của đêm tối, khi những hạt mưa rào rào bắt đầu gõ nhịp trên mái ngói sương phòng. Tạ Thành không lập tức gật đầu đồng ý ngay tại chỗ, bởi lẽ ông hiểu rằng hôn nhân đại sự là chuyện cả một đời người, không thể chỉ dựa vào một lời hứa hẹn trong đêm mà định đoạt vội vã. Ông bảo Chúc Hợp hãy tạm thời lui về phòng nghỉ ngơi, giữ kín mọi chuyện và chờ đợi quyết định cuối cùng của ông sau khi đã bàn bạc kỹ lưỡng với phu nhân. Chúc Hợp cung kính hành lễ rồi lặng lẽ thoái lui, bóng lưng thanh mảnh của chàng khuất dần trong màn mưa đêm, để lại trong lòng Tạ Thành một mối tơ vò ngổn ngang trăm mối.
Trở lại phòng ngủ chính, Tạ Thành ngồi bên giường thì thầm thuật lại toàn bộ cuộc gặp gỡ kinh tâm động phách giữa ông và Chúc Hợp cho Tạ phu nhân nghe. Tạ phu nhân ngồi lắng nghe từng lời của chồng, gương mặt lộ rõ sự bàng hoàng xen lẫn xúc động khôn xiết; bà không ngờ một tên gia đinh dạy học nghèo khó lại có thể nuôi dưỡng một khí phách hiên ngang và một tấm lòng dũng cảm, mưu lược đến nhường ấy. So với viễn cảnh phải gả con gái cho Mã Đại thô kệch, việc Chúc Hợp chủ động cúi đầu xin cưới quả thực là một lối thoát mang lại nhiều hy vọng hơn về mặt tình cảm và phẩm giá cho Tạ Phác; dẫu sao Chúc Hợp cũng là người đọc sách thánh hiền, hiểu lễ nghĩa, biết kính trên nhường dưới và có tài học vượt trội.
Thế nhưng, Tạ phu nhân vẫn không giấu được nỗi âu lo trĩu nặng trong ánh mắt. Bà nắm lấy tay phu quân, nghẹn ngào bảo rằng một bên là Mã Đại trượng nghĩa vai u thịt bắp, có cả đám huynh đệ giang hồ sẵn sàng xả thân; một bên là Chúc Hợp tài hoa nho nhã, mưu sâu kế hiểm nhưng thân thế lại quá đỗi mịt mờ. Cả hai người họ đều là những kẻ cùng đường mạt lộ được Tạ phủ cưu mang, nhưng ai mới thực sự là người sẽ mang lại nụ cười và sự an yên trọn vẹn cho con gái suốt quãng đời còn lại thì trời cao mới thấu tỏ. Thời hạn mười ngày của bức tối hậu thư từ Tạ Nhượng như chiếc đồng hồ cát đang cạn dần từng hạt, họ không còn đường lùi nào khác ngoài việc phải chọn lấy một người ngay trong những ngày tới để cấp tốc tổ chức hôn lễ.
Giữa đêm khuya thanh vắng, khi tiếng mưa rơi ngoài hiên nhà đã dần ngớt hạt, hai vợ chồng Tạ Thành nhìn nhau thật lâu trong ánh nến mờ ảo. Cuối cùng, Tạ phu nhân lau nước mắt, cất giọng dịu dàng nhưng vô cùng kiên quyết đề nghị rằng hôn nhân là duyên phận cả một đời của nữ nhi, họ dẫu là cha mẹ cũng không thể ép uổng hay tự tiện quyết định thay cho số phận của nàng. Đáng lẽ ra Tạ Phác đã có thể được gả vào một gia đình môn đăng hộ đối, ngồi kiệu hoa tám người khiêng để làm thiếu phu nhân quyền quý, nhưng thời loạn lạc biến cố ập đến đã cướp đi quyền lợi chính đáng ấy; vì vậy, cách tốt nhất để bù đắp cho con gái lúc này là trao trọn quyền lựa chọn tối thượng vào chính bàn tay nàng.
Tạ Thành nghe phu nhân nói vậy liền gật đầu tán thành sâu sắc. Ông bàn bạc với vợ rằng sáng sớm ngày mai, họ sẽ mượn cớ triệu tập cả Mã Đại lẫn Chúc Hợp đến gian phòng nghị sự lớn ở tiền sảnh để giao phó công việc trong phủ; đồng thời, Tạ phu nhân sẽ bí mật đưa Tạ Phác đến nấp sau bức bình phong sáu tấm chạm khắc tích Bát Tiên Quá Hải đặt ở góc phòng. Từ phía sau tấm rèm lụa mỏng manh ấy, Tạ Phác có thể tự mình tận mắt quan sát diện mạo, cử chỉ, phong thái và lắng nghe từng lời ăn tiếng nói của cả hai người đàn ông; nàng ưng thuận ai, trao trọn niềm tin cho ai để cùng nhau bước qua giông bão cuộc đời, thì người đó sẽ chính thức trở thành con rể hiền tế của Tạ phủ Bình Thành. Định mệnh của đại tiểu thư họ Tạ và bước ngoặt số phận của Chúc Hợp giờ đây hoàn toàn phụ thuộc vào ánh mắt đầu tiên phía sau bức bình phong gỗ ấy trong buổi sớm mai.
Tạ Nhượng ngồi vững trên chiếc ghế gia chủ của Tạ thị đã nhiều năm, nương nhờ vào bóng râm quyền lực của quý tộc người Hồ mà hưởng thụ cuộc sống an nhàn nhung lụa. Mặc dù sự an nhàn vinh hoa ấy được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt và sự hy sinh tủi nhục của bao nhiêu phận nữ nhi trong tông tộc, nhưng trong thâm tâm lão chưa từng dấy lên một tia áy náy nào. Hơn mười năm qua tại đất bắc này, Tạ Nhượng luôn nói một là một, nói hai là hai, lời lão ban ra tựa như thánh chỉ không ai dám làm trái; con cháu họ Tạ chi trên chi dưới đều cúi đầu răm rắp phục tùng dưới uy thế của lão. Năm xưa, khi nghe tin gia đình Tạ Thành gồm cả già trẻ lớn bé dứt khoát thu dọn hành lý rời khỏi bổn gia để chuyển đến Bình Thành lập nghiệp, Tạ Nhượng từng vô cùng kinh ngạc xen lẫn giận dữ. Chẳng qua vào thời điểm ấy lão vừa mới đoạt được vị trí gia chủ, nội bộ gia tộc còn nhiều mối nghi kỵ và nguy cơ tứ phía bủa vây, lão đành phải nuốt cục tức vào trong, tỏ vẻ khoan dung rộng lượng mà không truy cứu đến cùng. Chớp mắt một cái, thời gian đã thoi đưa trôi qua hơn mười năm bình yên nơi đất khách quê người.
Giờ đây, ngọn lửa chiến loạn ở phương bắc ngày càng lan rộng, dã tâm của những bộ tộc ngoại bang ngày một bành trướng không đáy. Những cô nương dung mạo thanh tú, xinh đẹp nhất của các chi thứ họ Tạ hầu hết đều đã bị Tạ Nhượng đem đi làm vật phẩm cống nạp, dâng tặng cho các tướng lĩnh hung bạo của người Hồ để đổi lấy quyền uy và bổng lộc. Đến khi phía ngoại tộc tiếp tục đòi hỏi thêm mỹ nhân dòng dõi thế gia, Tạ Nhượng lại xót xa đứa con gái ruột mà lão nâng niu như ngọc quý trong tay, không nỡ đẩy con mình vào hang hùm miệng cọp. Lão tính đi tính lại, cuối cùng nhớ đến Tạ Phác - đứa cháu gái thanh thuần đoan trang của chi thứ Bình Thành vốn đã đến tuổi cập kê. Tạ Nhượng lạnh lùng quyết định để Tạ Phác gánh chịu tai kiếp lần này thay cho con gái lão, xem đó là nghĩa vụ tất yếu của một kẻ thuộc chi thứ đối với bổn gia. Muốn ép Tạ Thành phải ngoan ngoãn giao nộp cốt nhục của mình, lão hiểu rõ không thể nóng vội dùng vũ lực thô bạo ngay từ đầu mà phải tìm cách bắt thóp, định ra tội danh làm hoen ố gia phong để có cớ trị tội rồi danh chính ngôn thuận mang người đi.
Từ hôm Tạ Lâm được Tạ Thành giải vây khỏi đám dân chúng phẫn nộ và cứu ra khỏi phủ Bình Thành, bổn gia đã nghiêm khắc truyền lệnh cấm hắn không được tự tiện nhúng tay vào việc này nữa, mọi chuyện sẽ do đích thân gia chủ đứng ra đòi lại thể diện. Tạ Lâm ôm một mối hận thù cay đắng tận xương tủy, một kẻ quen thói kiêu ngạo từ nhỏ như hắn chưa từng phải chịu đựng nỗi nhục nhã ê chề đến nhường ấy; hắn không còn mặt mũi nào nhìn mặt bằng hữu cùng trang lứa, ngày đêm chỉ mong xé xác Chúc Hợp ra làm trăm mảnh. Điều khiến hắn càng thêm điên tiết là Tạ Thành chẳng những không trừng phạt đám khất cái bần hàn kia mà trái lại còn dang tay che chở, thu nhận toàn bộ bọn họ vào phủ làm gia đinh ăn lương tháng đàng hoàng. Tạ Lâm cho rằng Tạ Thành cố ý coi thường bổn gia, không xem một tiểu bối như hắn ra gì, bèn lập tức chạy về quỳ rạp dưới chân Tạ Nhượng mà thêm dầu vào lửa. Hắn thêu dệt nên bao nhiêu điều sai trái, phóng đại sự ngỗ ngược của Tạ Thành và sự lộng hành của bọn ăn mày tại Bình Thành nhằm kích động lòng tự ái của gia chủ, khẩn thiết cầu xin bổn gia xuất thủ làm chủ cho mình.
Lời cáo trạng đầy oán hận của Tạ Lâm chính là cái cớ hoàn hảo nhất mà Tạ Nhượng đang mong chờ để tìm đến gây chuyện với chi thứ Bình Thành. Rút kinh nghiệm từ sự non nớt và nông nổi của Tạ Lâm, lần này Tạ Nhượng không phái đám thanh niên trẻ tuổi hung hăng đi nữa, thay vào đó lão đích thân mời trưởng bối Tạ Khánh - một người có bối phận cao và tiếng tăm đức cao vọng trọng trong dòng tộc - đại diện cho bổn gia đi một chuyến. Tính theo thứ bậc gia phả, Tạ Thành phải cung kính gọi Tạ Khánh bằng một tiếng tam thúc; từ xưa đến nay họ Tạ luôn lấy lễ nghĩa Nho gia làm đầu, con cháu đều được dạy dỗ phải một lòng kính già yêu trẻ, tôn sư trọng đạo. Tạ Khánh ỷ vào thân phận trưởng bối, mang theo gia quy tông pháp và cả danh nghĩa đại cục của toàn thể Tạ thị đến phủ Bình Thành, lớn tiếng chỉ trích Tạ Thành bao che cho phường hạ lưu, đồng thời yêu cầu ông phải lập tức dâng Tạ Phác lên bổn gia để làm tròn chữ hiếu và chuộc lại lỗi lầm bất kính.
Thế nhưng, Tạ Khánh đã hoàn toàn tính toán sai lầm về bản lĩnh và lòng dạ kiên định của Tạ Thành. Người đàn ông trung niên từng một mình dẫn dắt gia quyến rời khỏi kinh thành năm xưa vốn dĩ chưa bao giờ là kẻ nhu nhược chịu để người khác giẫm đạp lên đầu; đối với ông, tôn kính trưởng bối là việc nên làm, nhưng nếu trưởng bối cấu kết với kẻ ác để đẩy con gái rượu của mình vào chỗ chết thì tấm lòng hiếu kính ấy cũng tan thành mây khói. Đứng giữa sảnh đường trang nghiêm, Tạ Thành không chút sợ hãi, thẳng thắn vạch trần dã tâm đê tiện của Tạ Nhượng muốn dùng mạng nữ nhi nhà ông để lót đường danh vọng cho chi trưởng. Trước sự thịnh nộ và những lời đe dọa trục xuất khỏi gia phả của Tạ Khánh, Tạ Thành chỉ lạnh lùng cười nhạt, dứt khoát từ chối mọi yêu sách vô lý; không dừng lại ở đó, ông lập tức hạ lệnh cho đám gia đinh to khỏe vừa mới thu nhận áp giải Tạ Khánh về khu nhà khách ở tận góc sâu của hậu viện. Tạ Thành bố trí lính gác nghiêm ngặt ngày đêm, giam lỏng hoàn toàn vị tam thúc này để phong tỏa mọi tin tức, quyết không để lão có cơ hội truyền bất kỳ bức mật thư nào về kinh thành.
Hành động quả quyết của Tạ Thành đã khiến toàn bộ người hầu kẻ hạ trong phủ Bình Thành không khỏi kinh hoàng thầm run rẩy. May mắn thay, gia đình ông đã tách khỏi tông tộc từ mười mấy năm trước, bằng không nếu hành vi bị coi là đại nghịch bất đạo này diễn ra ngay tại từ đường bổn gia, Tạ Thành chắc chắn sẽ phải chịu những trận đòn gia pháp thập tử nhất sinh, bị tước đoạt toàn bộ gia sản rồi giam cầm đến chết. Tuy nhiên, Tạ Thành biết rất rõ rằng giam lỏng Tạ Khánh chỉ là hạ sách tạm thời để kéo dài thời gian; Tạ Nhượng là một kẻ nham hiểm và tàn độc, một khi nhận thấy Tạ Khánh bặt vô âm tín quá lâu, lão nhất định sẽ không chịu bỏ qua. Khi ấy, bổn gia hoàn toàn có thể cấu kết với quan phủ địa phương hoặc thậm chí mượn tay kỵ binh người Hồ để danh chính ngôn thuận ập vào cướp người. Dù có phải liều mạng già này để đối đầu với cả dòng tộc, Tạ Thành cũng đã thề với lòng mình rằng phải bảo vệ giọt máu đầu lòng đến cùng, tuyệt đối không để con gái phải chịu chung số phận bi thảm với những phận đời nữ nhân trước đó.
Khi màn đêm buông xuống, không khí trong gian phòng ngủ của vợ chồng viên ngoại trầm mặc đến nghẹt thở. Ngọn nến leo lét trên bàn gỗ đàn hương tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt, hắt bóng hai người lên vách tường tạo thành những vệt dài trăn trở. Tạ phu nhân sau khi cẩn thận trải lại chăn đệm liền quay sang nhìn phu quân, thấy ông vẫn ngồi lặng lẽ bên bàn trà, đôi lông mày nhíu chặt lại như hai lưỡi kiếm gỉ sét, trên tay cầm chén trà nguội ngắt từ lâu mà chẳng buồn nhấp môi. Bà bước lại gần, khẽ đặt bàn tay mềm mại lên bờ vai gầy guộc của chồng, giọng nói mang theo sự xót xa nghẹn ngào khuyên nhủ ông đừng nghĩ ngợi quá nhiều mà hãy mau đi nghỉ ngơi giữ gìn sức khỏe.
Tạ Thành nghe tiếng vợ thì khẽ giật mình, ông buông một tiếng thở dài thườn thượt, khóe mắt đã hằn sâu những nếp nhăn của sự mệt mỏi và dằn vặt. Ông nắm lấy bàn tay phu nhân, giọng run run bảo rằng làm sao ông có thể chợp mắt cho được khi tính mạng và danh tiết của con gái đang ngàn cân treo sợi tóc. Ông từng tuyên bố trước mặt người đời rằng dù có phải gả A Phác cho một kẻ ăn mày khất cái nghèo hèn thì cũng quyết không để con bé bị áp giải đến trướng giặc Hồ làm trò tiêu khiển cho lũ dã man, thế nhưng nói ra lời cay đắng ấy lòng người làm cha như bị dao cắt từng khúc ruột. Ông chỉ tự trách bản thân năm xưa quá đỗi yêu thương con, không nỡ gả nàng đi sớm nên mới dùng dằng giữ con ở lại bên cạnh đến tận tuổi này, để rồi hôm nay sự chậm trễ ấy lại vô tình biến thành mối họa lớn, khiến nàng trở thành miếng mồi ngon cho dã tâm của bổn gia.
Nhìn vẻ mặt tiều tụy của chồng, Tạ phu nhân rơm rớm nước mắt gặng hỏi xem ông rốt cuộc đã có dự tính hay tính toán gì trong đầu hay chưa. Bà hiểu rất rõ tính khí của Tạ Thành, một người đàn ông cương nghị cả đời chưa từng chịu khuất phục trước nghịch cảnh, nhưng bà chỉ sợ trong cơn bế tắc cùng quẫn, ông lại nảy sinh những suy nghĩ liều lĩnh nguy hiểm. Tạ Phác là đứa con đầu lòng của hai người, là kết tinh tình yêu sâu đậm thuở hàn vi, từng ngày từng tháng được bà ấp ủ nuôi nấng trưởng thành; nhìn đứa con gái ngoan ngoãn nết na, cầm kỳ thi họa đều vẹn toàn suốt gần hai mươi năm qua, bà chỉ cần tưởng tượng đến cảnh nàng phải chịu đọa đày nơi đất khách biên thùy là trái tim người mẹ đã thắt lại từng cơn buốt nhói.
Tạ Thành khẽ vuốt ve mu bàn tay vợ, trầm ngâm hồi lâu như đang cân nhắc từng lời nói trong bụng rồi ngập ngừng hỏi bà có còn nhớ đến mấy huynh đệ của Mã Đại hay không. Tạ phu nhân nghe vậy thì hơi sững người, trong lòng dấy lên một dự cảm bất an, bà ngước đôi mắt ngấn lệ nhìn thẳng vào phu quân mà dò hỏi ý tứ thực sự đằng sau câu nói ấy. Tạ Thành chậm rãi phân tích rằng Mã Đại tuy mang tiếng là khất cái lưu lạc đầu đường xó chợ, nhưng qua những ngày quan sát vừa rồi, ông nhận thấy người này tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài, đối đãi với huynh đệ vô cùng thành thật và có uy tín lớn trong chốn giang hồ.
Lời của Tạ Thành còn chưa kịp dứt thì Tạ phu nhân đã lập tức đứng bật dậy, dứt khoát gạt phắt đi và lớn tiếng phản bác rằng bà tuyệt đối không bao giờ đồng ý với ý định điên rồ ấy. Trước phản ứng gay gắt chưa từng có của người vợ hiền thục, Tạ Thành thoáng chút bối rối, vội vàng cất tiếng hỏi lý do vì sao bà lại cự tuyệt quyết liệt đến như vậy. Tạ phu nhân vừa khóc vừa nghẹn ngào bày tỏ nỗi lòng, bà bảo rằng Mã Đại dẫu có tốt tính đến đâu thì chung quy vẫn chỉ là một kẻ ăn mày thô kệch, không học thức, đến ba bữa cơm mỗi ngày trước đây còn phải ngửa tay xin thiên hạ thì làm sao có thể mang lại cho con gái rượu của họ một cuộc sống ấm êm, tử tế; phận làm cha làm mẹ nuôi con khôn lớn, có ai lại đành lòng nhìn đứa con gái cành vàng lá ngọc của mình phải bước chân vào cảnh bần hàn cơ cực như thế.
Thấy phu nhân kích động đến mức toàn thân run rẩy, Tạ Thành trong lòng vô cùng áy náy và chột dạ. Từ ngày hai người nên duyên vợ chồng đến nay, Tạ phu nhân luôn là một người phụ nữ đoan trang, dịu dàng, việc trong việc ngoài đều một mực thuận theo ý chồng; đây là lần đầu tiên bà tỏ ra giận dữ và kiên quyết đối đầu với ông như vậy. Ông vội vàng đứng dậy đỡ lấy vai vợ, dịu giọng an ủi rằng trong phủ đâu chỉ có một mình Mã Đại, nếu bà không vừa ý thì vẫn còn những sự lựa chọn khác để bàn bạc, chứ ông tuyệt đối không bao giờ muốn làm tổn thương đến con gái. Ông giải thích rằng sở dĩ nghĩ đến Mã Đại là vì hoàn cảnh thúc ép quá mức ngặt nghèo; nếu gả Tạ Phác cho một gã ăn mày trượng nghĩa, ông sẽ chuẩn bị sẵn một khối của hồi môn thật hậu hĩnh gồm ruộng vườn, nhà cửa và bạc trắng đầy rương để hai đứa tự lập, Mã Đại chắc chắn sẽ đội ơn sâu nghĩa nặng của họ Tạ mà cả đời nâng niu, cung phụng Tạ Phác như báu vật, cho dù sau này hai vợ chồng già có nhắm mắt xuôi tay thì con gái cũng không sợ bị hắt hủi hay bạc đãi.
Thế nhưng những lời phân trần chí tình chí lý ấy vẫn không thể xoa dịu được nỗi xót xa đang cào xé tâm can của Tạ phu nhân. Bà gạt nước mắt, quay mặt vào vách tường mà cự tuyệt nói chuyện, kiên quyết cho rằng giữa thiên hạ bao la này không lẽ lại không tìm được một người tử tế, đàng hoàng hơn để gửi gắm thân ngọc. Tạ Thành thở ngắn than dài, đành phải bỏ dở câu chuyện kén rể giữa chừng, toàn tâm toàn ý ngồi bên cạnh dỗ dành, nhận lỗi để mong phu nhân nguôi cơn sầu muộn. Suốt cả đêm hôm ấy, không khí trong phòng chìm vào sự im lặng nặng nề, Tạ phu nhân quay lưng đi không thèm đoái hoài đến ông, khiến Tạ Thành càng thêm trăn trở và đau đớn khôn nguôi; ông hiểu rõ lòng dạ người mẹ thương con là chính đáng, nhưng cái bẫy chết người mà bổn gia đang giăng ra thì lại không cho phép họ có quá nhiều thời gian để do dự.
Sáng ngày hôm sau, sương mù dày đặc vẫn còn bao phủ khắp các ngõ ngách của Bình Thành, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng biên ải. Tạ Thành thức dậy từ rất sớm, lòng dạ như có lửa đốt, ông liên tục phái gia nhân ra ngóng trông động tĩnh ở cửa phủ xem người của bổn gia có kéo đến đòi người hay tìm kiếm Tạ Khánh hay không. Chờ đợi suốt mấy canh giờ liền mà bên ngoài vẫn hoàn toàn yên ắng một cách đáng ngờ, sự tĩnh lặng ấy không những không làm ông an lòng mà trái lại càng khiến trực giác mách bảo rằng một cơn bão tố khủng khiếp hơn đang âm thầm tích tụ ở kinh thành. Để xua đi sự bồn chồn đang đè nặng trong lồng ngực, Tạ Thành quyết định rảo bước về phía viện dạy học ở mé đông hậu viện để kiểm tra tình hình học tập của cậu con trai độc nhất là Tạ Kì.
Khi bước chân đến gần hiên nhà râm mát rợp bóng cây hòe cổ thụ, Tạ Thành bỗng khựng lại khi nghe thấy những âm thanh tranh luận sôi nổi, khúc chiết vọng ra từ bên trong thư phòng. Qua khe cửa sổ hé mở, ông nhìn thấy Chúc Hợp đang ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế mây đối diện với Tạ Kì; trên chiếc bàn gỗ bày biện mấy cuốn sách cổ cùng một đĩa bánh ngọt còn dang dở. Điều khiến Tạ Thành vô cùng ngạc nhiên là Chúc Hợp hôm nay không hề bắt Tạ Kì phải ê a tụng niệm những bài thơ từ sáo rỗng hay những khuôn phép Nho gia cứng nhắc như các vị gia sư thông thường, mà chàng trai trẻ này đang cùng tiểu công tử bàn luận về một đề tài vô cùng rộng lớn: Liệu một quốc gia muốn trường tồn và hưng thịnh thì nên lấy nông nghiệp làm gốc rễ sinh tồn hay phải dựa vào thương nghiệp để khai thông nguồn của cải dồi dào.
Tạ Kì với sự non nớt của một đứa trẻ mười tuổi liền nhanh nhảu dẫn lại lời dạy của Triệu tiên sinh, cho rằng cổ nhân luôn dạy sĩ nông công thương, người làm ruộng đổ mồ hôi gieo hạt nuôi sống thiên hạ mới là gốc rễ thanh cao, còn kẻ làm nghề buôn bán chỉ biết chạy theo lợi nhuận trước mắt, lừa lọc đầu cơ tích trữ nên xếp ở bậc thấp hèn nhất trong xã hội. Nghe xong lời đáp ấy, Chúc Hợp không hề trách mắng mà chỉ khẽ mỉm cười, ánh mắt toát lên vẻ bao dung và thông tuệ sâu sắc. Chàng từ tốn dùng những hạt đậu và chén trà trên bàn để làm ví dụ minh họa trực quan, kiên nhẫn giảng giải cho Tạ Kì hiểu rằng nông nghiệp quả thực là gốc rễ để đảm bảo cái ăn cái mặc cơ bản cho muôn dân, nhưng nếu một đất nước chỉ biết cắm mặt vào đồng ruộng mà không có thương nhân mang lúa gạo từ nơi thừa đến nơi thiếu, không có người giao thương hàng hóa để đổi lấy muối, sắt và thuốc men thì nền kinh tế ấy sẽ trở nên xơ cứng, bế tắc và người nông dân dẫu có mùa màng bội thu cũng vẫn rơi vào cảnh khốn cùng vì không thể tiêu thụ được nông sản.
Chúc Hợp nhấn mạnh rằng thương nghiệp chính là dòng máu lưu thông trong cơ thể của một quốc gia, nối liền các vùng miền xa xôi, mang lại sự phồn thịnh và sức mạnh tài chính để duy trì quân đội chống lại ngoại xâm; chỉ khi nông thương cùng phát triển, bổ trợ cho nhau thì bá tánh mới có thể an cư lạc nghiệp và đất nước mới đủ sức đứng vững trước sóng gió thời cuộc. Những lời đàm đạo ấy khúc chiết, mạch lạc, vừa mang tầm nhìn chiến lược sâu rộng lại vừa gần gũi với thực tế đời sống, khiến cậu bé Tạ Kì nghe đến đâu liền sáng mắt ra đến đó, liên tục gật đầu thán phục và đặt thêm những câu hỏi sắc bén mà trước đây chưa từng dám thốt ra trước mặt Triệu tiên sinh.
Đứng nép mình bên ngoài rèm thưa, Tạ Thành lắng nghe từng câu từng chữ không sót một lời, trong lòng dấy lên những đợt sóng chấn động mãnh liệt. Gia đình ông vốn dĩ xuất thân từ thương gia, lăn lộn cả đời trên thương trường nếm trải đủ mọi cay đắng, bị đám thế gia vọng tộc coi thường là hạng con buôn thực dụng chỉ biết đến tiền bạc; nay nghe một người trẻ tuổi như Chúc Hợp phân tích rành rọt, thấu tình đạt lý và trân trọng giá trị của nghề buôn đến nhường ấy, Tạ Thành cảm thấy như vừa tìm được một tri kỷ hiểu thấu nỗi lòng mình. Ông thầm kinh ngạc trước vốn học vấn uyên bác và tư duy vượt tầm thời đại của tên khất cái này; Chúc Hợp rõ ràng là một viên ngọc thô hiếm có trong thiên hạ, ngoại trừ cái thói xấu hay ăn nói ngông cuồng, khoác lác về những chuyện cao xa mà ông từng chứng kiến trong ngày đầu gặp gỡ, thì tài năng của hắn thực sự khiến người ta phải nghiêng mình nể phục.
Tạ Thành lặng lẽ quay gót trở về thư phòng chính, bóng dáng trầm ngâm bước từng bước chậm rãi trên con đường rải sỏi hoa cương. Trong tâm trí ông lúc này, hình bóng của Chúc Hợp bất ngờ hiện lên rõ nét, xen ngang vào cuộc trăn trở kén rể cho con gái rượu. Nếu đặt hai người lên bàn cân so sánh, quả thực có sự khác biệt một trời một vực giữa Mã Đại và Chúc Hợp. Mã Đại thì thân hình vạm vỡ, lưng hùm vai gấu, tính tình bộc trực hào sảng, quen thói hành tẩu giang hồ và nắm trong tay cả một mạng lưới huynh đệ sẵn sàng liều mạng vì nhau; đó là thứ sức mạnh cơ bắp có thể bảo bọc Tạ Phác trước những hiểm nguy thô bạo. Nhưng nhìn từ góc độ của một tiểu thư khuê các xuất thân từ gia đình lễ giáo, Mã Đại lại hoàn toàn thiếu đi sự nho nhã, tinh tế cần thiết để hòa hợp tâm hồn với Tạ Phác; người mẹ như Tạ phu nhân làm sao có thể chấp nhận một chàng rể thô lỗ, không biết chữ nghĩa như thế.
Trái lại, Chúc Hợp lại mang trọn vẹn phong thái của một bậc danh sĩ phong lưu, diện mạo khôi ngô tuấn tú, mày thanh mắt sáng, cử chỉ đĩnh đạc đàng hoàng và đặc biệt là học vấn vô cùng thâm sâu. Chỉ cần nghe hắn đàm đạo là biết đây là người đọc vạn cuốn sách, am tường thế sự, hoàn toàn xứng đôi vừa lứa với tài năng và nhan sắc của Tạ Phác. Thế nhưng điều khiến Tạ Thành vẫn chưa thể hoàn toàn yên tâm chính là sự bí ẩn về lai lịch và tính cách có phần ngông nghênh của hắn; một kẻ lưu lạc tha hương, không rõ gốc gác tông tộc, lại hay thích nói những lời kinh thiên động địa thì liệu có thực sự là bến đỗ bình yên, vững chãi cho con gái ông nương tựa suốt cuộc đời hay không.
Tạ Thành ngồi dựa lưng vào chiếc ghế bành bọc gấm, đưa tay xoa nhẹ vầng trán đang đau nhức như búa bổ. Thời cuộc hiện nay hỗn loạn khôn lường, phương bắc đã hoàn toàn rơi vào vòng kiềm tỏa của quý tộc người Hồ suốt mấy chục năm qua; bổn gia Tạ thị ở kinh thành là một trong những thế lực tay sai đắc lực nhất của ngoại bang, uy thế ngập trời, không một danh môn vọng tộc nào trong vùng dám đứng ra đắc tội với Tạ Nhượng để che chở cho Tạ Phác. Nếu muốn tìm một mối hôn sự môn đăng hộ đối ở phương nam thì đường sá xa xôi vạn dặm, chiến tranh ngăn cách, chưa kịp đưa con gái đi đến nơi thì có khi đã bị kỵ binh bổn gia đuổi theo bắt lại giữa đường. Lối thoát duy nhất lúc này là phải giải quyết dứt điểm ngay tại đất Bình Thành, gả gấp Tạ Phác cho một người đáng tin cậy ở ngay bên cạnh để biến nàng thành phụ nữ đã có gia đình, triệt tiêu hoàn toàn cái cớ tuyển chọn trinh nữ dâng cống của giặc Hồ.
Sau một hồi suy đi tính lại đến nát óc, Tạ Thành quyết định gạt bỏ sĩ diện sang một bên để quay lại phòng ngủ tìm phu nhân thương lượng thêm một lần nữa. Khi ông bước vào phòng, Tạ phu nhân vẫn còn đang giận dỗi ngồi bên bàn thêu, đôi mắt sưng mọng vì khóc suốt đêm qua, thấy bóng dáng chồng bước vào liền lập tức quay mặt đi chỗ khác không buồn lên tiếng. Tạ Thành trong lòng vừa thương vừa xót, vội vàng bước tới ngồi xổm bên cạnh chân vợ, không ngần ngại hạ mình cất lời xin lỗi, tự nhận bản thân vụng về nông cạn đã làm phu nhân phải phiền lòng tổn thương. Thấy người đàn ông vốn dĩ uy nghiêm trước mặt bao nhiêu gia nhân ngoài sảnh nay lại vì con gái mà nhún nhường khép nép dỗ dành mình như thuở mới cưới, Tạ phu nhân dẫu có giận đến mấy cũng không nỡ làm mặt lạnh mãi, bà khẽ bật cười trong tiếng nấc nghẹn ngào rồi đưa tay lau đi giọt lệ nơi khóe mắt.
Nhân lúc phu nhân đã nguôi ngoai cơn giận, Tạ Thành mới lựa lời cẩn trọng nhắc lại chuyện hôn sự cấp bách của con gái. Ban đầu, khi nghe ông bảo rằng vẫn phải chọn người trong số những kẻ vừa thu nhận vào phủ, sắc mặt Tạ phu nhân lại thoáng chốc biến đổi, toan mở miệng phản đối. Nhưng Tạ Thành đã nhanh chóng nắm lấy tay bà, ôn tồn thuật lại toàn bộ những lời đàm đạo nông thương xuất sắc mà ông vừa tận tai nghe thấy ngoài thư phòng của Tạ Kì, đồng thời phân tích cặn kẽ về con người của Chúc Hợp. Ông chỉ ra rằng Chúc Hợp tuy xuất thân bần hàn lưu lạc, nhưng diện mạo tuấn tú đàng hoàng, khí chất thanh cao nho nhã và học thức sâu rộng chẳng kém gì những bậc thám hoa bảng nhãn nơi kinh kỳ; nếu gả Tạ Phác cho hắn, con gái sẽ có một người bạn đời biết thấu hiểu thi phú, hòa hợp tâm hồn, chứ không đến nỗi phải chịu cảnh sống chung với một kẻ thô kệch cục cằn.
Tạ phu nhân chăm chú lắng nghe, trong lòng bắt đầu xuất hiện những gợn sóng dao động dữ dội. Bà không phải là người phụ nữ ngu muội, cố chấp không biết phân biệt phải trái; bà hiểu rất rõ mối hiểm họa kinh hoàng từ giặc Hồ đang lơ lửng ngay trên đầu gia đình mình, và việc gả gấp con gái chính là con đường sống duy nhất lúc này. Nỗi giằng xé nội tâm giữa một bên là mong muốn con gái được gả vào chốn quyền quý môn đăng hộ đối, và một bên là thực tế nghiệt ngã phải cứu mạng con bằng mọi giá đã khiến người mẹ đau đớn khôn xiết. Sau một hồi im lặng đến nghẹt thở, lý trí cuối cùng đã chiến thắng sự nuông chiều tình cảm; Tạ phu nhân khẽ thở dài một tiếng não ruột, gật đầu đồng ý với phu quân rằng trong những ngày tới sẽ bí mật quan sát kỹ lưỡng cả hai người là Mã Đại và Chúc Hợp, xem ai mới thực sự là kẻ có tâm tính tốt lành để trao gửi cuộc đời của Tạ Phác.
Thế nhưng, giữa lúc hai vợ chồng gia chủ đang âm thầm tính toán những bước đi cẩn trọng thì tại sương phòng phía tây, Chúc Hợp cũng không hề nhàn rỗi. Là một người mang ký ức của kiếp trước sống lại, Chúc Hợp thấu hiểu sâu sắc hơn bất kỳ ai về nỗi bi thảm tột cùng mà Tạ Phác từng phải gánh chịu khi rơi vào tay loài cầm thú ngoại bang. Kiếp trước, chàng vì u mê mông muội, vì tự ti hèn hạ mà đã phụ bạc tấm chân tình của nàng, để nàng phải chết trong cô độc và tủi nhục nơi đất khách; trời xanh rủ lòng thương cho chàng được tái sinh một lần nữa, chàng đã thề trước vong linh tổ tiên rằng dẫu có phải thịt nát xương tan, dẫu phải đối đầu với vạn mã thiên quân, chàng cũng quyết không để bất kỳ kẻ nào vấy bẩn lên một sợi tóc của nàng.
Qua những lời kể ngây thơ của Tạ Kì trong những giờ học và những tin tức mà các huynh đệ ăn mày của Mã Đại thu thập được từ khắp các quán trà cổng thành, Chúc Hợp đã nắm bắt toàn bộ tình thế nguy nan của Tạ phủ. Hắn biết Tạ Khánh đang bị giam lỏng ở hậu viện, biết Tạ Nhượng ở kinh thành đang rục rịch điều động tai mắt, và biết rõ bức màn bình yên giả tạo ở Bình Thành sắp sửa bị xé toạc. Trong lòng Chúc Hợp như có ngọn lửa thiêu đốt dữ dội; hắn hiểu rằng nếu Tạ Thành cứ dùng dằng cân đo đong đếm giữa hắn và Mã Đại, hoặc nếu bổn gia đột ngột ra tay trước khi hôn sự được định đoạt, thì toàn bộ nỗ lực thay đổi số phận của hắn sẽ tan thành tro bụi. Chàng không thể ngồi yên chờ đợi người khác ban phát cơ hội cho mình; chàng phải chủ động đứng ra gánh vác, biến bản thân thành tấm khiên vững chắc nhất để che chở cho người con gái chàng yêu thương sâu đậm.
Đúng vào lúc chập tối, bầu trời Bình Thành bỗng nhiên nổi cơn giông gió, mây đen cuồn cuộn kéo về che khuất vầng trăng khuyết, dự báo một trận mưa rào dữ dội sắp trút xuống. Bên ngoài cổng lớn của Tạ phủ bất ngờ xuất hiện một phong thư hỏa tốc do kỵ mã từ kinh thành phi như bay tới ném lại rồi lập tức quay đầu ngựa biến mất trong màn đêm. Bức thư được niêm phong bằng sáp đỏ có khắc dấu ấn gia chủ Tạ thị, bên trong chỉ vỏn vẹn mấy dòng chữ đanh thép của Tạ Nhượng: Lão tối hậu thư yêu cầu Tạ Thành phải lập tức thả Tạ Khánh ra, đồng thời trong vòng mười ngày phải chuẩn bị sẵn sàng kiệu hoa đưa Tạ Phác về kinh thành để bàn giao cho sứ giả người Hồ; nếu quá thời hạn trên mà dám chống lệnh, bổn gia sẽ tấu bẩm lên phủ đô hộ khép Tạ Thành vào tội phản nghịch, tru di tam tộc và san bằng phủ Bình Thành thành bình địa.
Cầm bức thư với những nét chữ hung hãn trên tay, Tạ Thành tức giận đến mức toàn thân run bần bật, sắc mặt tái mét không còn một giọt máu. Ông vò nát bức thư trong lòng bàn tay, gân xanh nổi cuồn cuộn trên trán, cơn phẫn nộ xen lẫn sự bất lực trào dâng khiến lồng ngực ông nghẹn ứ. Mười ngày, Tạ Nhượng chỉ cho ông đúng mười ngày ngắn ngủi; khoảng thời gian ấy quá đỗi gấp gáp, tựa như một sợi thòng lọng đang siết chặt dần quanh cổ cả gia đình ông. Ngay lúc Tạ Thành đang đứng chôn chân giữa thư phòng trong nỗi tuyệt vọng tột cùng thì cánh cửa gỗ bỗng vang lên tiếng gõ nhẹ nhàng nhưng vô cùng dứt khoát.
Tạ Thành khẽ giật mình, cố kìm nén cơn giận trong lòng rồi trầm giọng quát hỏi ai đang ở bên ngoài. Cánh cửa từ từ đẩy ra, bóng dáng thanh mảnh của Chúc Hợp xuất hiện dưới ánh đèn lồng hiên nhà; chàng mặc một bộ y phục màu xanh nho nhã tuy đã sờn rách nhưng được giặt giũ vô cùng sạch sẽ, trên gương mặt tuấn tú toát lên một vẻ điềm tĩnh lạ thường, hoàn toàn không có vẻ gì là sợ hãi trước bầu không khí ngột ngạt đang bao trùm lấy Tạ phủ. Chúc Hợp bước vào trong phòng, khép chặt cánh cửa lại sau lưng rồi cung kính vòng tay hành lễ trước Tạ Thành, cất giọng trầm ấm xin phép viên ngoại cho mình được diện kiến để đàm đạo một việc hệ trọng liên quan đến sự tồn vong của toàn thể gia tộc.
Tạ Thành nheo mắt nhìn chàng thư sinh trẻ tuổi trước mặt, trong lòng dấy lên sự nghi hoặc lẫn khó chịu; ông đang lúc ruột gan rối bời vì bức thư đe dọa của bổn gia, đâu còn tâm trí nào để nghe những lời nói khoác viển vông của một tên gia đinh dạy học. Ông phất tay áo lạnh lùng bảo rằng đêm đã khuya, nếu Chúc Hợp muốn bàn về việc học của Tạ Kì thì hãy đợi đến sáng mai, còn nếu có chuyện gì khác thì tốt nhất không nên quấy rầy lúc này. Thế nhưng Chúc Hợp vẫn đứng sừng sững không hề lay chuyển, ánh mắt chàng nhìn thẳng vào Tạ Thành, không hề né tránh hay rụt rè, cất lời rành rọt rằng tiểu nhân đến đây đêm nay không phải vì chuyện học hành của tiểu thiếu gia, mà là vì an nguy tính mạng của đại tiểu thư Tạ Phác và sự sống còn của toàn thể Tạ phủ Bình Thành trước dã tâm lang sói của bổn gia.
Câu nói sắc như dao cạo ấy lập tức khiến Tạ Thành sững sờ, tim đập thình thịch một hồi kinh ngạc. Ông trừng mắt nhìn Chúc Hợp, giọng nói trầm xuống đầy vẻ răn đe, hỏi xem từ đâu mà một kẻ khất cái tá túc như hắn lại dám to gan can dự vào chuyện cơ mật của chủ nhân, phải chăng hắn là tai mắt do ai phái đến để dò xét gia phủ. Chúc Hợp khẽ lắc đầu, nụ cười trên môi chàng thoáng chút bi tráng nhưng vô cùng kiên định; chàng bảo rằng tiểu nhân lưu lạc đầu đường xó chợ, được viên ngoại rủ lòng thương xót thu nhận cho một chốn dung thân và ban cho cơm ăn áo mặc đàng hoàng, ân đức ấy sâu như trời biển thì làm sao dám có lòng dạ phản trắc. Sở dĩ chàng biết được chuyện này là vì bổn gia Tạ thị bao năm qua làm tay sai cho người Hồ, đem bao nhiêu thiếu nữ chi thứ dâng nộp ngoại tộc đã là chuyện cả thiên hạ đều căm phẫn xót xa; nay Tạ Lâm đến gây sự thất bại, tam thúc Tạ Khánh đột ngột bị giữ lại hậu viện, và bức thư hỏa tốc vừa gửi đến cửa phủ lúc chập tối đã nói lên tất cả những gì đang diễn ra.
Trước sự thấu thị thế sự đến mức đáng sợ của chàng trai trẻ, Tạ Thành không khỏi hít sâu một hơi khí lạnh, sự cảnh giác ban đầu dần nhường chỗ cho sự kinh ngạc khôn xiết. Ông ngồi xuống ghế, nhìn chăm chú vào Chúc Hợp rồi cất giọng trầm đục hỏi rằng nếu đã biết rõ Tạ phủ đang đối mặt với họa diệt môn từ bàn tay quyền thế ngút trời của Tạ Nhượng và kỵ binh người Hồ, thì một kẻ tay không tấc sắt như hắn có thể làm được trò trống gì để xoay chuyển càn khôn. Chúc Hợp tiến lên phía trước một bước, hai đầu gối bỗng nhiên quỳ sụp xuống nền gạch xanh mát lạnh, hai tay chắp lại giơ cao ngang mày, dập đầu một cái thật mạnh tạo nên âm thanh vang dội giữa gian phòng vắng lặng.
Hành động đột ngột ấy khiến Tạ Thành giật mình đứng bật dậy, hoang mang hỏi Chúc Hợp rốt cuộc muốn giở trò gì. Chúc Hợp ngẩng cao đầu, ánh mắt rực sáng như hai vì sao giữa đêm đông u tối, từng lời từng chữ thốt ra từ đáy lòng chàng tựa như khắc vào đá tảng: Chúc Hợp tôi đêm nay mạo muội cúi đầu khẩn cầu viên ngoại, xin ngài hãy rủ lòng từ bi gả đại tiểu thư Tạ Phác cho tôi; chỉ cần ngài đồng ý mối hôn sự này, tôi nguyện đem cả tính mạng, danh dự và toàn bộ trí lực của đời mình ra để làm tấm lá chắn vững chắc nhất, quyết phá tan cớ liên hôn cống nạp của bổn gia và giúp Tạ phủ tránh khỏi mối họa xâm lăng tày trời.
Nghe xong lời cầu hôn táo bạo đến mức điên rồ ấy, Tạ Thành giận quá hóa cười, cơn thịnh nộ kìm nén bấy lâu nay như ngọn núi lửa phun trào. Ông đập mạnh tay xuống bàn làm chén trà nảy lên tanh tách, lớn tiếng mắng Chúc Hợp là kẻ ngông cuồng vô độ, dám nuôi dã tâm cóc ghẻ đòi ăn thịt thiên nga; con gái của ông dẫu có phải gả gấp trong cảnh ngặt nghèo thì cũng là thiên kim tiểu thư của một cự phú danh giá chốn Bình Thành, há lại có thể tùy tiện gả cho một kẻ bần hàn khất cái, không một tấc đất cắm dùi, đến cái tên họ gia thế còn chưa rõ ràng như hắn. Tạ Thành quát lớn hỏi Chúc Hợp lấy tư cách gì, lấy bản lĩnh gì mà dám đứng trước mặt ông tuyên bố sẽ bảo vệ được Tạ Phác trước nanh vuốt của Tạ Nhượng và quân giặc Hồ hung hãn.
Đối diện với cơn thịnh nộ sấm sét của gia chủ, Chúc Hợp vẫn quỳ thẳng lưng như một cây tùng sừng sững giữa trời bão tuyết, sắc mặt chàng không hề biến đổi, giọng nói vẫn giữ được sự bình tĩnh đến lạnh lùng. Chàng cất lời phân tích rằng viên ngoại xin hãy bớt giận mà lắng nghe ba điều chí mạng: Thứ nhất, Tạ Nhượng ép gả đại tiểu thư là dựa trên danh nghĩa nàng vẫn là khuê nữ chưa chồng thuộc quyền quản hạt của tông tộc; một khi đại tiểu thư đã danh chính ngôn thuận bái đường thành thân, trở thành phụ nữ có gia đình, thì luật pháp tiền triều cũng như quy ước của các tộc ngoại bang đều không cho phép cướp đoạt phụ nữ đã có chồng làm vật cống nạp, Tạ Nhượng sẽ hoàn toàn mất đi tính chính danh để ép buộc. Thứ hai, nếu viên ngoại chọn gả đại tiểu thư cho các gia tộc giàu có khác ở Bình Thành hay các châu huyện lân cận, những kẻ ấy vì sợ hãi uy thế của Tạ Nhượng và người Hồ nhất định sẽ lập tức chối từ hoặc tệ hơn là bắt trói đại tiểu thư dâng nộp để lập công; chỉ có một kẻ không có gia tộc ràng buộc, không sợ hãi quyền thế như Chúc Hợp này mới dám cùng Tạ phủ đồng sinh cộng tử, kiên quyết không lùi bước.
Chúc Hợp ngừng lại một nhịp thở, ánh mắt chàng nhìn thẳng vào đôi mắt đang dao động dữ dội của Tạ Thành rồi tiếp tục cất giọng trầm hùng đanh thép: Điều thứ ba, và cũng là điều quan trọng nhất, Mã Đại đại ca dẫu có lòng dũng cảm và nghĩa khí giang hồ, nhưng đại ca là người thô mộc, chỉ biết dùng đao kiếm thô thiển, đối đầu với quyền mưu chính trị của bổn gia và sự tàn bạo của quân đội người Hồ thì nắm đấm giang hồ chỉ như lấy trứng chọi đá. Còn Chúc Hợp tôi tuy nghèo hèn lưu lạc nhưng trong bụng chứa đầy kinh luân mưu lược, am hiểu sâu sắc quy luật vận hành của thời cuộc và điểm yếu của các phe phái; tôi có thể vì Tạ phủ mà bày mưu lập kế, biến việc kinh doanh thương nghiệp của viên ngoại thành một mạng lưới hậu cần không thể thiếu đối với các quan chức địa phương, mượn sức mạnh của các thế lực khác để kiềm chế Tạ Nhượng, khiến lão dẫu có căm ghét cũng không dám tùy tiện động đến một cọng cỏ của Tạ phủ.
Từng lý lẽ sắc bén, chặt chẽ và đầy tính thuyết phục của Chúc Hợp như những búa tạ giáng thẳng vào tâm trí của Tạ Thành, đập tan mọi nghi ngờ và định kiến ban đầu trong lòng ông. Tạ Thành lặng người đi, nhìn chăm chú vào người thanh niên đang quỳ trước mặt mình; trong ánh mắt của Chúc Hợp không hề có chút tham lam vụ lợi của kẻ nghèo hèn muốn bám víu vào nhà giàu, cũng không có vẻ xảo trá nịnh hót của phường tiểu nhân bỉ ổi, mà chỉ có một ngọn lửa chân thành, quyết liệt và một sự si tình sâu thẳm đến mức khiến người ta phải chấn động tâm can. Một kẻ dám quỳ xuống nhận lấy mũi tên nhắm vào mình, dám đứng ra gánh vác món nợ máu với cả một dòng tộc quyền thế ngút trời để bảo vệ một cô nương xa lạ, nếu không phải là bậc đại trượng phu có dũng có mưu thì tuyệt đối không thể làm được điều đó.
Tạ Thành thở dài một hơi thật dài, bàn tay đang nắm chặt từ từ thả lỏng ra, ông khẽ bước lại gần đỡ lấy hai cánh tay của Chúc Hợp, cất giọng trầm ngâm đầy cảm xúc bảo chàng hãy đứng dậy nói chuyện. Ông nhìn sâu vào mắt Chúc Hợp, hỏi lại một lần nữa rằng chàng có biết nếu cưới Tạ Phác vào lúc này, chàng sẽ lập tức trở thành cái gai trong mắt của Tạ Nhượng, trở thành kẻ thù không đội trời chung của bổn gia và có thể mất mạng bất cứ lúc nào hay không. Chúc Hợp đứng thẳng dậy, vạt áo xanh lay động trong làn gió đêm ùa qua song cửa, chàng mỉm cười nhẹ nhàng nhưng kiên định khôn cùng, đáp rằng từ khi sinh ra trên cõi đời này, thân thể chàng đã trải qua muôn vàn kiếp nạn sinh tử; nếu cái chết có thể đổi lấy sự bình an, hạnh phúc cho đại tiểu thư và bảo toàn được khí tiết của một con người, thì Chúc Hợp này dẫu có chết vạn lần cũng không một lời hối tiếc.
Cuộc trò chuyện giữa hai người đàn ông kéo dài đến tận canh ba của đêm tối, khi những hạt mưa rào rào bắt đầu gõ nhịp trên mái ngói sương phòng. Tạ Thành không lập tức gật đầu đồng ý ngay tại chỗ, bởi lẽ ông hiểu rằng hôn nhân đại sự là chuyện cả một đời người, không thể chỉ dựa vào một lời hứa hẹn trong đêm mà định đoạt vội vã. Ông bảo Chúc Hợp hãy tạm thời lui về phòng nghỉ ngơi, giữ kín mọi chuyện và chờ đợi quyết định cuối cùng của ông sau khi đã bàn bạc kỹ lưỡng với phu nhân. Chúc Hợp cung kính hành lễ rồi lặng lẽ thoái lui, bóng lưng thanh mảnh của chàng khuất dần trong màn mưa đêm, để lại trong lòng Tạ Thành một mối tơ vò ngổn ngang trăm mối.
Trở lại phòng ngủ chính, Tạ Thành ngồi bên giường thì thầm thuật lại toàn bộ cuộc gặp gỡ kinh tâm động phách giữa ông và Chúc Hợp cho Tạ phu nhân nghe. Tạ phu nhân ngồi lắng nghe từng lời của chồng, gương mặt lộ rõ sự bàng hoàng xen lẫn xúc động khôn xiết; bà không ngờ một tên gia đinh dạy học nghèo khó lại có thể nuôi dưỡng một khí phách hiên ngang và một tấm lòng dũng cảm, mưu lược đến nhường ấy. So với viễn cảnh phải gả con gái cho Mã Đại thô kệch, việc Chúc Hợp chủ động cúi đầu xin cưới quả thực là một lối thoát mang lại nhiều hy vọng hơn về mặt tình cảm và phẩm giá cho Tạ Phác; dẫu sao Chúc Hợp cũng là người đọc sách thánh hiền, hiểu lễ nghĩa, biết kính trên nhường dưới và có tài học vượt trội.
Thế nhưng, Tạ phu nhân vẫn không giấu được nỗi âu lo trĩu nặng trong ánh mắt. Bà nắm lấy tay phu quân, nghẹn ngào bảo rằng một bên là Mã Đại trượng nghĩa vai u thịt bắp, có cả đám huynh đệ giang hồ sẵn sàng xả thân; một bên là Chúc Hợp tài hoa nho nhã, mưu sâu kế hiểm nhưng thân thế lại quá đỗi mịt mờ. Cả hai người họ đều là những kẻ cùng đường mạt lộ được Tạ phủ cưu mang, nhưng ai mới thực sự là người sẽ mang lại nụ cười và sự an yên trọn vẹn cho con gái suốt quãng đời còn lại thì trời cao mới thấu tỏ. Thời hạn mười ngày của bức tối hậu thư từ Tạ Nhượng như chiếc đồng hồ cát đang cạn dần từng hạt, họ không còn đường lùi nào khác ngoài việc phải chọn lấy một người ngay trong những ngày tới để cấp tốc tổ chức hôn lễ.
Giữa đêm khuya thanh vắng, khi tiếng mưa rơi ngoài hiên nhà đã dần ngớt hạt, hai vợ chồng Tạ Thành nhìn nhau thật lâu trong ánh nến mờ ảo. Cuối cùng, Tạ phu nhân lau nước mắt, cất giọng dịu dàng nhưng vô cùng kiên quyết đề nghị rằng hôn nhân là duyên phận cả một đời của nữ nhi, họ dẫu là cha mẹ cũng không thể ép uổng hay tự tiện quyết định thay cho số phận của nàng. Đáng lẽ ra Tạ Phác đã có thể được gả vào một gia đình môn đăng hộ đối, ngồi kiệu hoa tám người khiêng để làm thiếu phu nhân quyền quý, nhưng thời loạn lạc biến cố ập đến đã cướp đi quyền lợi chính đáng ấy; vì vậy, cách tốt nhất để bù đắp cho con gái lúc này là trao trọn quyền lựa chọn tối thượng vào chính bàn tay nàng.
Tạ Thành nghe phu nhân nói vậy liền gật đầu tán thành sâu sắc. Ông bàn bạc với vợ rằng sáng sớm ngày mai, họ sẽ mượn cớ triệu tập cả Mã Đại lẫn Chúc Hợp đến gian phòng nghị sự lớn ở tiền sảnh để giao phó công việc trong phủ; đồng thời, Tạ phu nhân sẽ bí mật đưa Tạ Phác đến nấp sau bức bình phong sáu tấm chạm khắc tích Bát Tiên Quá Hải đặt ở góc phòng. Từ phía sau tấm rèm lụa mỏng manh ấy, Tạ Phác có thể tự mình tận mắt quan sát diện mạo, cử chỉ, phong thái và lắng nghe từng lời ăn tiếng nói của cả hai người đàn ông; nàng ưng thuận ai, trao trọn niềm tin cho ai để cùng nhau bước qua giông bão cuộc đời, thì người đó sẽ chính thức trở thành con rể hiền tế của Tạ phủ Bình Thành. Định mệnh của đại tiểu thư họ Tạ và bước ngoặt số phận của Chúc Hợp giờ đây hoàn toàn phụ thuộc vào ánh mắt đầu tiên phía sau bức bình phong gỗ ấy trong buổi sớm mai.