Chương 7: Đối Ẩm Đêm Trăng Bàn Chuyện Đại Cuộc
Sau đêm mưa gió bão bùng và những màn rượt đuổi đến nghẹt thở nơi bãi rác hoang tàn ngoài cửa thành, không khí trong phủ viên ngoại họ Tạ tại Bình Thành dần lấy lại vẻ yên bình vốn có. Tạ Thành trước nay vốn nổi danh khắp vùng là bậc hào sảng trượng nghĩa, một tay gầy dựng nên cơ nghiệp trù phú ở chốn biên ải gió cát này bằng sự khảng khái và chữ tín đặt lên hàng đầu. Sau khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng đám gia nô hung hãn của bổn gia họ Tạ từ phương Bắc kéo tới truy sát những người ăn mày nghèo khổ, trong lòng ông dâng lên một mối căm phẫn khôn cùng. Ông thừa hiểu tính nết hẹp hòi, tàn nhẫn của đám người ở bổn gia, nếu để Mã Đại cùng đám huynh đệ khất cái tiếp tục lê la nơi đầu đường góc chợ, bọn chúng sớm muộn gì cũng sẽ quay lại trả thù, thậm chí đánh chết người không chớp mắt để hả giận. Vì mối duyên nợ đã cùng nhau trải qua phen hoạn nạn sinh tử, và cũng vì cảm kích nghĩa khí dám xả thân vì người khác của đám người khất thực, Tạ Thành đã đưa ra một quyết định dứt khoát khiến cả phủ đệ trên dưới đều bất ngờ.
Sáng sớm hôm ấy, dưới bóng mát của rặng liễu rủ thướt tha bên bờ hồ nước trong hoa viên, Tạ Thành cho gọi Mã Đại cùng toàn thể mấy mươi huynh đệ khất cái đang nương náu ở dãy sương phòng phía Tây lại gần. Nhìn đám người áo quần rách rưới vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt ai nấy đều lộ rõ vẻ cương trực, không chút tà tâm, Tạ viên ngoại khẽ vuốt chòm râu hoa râm, cất giọng sang sảng tuyên bố trước mặt mọi người. Ông quyết định thu nhận toàn bộ huynh đệ của Mã Đại vào Tạ phủ làm gia đinh chính thức, mỗi tháng đều được phát bạc bổng lộc đầy đủ, lo cơm ăn áo mặc chu toàn ngày ba bữa ấm no, đặc biệt là tuyệt đối không bắt ép bất kỳ ai phải đặt bút ký vào văn tự bán thân. Lời nói vừa thốt ra chẳng khác nào sấm sét giữa trời quang, mang lại cho đám người bần hàn một lối thoát tưởng chừng chỉ có trong những giấc mơ hoang đường nhất đời mình.
Đứng trước mặt gia chủ, Mã Đại với cánh tay phải bị đánh gãy đang phải dùng nẹp tre cố định thật chặt trước ngực, đôi mắt hoe đỏ vì xúc động khôn xiết. Gã khất cái bao năm lăn lộn đầu đường xó chợ, nếm trải đủ mọi cay đắng tủi nhục của nhân gian, từng bị người đời xua đuổi như loài chó dại, chưa từng dám nghĩ rằng sẽ có một ngày huynh đệ của mình được đối đãi như những con người đàng hoàng, có chốn dung thân vững chãi mà không phải mang thân phận nô bộc hèn hạ suốt đời. Mã Đại quỳ rạp người xuống nền gạch, nghẹn ngào thốt lên rằng ơn sâu nghĩa nặng này của Tạ gia, dẫu cả đời đám ăn mày bọn họ có tan xương nát thịt cũng quyết không dám quên nửa phần. Đám huynh đệ phía sau cũng đồng loạt quỳ rạp xuống, những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt phong trần lem luốc bụi đường, một mực cúi đầu tạ ơn vị ân nhân đã cứu vớt cuộc đời tăm tối của bọn họ thoát khỏi cảnh màn trời chiếu đất.
Thu xếp xong xuôi nơi ăn chốn ở cho đám người của Mã Đại, Tạ Thành quay sang nhìn Chúc Hợp đang đứng lặng lẽ phía sau với một ánh mắt trầm ngâm đầy toan tính. So với thân hình vạm vỡ, giỏi quyền cước của Mã Đại và sự tháo vát của đám khất cái quen chịu sương gió dãi dầu, Chúc Hợp lại mang dáng dấp của một thư sinh yếu ớt, tay trói gà không chặt, trên người lúc này vẫn còn ê ẩm những vết bầm tím do xe ngựa va chạm đêm trước. Tạ Thành thầm nghĩ trong bụng, chàng trai trẻ này bảo làm việc nặng nhọc thì không kham nổi, giao cho chân quản sự hay trông coi kho lúa thì lại chưa rõ gốc tích nguồn cơn ra sao, nếu để làm tiên sinh tính toán sổ sách thu chi thì e rằng lại uổng phí tài năng văn chương xuất chúng. Nhớ lại vẻ mặt sáng sủa cùng những lời lẽ đao to búa lớn mà Chúc Hợp đã bộc bạch trong cơn mê sảng và lúc mới tỉnh lại đêm qua, Tạ viên ngoại chợt nảy ra một ý định vô cùng táo bạo trong đầu.
Tạ Thành chỉ có một mụn con trai duy nhất để nối dõi tông đường, đó là tiểu thiếu gia Tạ Kì năm nay vừa tròn mười tuổi. Đứa trẻ này trời sinh tính tình thông minh, lanh lợi khác thường, trí nhớ siêu quần nhưng lại nghịch ngợm ngút trời và vô cùng chán ghét việc học hành chữ nghĩa theo lối tầm chương trích cú. Trong phủ vốn đã có Triệu tiên sinh, một vị hủ nho già nua bảo thủ được rước về để dạy dỗ kinh thư vào các buổi sáng, nhưng cách dạy rập khuôn, lúc nào cũng lăm lăm cây thước gỗ gõ vào lòng bàn tay học trò khiến Tạ Kì càng thêm sợ hãi và tìm đủ mọi cách để trốn học đi bắt dế, bắn chim. Nghĩ đến chuyện ấy, Tạ Thành liền bước lại gần Chúc Hợp, cất giọng trầm ấm thăm dò xem hắn có bằng lòng nhận lấy công việc phụ trách dạy dỗ Tạ Kì vào các buổi chiều, giúp đứa trẻ khai tâm mở trí hay không.
Nghe thấy lời đề nghị bất ngờ của Tạ viên ngoại, Chúc Hợp trong lòng mừng thầm như mở cờ, suýt chút nữa đã không kìm nén được nụ cười rạng rỡ trên môi. Hắn đâu có ngờ cơ hội tiếp cận sâu hơn vào nội bộ Tạ gia lại đến nhanh chóng và thuận lợi đến như vậy. Quan trọng hơn cả, thư phòng dạy học của Tạ Kì nằm ngay sát vách khuôn viên hậu viện, nơi mà đại tiểu thư Tạ Phác ngày ngày thêu thùa, ngắm hoa thưởng trà dưới giàn hoa mộc miên. Từ sau lần nhận được miếng bánh hoa quế thơm ngọt của nàng bên vệ đường hôm nọ, hình bóng đoan trang, dịu dàng của người vợ kết tóc kiếp trước chưa từng một giây một phút nào phai nhạt trong tâm trí hắn. Chúc Hợp lập tức chắp tay, cúi đầu thi lễ một cách cung kính, cất lời cam kết với Tạ Thành rằng bản thân sẽ đem hết sở học bình sinh ra để chỉ bảo cho thiếu gia, quyết không phụ sự kỳ vọng và lòng tin cậy của ân công.
Sáng hôm sau, khi những tia nắng ấm áp đầu tiên của ngày hè rọi qua kẽ lá liễu, Chúc Hợp đã dậy từ sớm tinh mơ, chỉnh đốn lại y phục bằng vải thô sạch sẽ do Tạ phủ cấp phát, lòng tràn đầy háo hức chờ đợi buổi dạy đầu tiên. Hắn bước đi trên con đường lát đá xanh dẫn về phía thư phòng nhỏ ở mé Bắc hoa viên, trong lòng thầm nhớ lại những lỗi lầm ngông cuồng, phóng túng của tiền kiếp khi chưa biết trân trọng tấm lòng thơm thảo của Tạ Phác. Kiếp này được ông trời ban cho cơ hội sống lại lần thứ hai, hắn đã tự thề với trời đất rằng dẫu có phải trải qua muôn ngàn đắng cay, hiểm nguy rình rập, hắn cũng phải trở thành một bờ vai vững chãi nhất để chở che cho nàng, giữ gìn cho nàng một cuộc đời an yên, hạnh phúc giữa thời loạn lạc. Bước chân của Chúc Hợp vì thế mà thêm phần vững chãi, ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía cánh cửa thư phòng đang khép hờ dưới bóng râm mát rượi của giàn hoa tử đằng.
Trong khi đó, ở bên trong thư phòng, Tạ Kì lại đang ngồi ủ rũ bên chiếc bàn học bằng gỗ lim, mặt mày nhăn nhó như vừa phải nuốt phải một ngụm thuốc đắng nghét. Cậu nhóc mười tuổi vốn vừa trải qua một buổi sáng mệt mỏi với những bài học thuộc lòng vô vị của Triệu tiên sinh, nay lại nghe phụ thân báo tin sẽ có thêm một tiên sinh mới đến dạy vào buổi chiều, khiến trong lòng bực bội vô cùng. Khi nhìn thấy Chúc Hợp bước vào phòng với dáng vẻ một thư sinh nghèo khó, trên người mặc áo vải gai mộc mạc, ấn tượng ban đầu của Tạ Kì lập tức tụt xuống tận đáy vực. Cậu nhóc cố tình không thèm đứng dậy hành lễ chào hỏi theo phép tắc, chỉ cúi gằm mặt xuống bàn, tay cầm bút lông quệt qua quệt lại trên mặt giấy Tuyên Thành, vờ như đang mải mê luyện chữ để thể hiện sự bất phục của mình đối với vị thầy mới.
Chúc Hợp nhìn thấu tâm tư của đứa trẻ bướng bỉnh, hắn không hề nổi giận hay dùng uy quyền của người làm thầy để răn đe, mà chỉ mỉm cười điềm đạm bước lại gần chiếc ghế gỗ bên cạnh bàn học rồi thong thả ngồi xuống. Đợi cho Tạ Kì viết xong một nét chữ nguệch ngoạc và dừng tay xoa xoa cổ tay mỏi nhừ, Chúc Hợp mới vươn tay cầm lấy quyển Tam Tự Kinh cũ kỹ đang nằm chỏng chơ trên góc bàn, lật giở từng trang một cách cẩn thận và trân trọng. Tạ Kì thấy vậy liền nhướng đôi mày thanh tú lên, bĩu môi nói bằng giọng đầy vẻ thách thức, hỏi rằng tiên sinh năm nay đã lớn ngần này tuổi đầu rồi mà sao vẫn còn thích đọc quyển sách vỡ lòng của con trẻ lên ba như thế.
Chúc Hợp nhẹ nhàng gấp quyển sách lại, đặt ngay ngắn lên mặt bàn rồi nhìn thẳng vào mắt Tạ Kì với ánh mắt ấm áp, ôn tồn cất lời giải thích. Hắn bảo rằng việc học tập trên đời này cũng giống như việc xây dựng một tòa nhà cao tầng, gốc rễ móng bè có vững chắc thì thân cây mới có thể vươn cao đón gió bão ngàn phương mà không bao giờ bị gãy đổ. Sách Tam Tự Kinh tuy là sách dạy chữ cho kẻ mới nhập môn, từng câu từng chữ ngắn gọn chỉ có ba chữ mộc mạc, nhưng ẩn chứa bên trong lại là cả một kho tàng tri thức bao la, gồm trọn đạo lý làm người, bài học xương máu của lịch sử ngàn năm và cả những tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm hy sinh. Nếu người đọc chỉ biết học vẹt từng câu từng chữ để đối phó với khảo hạch, thì dẫu có đọc đến bạc đầu răng rụng cũng chẳng thể nào hiểu hết được cái hay, cái đẹp và sự thâm thúy mà cổ nhân muốn gửi gắm lại cho hậu thế mai sau.
Tạ Kì nghe những lời lẽ khác lạ ấy thì trong lòng bỗng dấy lên sự tò mò mãnh liệt, cậu nhóc tròn xoe đôi mắt đen láy nhìn Chúc Hợp rồi ỉu xìu gãi đầu gãi tai thú nhận nỗi lòng. Cậu bảo rằng Triệu tiên sinh buổi sáng dạy học chỉ bắt cậu phải đọc to từng chữ cho đến khi thuộc làu làu, nếu có chữ nào không hiểu mà đánh bạo hỏi lại thì liền bị tiên sinh gõ thước vào trán, quở mắng là lắm lời vô lễ, bắt phải tự mình suy ngẫm cho ra. Chúc Hợp nghe vậy liền bật cười sảng khoái, vỗ nhẹ vào vai Tạ Kì rồi bảo rằng học hành cốt ở chỗ thông hiểu đạo lý và biết vận dụng linh hoạt vào đời sống thực tế, chứ không phải để biến mình thành một con mọt sách vô dụng chỉ biết nhai lại lời người khác. Nói đoạn, Chúc Hợp bắt đầu chọn ra những điển tích nổi tiếng nhất trong Tam Tự Kinh, nhưng thay vì giảng giải bằng thứ văn từ sáo rỗng khó hiểu, hắn lại dùng giọng điệu trầm bổng, lôi cuốn như một người kể chuyện dân gian lão luyện để kể cho Tạ Kì nghe về những trận đánh lẫy lừng, những mưu lược quyền biến và cả những câu chuyện cảm động về tình bằng hữu giữa chốn phong trần.
Càng nghe Chúc Hợp giảng giải, đôi mắt của Tạ Kì càng sáng rực lên niềm thích thú vô hạn, sự đề phòng và chán ghét ban đầu hoàn toàn tan biến như làn sương mỏng dưới ánh mặt trời. Cậu nhóc ngồi thẳng lưng dậy, hai tay chống cằm, chăm chú lắng nghe từng câu từng chữ không rời nửa bước, thỉnh thoảng lại vỗ tay reo lên tán thưởng khi nghe đến những đoạn mưu lược tài tình của tiền nhân. Khi gặp phải những chỗ chưa hiểu rõ, Tạ Kì không ngần ngại cất tiếng hỏi dồn dập, và Chúc Hợp luôn kiên nhẫn phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, khuyến khích cậu tự mình đưa ra nhận định riêng chứ không hề gò ép tư tưởng của cậu vào bất kỳ khuôn mẫu cứng nhắc nào. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ của buổi chiều hôm ấy, một thế giới tri thức sống động, đầy màu sắc đã mở ra trước mắt cậu bé mười tuổi, khiến cậu lần đầu tiên cảm nhận được niềm vui sướng và sự say mê thực sự của việc học hành.
Ở bên ngoài hành lang rợp bóng mát của rặng ngô đồng, Tạ Thành vốn vì chưa thực sự an tâm về chàng thư sinh xa lạ nên đã lén lút đi tới, nép mình sau cánh cửa sổ khép hờ để theo dõi tình hình bên trong phòng học. Ban đầu, Tạ viên ngoại chỉ sợ Chúc Hợp tính tình nông nổi, lại buông ra những lời lẽ ngông cuồng làm hư mất đứa con trai độc nhất mà ông hết mực thương yêu. Thế nhưng, khi tận tai lắng nghe cách Chúc Hợp dẫn dắt câu chuyện một cách khéo léo, biến những giáo lý khô khan thành những bài học nhân sinh sâu sắc và đầy sức thuyết phục, Tạ Thành không khỏi giật mình kinh ngạc. Nhìn thấy đứa con trai vốn tính bướng bỉnh khó thuần của mình lúc này đang say sưa thảo luận với Chúc Hợp như hai người bạn vong niên, trong lòng vị viên ngoại dâng lên một niềm cảm thán khôn nguôi, thầm công nhận rằng gã thanh niên này quả thực là một kỳ tài hiếm gặp, kiến thức và tầm nhìn đều vượt xa hạng nho sĩ tầm thường nơi chốn thị thành.
Những ngày tiếp theo trôi qua trong sự êm đềm nhưng lại ngấm ngầm tạo nên những làn sóng ngầm xao động dữ dội bên trong Tạ phủ. Trong khi Tạ Kì ngày càng gắn bó và yêu quý Chúc Hợp như một người anh lớn đáng kính, thì ở chiều ngược lại, Triệu tiên sinh dạy buổi sáng lại bắt đầu rơi vào cảnh bực bội, khó chịu khôn cùng. Lão nho sĩ già vốn quen thói được học trò kính cẩn vâng dạ từng lời, nay bỗng phát hiện ra Tạ Kì không còn ngoan ngoãn ngồi nghe lão thao thao bất tuyệt như trước nữa. Mỗi khi lão đưa ra một quan điểm cổ hủ rập khuôn, Tạ Kì liền thẳng thắn cất lời phản bác bằng những lý lẽ sắc bén, thực tế mà cậu đã học được từ Chúc Hợp vào buổi chiều, khiến Triệu tiên sinh nhiều phen nghẹn họng, đỏ bừng cả mặt vì không thể tìm ra lời lẽ nào để cãi lại đứa trẻ mười tuổi.
Đỉnh điểm của sự bực tức xảy ra vào một buổi sáng mùa hè oi ả, khi Triệu tiên sinh bày bàn cờ vây bằng gỗ thị ra để khảo thí kỳ nghệ của Tạ Kì như thường lệ nhằm gỡ gạc lại uy phong của bậc thầy. Mọi khi, Tạ Kì chỉ biết đi theo những nước cờ cơ bản theo sách vở, dễ dàng bị lão dồn vào thế bí chỉ sau vài mươi nước đi; thế nhưng hôm nay, cậu nhóc lại áp dụng lối đánh linh hoạt, biến hóa khôn lường mà Chúc Hợp đã chỉ điểm, liên tục giăng ra những cạm bẫy bất ngờ khiến đại quân của lão bị cắt đứt và nuốt chửng từng mảng lớn. Thua cờ thảm hại trước mặt một đứa trẻ con, Triệu tiên sinh tức giận đến mức run rẩy cả chòm râu bạc, lập tức quẳng mạnh quân cờ xuống bàn rồi đùng đùng xách vạt áo đi thẳng lên tiền sảnh để tìm Tạ Thành cáo trạng. Lão đem hết những biến chuyển gần đây của Tạ Kì ra thêu dệt, bảo rằng Chúc Hợp là kẻ mang tà thuyết dị đoan, dạy cho thiếu gia những thói ngỗ nghịch, dám cãi lời trưởng bối, nếu không sớm đuổi đi thì e rằng gia phong nền nếp của họ Tạ sẽ có ngày sụp đổ.
Ngồi ở phòng khách uống trà, Tạ Thành lắng nghe từng lời than vãn đầy vẻ ấm ức của Triệu tiên sinh với vẻ mặt điềm đạm, không chút gợn sóng. Bản thân ông ngày ngày đều để mắt quan sát sự tiến bộ vượt bậc của con trai, thấy Tạ Kì không chỉ hiểu biết rộng hơn mà tính tình cũng trở nên đĩnh đạc, tự tin và có trách nhiệm hơn hẳn, làm sao ông có thể tin vào những lời vu cáo xuất phát từ lòng đố kỵ hẹp hòi của lão hủ nho được. Tuy nhiên, vì nể tình Triệu tiên sinh đã gắn bó với Tạ phủ nhiều năm trời, Tạ viên ngoại không tiện nói thẳng ra để giữ thể diện cho lão, chỉ mỉm cười xoa dịu đôi câu rồi khéo léo chuyển sang chuyện mùa màng, ngầm ý bảo quản gia tiễn lão về phòng nghỉ ngơi. Triệu tiên sinh hậm hực rời đi, nhưng trong lòng vẫn ôm mối căm ghét sâu sắc đối với Chúc Hợp, hạ quyết tâm hễ có cơ hội là sẽ tìm cách bài xích và tống khứ đối phương ra khỏi phủ cho bằng được.
Về phần Tạ Kì, cậu nhóc chẳng mảy may bận tâm đến thái độ hậm hực của Triệu tiên sinh, trái lại càng thêm phần tôn sùng và quấn quýt bên Chúc Hợp. Một buổi chiều nọ, sau khi hoàn thành bài luận chữ sớm hơn dự định, Chúc Hợp mỉm cười xoa đầu Tạ Kì, bảo rằng trẻ con đang tuổi ăn tuổi lớn không nên suốt ngày chỉ biết giam mình trong bốn bức tường chật hẹp, cần phải ra ngoài hít thở khí trời và vận động cho gân cốt dẻo dai thì tinh thần mới minh mẫn. Nghe thấy lời dặn dò đầy tâm lý của tiên sinh, Tạ Kì mừng rỡ nhảy cẫng lên, lập tức xin phép chạy một mạch sang viện hoa của đại tỷ Tạ Phác để khoe khoang những chuyện kỳ thú mà mình vừa được học.
Lúc bấy giờ, ánh nắng chiều tà vàng óng như mật đang trải dài trên những luống hoa dạ lý hương và mẫu đơn trong sân viện râm mát của Tạ Phác. Nàng mặc một bộ váy lụa màu xanh nhạt thanh nhã, mái tóc mây đen nhánh được cài bằng một chiếc trâm ngọc bích giản dị, dáng vẻ đoan trang, uyển chuyển đang cầm chiếc bình gốm nhỏ tưới nước cho những đóa hoa đang khẽ rũ xuống sau một ngày hè nắng gắt. Nhìn thấy đệ đệ từ xa hớt hải chạy tới với gương mặt rạng rỡ nụ cười, Tạ Phác khẽ mỉm cười dịu dàng, đưa bình tưới cho nha hoàn thân cận rồi bước lại chiếc bàn đá tròn dưới bóng mát của cây mộc lan cổ thụ, ân cần kéo Tạ Kì ngồi xuống bên cạnh mình.
Tạ Kì vừa ngồi xuống đã vội vàng bốc lấy một miếng bánh đậu xanh trên đĩa cho vào miệng nhai ngấu nghiến, vừa nhai vừa hào hứng kể cho đại tỷ nghe về việc Chúc tiên sinh đã rộng lượng cho cậu tan học sớm thế nào. Đứng ở một bên hầu hạ, nha hoàn Yến Hà nghe vậy liền khẽ bĩu môi, lên tiếng trách móc rằng vị Chúc tiên sinh kia thật là tắc trách, người ta được nhận bổng lộc của phủ để dạy học thì phải tận tâm tận lực kèm cặp thiếu gia đến nơi đến chốn, đằng này lại tùy tiện cho tan sớm để lười biếng trốn việc đi dạo. Lời nói của Yến Hà vừa dứt, Tạ Phác liền đưa mắt nhìn sang với vẻ nghiêm nghị nhắc nhở, khiến nàng nha hoàn biết mình lỡ lời vội cúi đầu im bặt, không dám nhiều lời thêm nữa.
Tạ Kì buông miếng bánh xuống, lập tức cất giọng phản bác đầy vẻ bất bình để bảo vệ người thầy mà mình hết lòng sùng kính. Cậu nhóc giải thích rành rọt rằng Chúc tiên sinh dạy học vô cùng sâu sắc, chỉ cần giảng giải một canh giờ là đã bằng người khác dạy cả ngày, hơn nữa tiên sinh còn dạy cho cậu biết yêu thương gia đình, hiểu được nỗi vất vả nhọc nhằn của phụ thân và sự hy sinh thầm lặng của đại tỷ. Tạ Kì còn hào hứng kể lại những nước cờ biến hóa kỳ diệu mà Chúc Hợp đã chỉ bảo, giúp cậu đánh bại cả Triệu tiên sinh vào buổi sáng. Nghe đệ đệ thao thao bất tuyệt kể về Chúc Hợp với ánh mắt lấp lánh sự ngưỡng mộ tột cùng, Tạ Phác không khỏi ngạc nhiên. Xưa nay Tạ Kì vốn là đứa trẻ bướng bỉnh khó bảo, chưa từng chịu khuất phục trước bất kỳ vị gia sư danh tiếng nào trong thành, vậy mà nay lại một lòng một dạ tôn kính một chàng thư sinh nghèo khó vừa mới bước chân vào phủ.
Tạ Phác khẽ mỉm cười, đưa bàn tay thon thả nhéo nhẹ vào đầu mũi của đệ đệ, trêu đùa rằng không biết Chúc tiên sinh kia là thần thánh phương nào mà lại có tài mua chuộc được tiểu bá vương của Tạ gia nhanh đến thế. Nàng khẽ thở dài đầy vẻ tiếc nuối, bảo rằng đáng tiếc Chúc tiên sinh là nam nhân ngoại tộc, quy củ khuê các nghiêm ngặt khiến nàng không tiện trực tiếp diện kiến, nếu không nàng nhất định phải tận mắt nhìn xem vị tiên sinh này có ba đầu sáu tay ra sao mà lại khiến cả phụ thân lẫn đệ đệ đều hết lời khen ngợi như vậy. Nhìn bóng lưng đệ đệ tung tăng chạy đi chơi sau khi ăn xong đĩa điểm tâm, Tạ Phác ngồi lại một mình bên bàn đá, ánh mắt xa xăm nhìn về phía những cánh hoa rơi rụng, trong lòng chợt dấy lên một nỗi bồi hồi khó tả khi nhớ lại chàng thanh niên khất thực có ánh mắt kiên định khác thường mà nàng đã từng bố thí bánh hoa quế hôm nào bên vệ đường bụi bặm.
Khi màn đêm dần buông xuống phủ trùm lên khắp các mái ngói rêu phong của Bình Thành, vầng trăng rằm tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc khổng lồ từ từ nhô lên khỏi rặng tre phía Đông, tỏa ánh sáng vằng vặc, trong trẻo như nước rưới khắp không gian Tạ phủ. Tại Lương Đình nằm lẻ loi giữa hồ sen nở muộn ở hậu viện, gió đêm thổi qua cành liễu mang theo hương sen thoang thoảng làm dịu đi cái ngột ngạt của ngày hè oi ả. Tạ Thành lúc này đang ngồi một mình bên chiếc bàn đá tròn, trên bàn bày một vò rượu hoa cúc thơm nồng được ủ lâu năm cùng hai chiếc chén sứ trắng tinh xảo và vài đĩa đồ nhắm thanh đạm. Đêm nay, sau nhiều ngày âm thầm quan sát và trăn trở về thời cuộc hỗn loạn, Tạ viên ngoại đã hạ lệnh cho gia đinh đích thân mời Chúc Hợp đến đây để cùng ông đối ẩm đàm đạo dưới bóng trăng thanh.
Nhận được lời mời của chủ nhân, Chúc Hợp thong thả rảo bước qua cây cầu gỗ uốn cong dẫn ra giữa hồ sen, tâm thế vô cùng bình thản và đĩnh đạc. Hắn biết rất rõ cuộc gặp gỡ đêm nay mang ý nghĩa sống còn đối với tiền đồ của bản thân cũng như mối quan hệ giữa hắn và gia đình họ Tạ. Đêm hôm trước, khi vừa mới tỉnh lại sau tai nạn va chạm xe ngựa, vì quá nóng vội muốn thể hiện bản thân và nhắc nhở Tạ Thành về hiểm họa giặc giã, hắn đã buông ra những lời lẽ có phần đao to búa lớn khiến Tạ viên ngoại nghi ngờ tâm cơ và thẳng thừng đánh giá hắn chỉ là kẻ thích lý luận suông. Đêm nay, dưới ánh trăng vằng vặc soi tỏ lòng người, Chúc Hợp tự nhủ sẽ dùng tất cả sự trải nghiệm của hai kiếp người cùng tấm lòng chân thành nhất để hóa giải mọi khúc mắc, giúp Tạ Thành nhìn rõ con đường sáng giữa thời buổi nhiễu nhương.
Bước vào Lương Đình, Chúc Hợp dừng bước, vòng hai tay trước ngực thi lễ một cách chuẩn mực theo đúng phong thái của một kẻ sĩ nho nhã, cất lời chào Tạ viên ngoại bằng giọng nói trầm ấm, rõ ràng. Tạ Thành ngước mắt nhìn lên, khẽ mỉm cười xua tay bảo hắn hãy miễn lễ rồi chỉ vào chiếc ghế đá đối diện, thân mật mời hắn ngồi xuống cùng uống chén rượu giải khuây. Chúc Hợp khẽ tạ ơn rồi thong thả ngồi xuống, tư thế thẳng thắn, ánh mắt sáng ngời nhìn thẳng vào vị gia chủ đang có nhiều tâm sự u uất đè nặng trên vầng trán nhăn nheo.
Tạ Thành tự tay nhấc vò rượu lên, nghiêng dòng chất lỏng màu hổ phách sóng sánh rót đầy vào hai chiếc chén sứ, tiếng rượu chảy róc rách hòa cùng tiếng ếch nhái râm ran ngoài đầm sen tạo nên một khúc nhạc đêm thanh vắng. Đặt vò rượu xuống bàn, Tạ viên ngoại nâng chén rượu của mình lên, hướng về phía Chúc Hợp rồi cất giọng trầm trầm bộc bạch nỗi lòng. Ông bảo rằng mấy ngày qua nhìn thấy Tạ Kì ham học và tiến bộ từng ngày, trong lòng ông vô cùng cảm kích trước tấm lòng và tài năng của Chúc Hợp, chén rượu đầu tiên này coi như là lời cảm tạ chân thành của một người làm cha gửi tới vị tiên sinh đã dày công chỉ bảo đứa con thơ dại của mình.
Chúc Hợp vội vàng hai tay nâng chén rượu lên đáp lễ, nhấp một ngụm nhỏ rồi mỉm cười khiêm tốn đáp lời. Hắn bảo rằng tiểu thiếu gia trời sinh thông tuệ, cốt cách phi phàm, bản thân hắn chỉ làm tròn bổn phận khơi gợi niềm đam mê và dẫn dắt bản tính lương thiện vốn có của đứa trẻ mà thôi, công lao dạy dỗ lớn nhất vẫn thuộc về sự dạy bảo nghiêm cẩn và phúc đức sâu dày của Tạ gia. Nghe Chúc Hợp đối đáp nhã nhặn, khiêm nhường chứ không hề có chút kiêu ngạo nào như những kẻ có chút tài mọn thường thấy, Tạ Thành khẽ gật đầu hài lòng, trong lòng càng thêm phần nể trọng tính cách chín chắn của chàng thanh niên trước mặt.
Đặt chén rượu không xuống mặt bàn đá, Tạ Thành khẽ thở dài một hơi thật sâu, ánh mắt chuyển từ vẻ ôn hòa sang nét trầm tư, xa xăm nhìn theo những gợn sóng lăn tăn phản chiếu bóng trăng dưới mặt hồ. Vị viên ngoại im lặng một hồi lâu như đang cân nhắc từng lời, rồi bất ngờ quay sang nhìn Chúc Hợp, cất giọng trầm đục hỏi thẳng vào vấn đề cốt lõi mà ông đã trăn trở bấy lâu nay. Tạ Thành nhắc lại chuyện Chúc Hợp từng bàn về thế cuộc giang sơn vào cái đêm hắn nằm mê man trên giường bệnh, rồi hỏi rằng giữa thời buổi triều đình Nam Tống ngày một suy vi, giặc Hồ phương Bắc lăm le vó ngựa xâm lăng, còn đám cường hào thế gia thì tranh nhau bán rẻ lương tâm để cầu vinh hoa phú quý, một kẻ áo vải như Chúc Hợp thực sự nhìn thấy tương lai của mảnh đất này sẽ trôi dạt về phương nào.
Hiểu được Tạ Thành đang mở lòng muốn cùng mình luận bàn chuyện đại cuộc chứ không còn coi mình là kẻ nói khoác lác, Chúc Hợp hít một hơi thật sâu, ánh mắt trở nên sắc sảo lạ thường. Hắn thong thả nhặt lấy vài quân cờ vây màu đen và trắng còn sót lại trong chiếc hộp gỗ trên bàn đá, nhẹ nhàng đặt từng quân cờ xuống mặt bàn theo thế chân vạc vững chắc, rồi cất giọng đĩnh đạc, rành rọt phân tích từng ngóc ngách của thế cuộc đương thời cho Tạ viên ngoại nghe.
Chúc Hợp chỉ tay vào quân cờ màu xám đại diện cho triều đình Nam Tống đang đóng đô ở phương Nam xa xôi, giọng nói đượm vẻ xót xa nhưng vô cùng dứt khoát. Hắn phân tích rằng Nam Tống từ ngày dời đô về Giang Nam đã hoàn toàn đánh mất chí khí quật cường của tổ tiên, quân vương say đắm trong tửu sắc nơi lầu son gác tía, gian thần lộng hành bè phái, trung thần bị hãm hại đày ải nơi biên viễn. Quân đội triều đình tuy đông đảo nhưng bạc nhược, quan lại chỉ biết vơ vét của cải của dân lành để dâng nộp cống phẩm cầu hòa, mỗi lần nghe thấy tiếng vó ngựa của giặc Hồ là cả triều đình run rẩy khiếp sợ. Một triều đại đã mục ruỗng từ tận gốc rễ như vậy, lòng dân đã oán thán đến tận cùng, thì dẫu có thành cao hào sâu, có sông dài hiểm trở che chở cũng tuyệt đối không thể nào trụ vững được lâu dài, ngày sụp đổ chỉ là chuyện sớm muộn trong nay mai mà thôi.
Tiếp đó, Chúc Hợp chuyển ngón tay sang chỉ vào quân cờ màu đen thẫm đại diện cho thế lực ngoại tộc người Hồ đang hung hãn bành trướng ở phương Bắc. Hắn thừa nhận rằng quân kỵ rợ Hồ quả thực vô cùng thiện chiến, tính tình hung bạo, lấy việc cướp bóc và chém giết làm nguồn sống, vó ngựa đi tới đâu là cỏ cây cháy rụi, máu chảy thành sông tới đó. Thế nhưng, Chúc Hợp khẳng định chắc nịch rằng sức mạnh của bọn chúng chỉ là thứ hung tàn bộc phát nhất thời chứ không có nền tảng nhân nghĩa vững bền. Người Hồ cai trị bằng sự tàn bạo, chia rẽ các tầng lớp dân chúng, coi người Hán như cỏ rác nô lệ; bên cạnh đó, nội bộ các bộ lạc của bọn chúng cũng đầy rẫy những mâu thuẫn tranh giành quyền lực đẫm máu. Một kẻ xâm lăng chỉ biết dựa vào đao kiếm mà không biết an dân, không hiểu được đạo lý nhân hòa, thì dẫu có chiếm được ngàn dặm giang sơn cũng sẽ sớm bị chôn vùi trong ngọn lửa căm hờn của hàng triệu bách tính bị áp bức.
Lắng nghe Chúc Hợp phân tích rành rọt, chỉ rõ điểm yếu chí mạng của cả hai thế lực lớn nhất thiên hạ lúc bấy giờ, Tạ Thành không khỏi chấn động tâm can, hai bàn tay vô thức nắm chặt lấy mép bàn đá. Ông liền cất tiếng hỏi dồn dập, rằng nếu triều đình mục nát không thể nương tựa, giặc Hồ tàn bạo không thể quy phục, thì bách tính trăm họ và những người có chút gia sản, khí tiết như Tạ gia phải làm sao để tìm được con đường sống sót giữa cơn phong ba bão táp này.
Đến lúc này, Chúc Hợp mới mỉm cười, thong thả đặt quân cờ màu trắng tinh khiết vào chính giữa bàn cờ thế, ánh mắt bừng lên một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Hắn nhìn thẳng vào mắt Tạ Thành, khẳng định rằng con đường cứu rỗi duy nhất cho giang sơn xã tắc lúc này không nằm ở triều đình bù nhìn, cũng chẳng thể trông chờ vào sự rủ lòng thương của quân cướp nước, mà chính là ngọn lửa quật khởi đang âm ỉ cháy bỏng trong lòng các đạo nghĩa quân áo vải nơi dân gian. Tiêu biểu nhất trong số đó chính là cánh quân trung nghĩa của thủ lĩnh Tần Chí Vũ đang ngày đêm chiêu binh mãi mã, tích thảo dồn lương, lấy ngọn cờ đuổi giặc cứu nước và bảo vệ bách tính làm tôn chỉ tối thượng.
Chúc Hợp nhấn mạnh rằng Tần Chí Vũ là bậc hào kiệt kiệt xuất, xuất thân từ chốn bần hàn nên thấu hiểu sâu sắc nỗi thống khổ của nhân dân, tính tình hào sảng trọng dụng nhân tài, quân kỷ nghiêm minh không mảy may tơ hào một tấc vải một hạt thóc của bá tánh. Ngọn cờ khởi nghĩa của Tần Chí Vũ hợp với đạo trời, thuận với lòng người, ắt sẽ thu hút được anh hùng hào kiệt khắp bốn phương tụ hội về dưới trướng. Trong tương lai không xa, chính đạo nghĩa quân này sẽ quật khởi như một cơn lốc dữ, quét sạch ách thống trị của ngoại bang và lật đổ sự nhu nhược của triều đình mục ruỗng, lập nên một tân triều thái bình thịnh trị cho muôn dân.
Nghe đến đây, Tạ Thành thở dài một hơi đầy vẻ cay đắng, cất lời tâm sự về tình cảnh ngặt nghèo của chính bản thân mình và Tạ phủ tại Bình Thành. Ông nghẹn ngào kể rằng bổn gia họ Tạ ở phương Bắc do gia chủ Tạ Nhượng đứng đầu vì muốn giữ vững tước vị và vinh hoa phú quý nên đã cam tâm cúi đầu làm chó săn cho giặc Hồ. Gần đây, Tạ Nhượng vì muốn lấy lòng một tên tướng giặc quyền thế của ngoại bang, đã đang tâm toan tính bắt ép con gái ruột của ông là Tạ Phác phải làm vật hi sinh gả đi hòa thân để đổi lấy sự sủng ái của chủ ngoại tộc. Tạ Thành vỗ mạnh tay xuống bàn đá, nghiến răng căm phẫn thốt lên rằng ông thà chịu cảnh cửa nát nhà tan, thà mang tiếng bất hiếu với gia tộc chứ quyết không bao giờ đem giọt máu của mình dâng vào miệng cọp để cầu lấy sự an nhàn nhục nhã.
Nhìn thấy nỗi đau xé lòng và khí tiết ngút ngàn của người cha thương con hết mực, Chúc Hợp cảm thấy xúc động vô cùng, tình cảm kính trọng dành cho Tạ Thành càng thêm sâu sắc. Hắn nghiêng người tới trước, cất giọng đanh thép hiến kế cho Tạ viên ngoại. Chúc Hợp khuyên rằng đối với dã tâm bỉ ổi của bổn gia Tạ Nhượng, Tạ Thành tuyệt đối không được nhượng bộ dù chỉ nửa bước, bởi vì loài sói lang một khi đã thấy con mồi nhát gan thì sẽ càng lấn tới cắn xé không buông. Muốn bảo vệ gia quyến và danh dự gia tộc, Tạ gia trước hết phải bí mật củng cố phòng thủ nội bộ, dùng tài lực sẵn có để chiêu mộ thêm tráng sĩ trung thành, đồng thời chuẩn bị sẵn đường lui và nguồn lương thảo dự phòng.
Quan trọng hơn cả, Chúc Hợp khuyên Tạ Thành hãy sớm ngấm ngầm móc nối quan hệ, dùng tài lực và uy tín của mình để hỗ trợ cho cánh quân của Tần Chí Vũ đang hoạt động ở vùng lân cận. Một khi Tạ gia gắn kết vận mệnh của mình với ngọn cờ nghĩa quân chính nghĩa, thì dẫu bổn gia có mang uy thế tông tộc hay mượn oai hùm của quan binh triều đình tới đây cũng không dám tùy tiện làm càn. Còn về phần mối nguy ép gả của tiểu thư Tạ Phác, Chúc Hợp khẳng định chắc nịch rằng cách tốt nhất để chặt đứt hoàn toàn dã tâm của Tạ Nhượng chính là sớm tìm cho nàng một tấm chồng xứng đáng, danh chính ngôn thuận bái đường thành thân để tạo thành chuyện đã rồi, khiến cho mưu đồ cống nạp của bổn gia hoàn toàn tan thành mây khói.
Từng lời từng chữ của Chúc Hợp thốt ra như những nhát búa giáng mạnh vào tâm trí Tạ Thành, xua tan đi tất cả những đám mây mù u tối đang bao phủ lấy tâm can ông bấy lâu nay. Vị viên ngoại già nhìn chàng thanh niên khôi ngô ngồi dưới ánh trăng vằng vặc mà trong lòng dấy lên sự kinh ngạc lẫn nể phục khôn cùng. Ông không thể ngờ rằng một chàng trai trẻ tuổi, xuất thân hàn vi lại có thể sở hữu một tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sự am hiểu thời cuộc tường tận và những mưu kế sắc bén, thực tế đến mức phi thường như vậy. Những định kiến ban đầu về một kẻ ngông cuồng, chỉ biết lý luận suông hoàn toàn bị xóa sạch, nhường chỗ cho niềm tin tưởng tuyệt đối vào nhân cách và tài năng của Chúc Hợp.
Tạ Thành nâng chén rượu lên, đôi bàn tay khẽ run rẩy vì xúc động, ánh mắt chan chứa niềm tin cậy nhìn thẳng vào Chúc Hợp. Ông cất giọng chân thành bảo rằng đêm nay được đối ẩm cùng Chúc Hợp dưới bóng trăng thanh, được nghe những lời vàng ngọc khai sáng tâm can này, quả thực là phúc phận lớn lao của Tạ gia giữa thời buổi loạn lạc. Tạ viên ngoại tự mình cạn hết chén rượu nồng, nhìn chàng thư sinh đĩnh đạc trước mặt mà trong đầu bỗng lóe lên một suy nghĩ vô cùng táo bạo. Nếu như phải tìm một người phu quân để gả gửi con gái rượu Tạ Phác nhằm phá tan cớ bức hôn của bổn gia, thì giữa chốn trần ai này, liệu còn có ai xứng đáng và đáng tin cậy hơn người thanh niên đầy nghĩa khí, tài trí vẹn toàn như Chúc Hợp hay không.
Đang lúc hai người nâng chén rượu nồng ấm, tâm đầu ý hợp nhìn nhau mỉm cười dưới ánh trăng rằm thanh lương, thì bỗng nhiên từ phía cây cầu gỗ ngoài hồ sen vang lên tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp phá tan bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya. Một tên gia đinh thân cận hớt hải chạy vào bên trong Lương Đình, hơi thở hổn hển, trên tay cầm một phong thư khẩn có đóng dấu niêm phong màu đỏ thẫm của bổn gia họ Tạ, quỳ sụp xuống đất bẩm báo với giọng run rẩy. Gia đinh run giọng tâu rằng thám tử vừa cấp báo tin dữ, trưởng bối bối phận tam thúc là Tạ Khánh đang dẫn theo đoàn gia nhân hung hậu, mang theo gia pháp của tông tộc rời khỏi kinh thành phương Bắc, gấp rút ngày đêm tiến thẳng về Bình Thành nhằm ép Tạ viên ngoại phải giao nộp đại tiểu thư Tạ Phác.
Tin dữ ập đến bất ngờ khiến nụ cười trên môi Tạ Thành lập tức đông cứng lại, vò rượu trên bàn đá khẽ rung lên theo nhịp thở dồn dập của vị gia chủ. Bão táp sinh tử của gia tộc đã thực sự kéo tới trước hiên nhà, nhanh hơn rất nhiều so với những gì ông dự liệu. Tạ Thành siết chặt chiếc chén sứ trong lòng bàn tay đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, ánh mắt lóe lên ngọn lửa quyết tâm tử thủ bảo vệ giọt máu của mình. Bên cạnh ông, Chúc Hợp vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh lạ thường, nhưng ánh mắt hắn hướng về phía dãy hành lang hậu viện nơi có ánh đèn leo lét hắt ra từ phòng của Tạ Phác, bàn tay âm thầm siết chặt vạt áo vải thô. Chúc Hợp tự nhủ trong đáy lòng rằng kiếp này hắn đã trở lại, dẫu trời long đất lở hay muôn vàn giáo gươm vây bọc, hắn cũng quyết liều mạng bảo vệ Tạ Phác chu toàn, tuyệt đối không để bất kỳ kẻ nào vấy bẩn lên danh tiết và cuộc đời của nàng thêm một lần nào nữa.
Sau đêm mưa gió bão bùng và những màn rượt đuổi đến nghẹt thở nơi bãi rác hoang tàn ngoài cửa thành, không khí trong phủ viên ngoại họ Tạ tại Bình Thành dần lấy lại vẻ yên bình vốn có. Tạ Thành trước nay vốn nổi danh khắp vùng là bậc hào sảng trượng nghĩa, một tay gầy dựng nên cơ nghiệp trù phú ở chốn biên ải gió cát này bằng sự khảng khái và chữ tín đặt lên hàng đầu. Sau khi tận mắt chứng kiến cảnh tượng đám gia nô hung hãn của bổn gia họ Tạ từ phương Bắc kéo tới truy sát những người ăn mày nghèo khổ, trong lòng ông dâng lên một mối căm phẫn khôn cùng. Ông thừa hiểu tính nết hẹp hòi, tàn nhẫn của đám người ở bổn gia, nếu để Mã Đại cùng đám huynh đệ khất cái tiếp tục lê la nơi đầu đường góc chợ, bọn chúng sớm muộn gì cũng sẽ quay lại trả thù, thậm chí đánh chết người không chớp mắt để hả giận. Vì mối duyên nợ đã cùng nhau trải qua phen hoạn nạn sinh tử, và cũng vì cảm kích nghĩa khí dám xả thân vì người khác của đám người khất thực, Tạ Thành đã đưa ra một quyết định dứt khoát khiến cả phủ đệ trên dưới đều bất ngờ.
Sáng sớm hôm ấy, dưới bóng mát của rặng liễu rủ thướt tha bên bờ hồ nước trong hoa viên, Tạ Thành cho gọi Mã Đại cùng toàn thể mấy mươi huynh đệ khất cái đang nương náu ở dãy sương phòng phía Tây lại gần. Nhìn đám người áo quần rách rưới vá chằng vá đụp nhưng ánh mắt ai nấy đều lộ rõ vẻ cương trực, không chút tà tâm, Tạ viên ngoại khẽ vuốt chòm râu hoa râm, cất giọng sang sảng tuyên bố trước mặt mọi người. Ông quyết định thu nhận toàn bộ huynh đệ của Mã Đại vào Tạ phủ làm gia đinh chính thức, mỗi tháng đều được phát bạc bổng lộc đầy đủ, lo cơm ăn áo mặc chu toàn ngày ba bữa ấm no, đặc biệt là tuyệt đối không bắt ép bất kỳ ai phải đặt bút ký vào văn tự bán thân. Lời nói vừa thốt ra chẳng khác nào sấm sét giữa trời quang, mang lại cho đám người bần hàn một lối thoát tưởng chừng chỉ có trong những giấc mơ hoang đường nhất đời mình.
Đứng trước mặt gia chủ, Mã Đại với cánh tay phải bị đánh gãy đang phải dùng nẹp tre cố định thật chặt trước ngực, đôi mắt hoe đỏ vì xúc động khôn xiết. Gã khất cái bao năm lăn lộn đầu đường xó chợ, nếm trải đủ mọi cay đắng tủi nhục của nhân gian, từng bị người đời xua đuổi như loài chó dại, chưa từng dám nghĩ rằng sẽ có một ngày huynh đệ của mình được đối đãi như những con người đàng hoàng, có chốn dung thân vững chãi mà không phải mang thân phận nô bộc hèn hạ suốt đời. Mã Đại quỳ rạp người xuống nền gạch, nghẹn ngào thốt lên rằng ơn sâu nghĩa nặng này của Tạ gia, dẫu cả đời đám ăn mày bọn họ có tan xương nát thịt cũng quyết không dám quên nửa phần. Đám huynh đệ phía sau cũng đồng loạt quỳ rạp xuống, những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt phong trần lem luốc bụi đường, một mực cúi đầu tạ ơn vị ân nhân đã cứu vớt cuộc đời tăm tối của bọn họ thoát khỏi cảnh màn trời chiếu đất.
Thu xếp xong xuôi nơi ăn chốn ở cho đám người của Mã Đại, Tạ Thành quay sang nhìn Chúc Hợp đang đứng lặng lẽ phía sau với một ánh mắt trầm ngâm đầy toan tính. So với thân hình vạm vỡ, giỏi quyền cước của Mã Đại và sự tháo vát của đám khất cái quen chịu sương gió dãi dầu, Chúc Hợp lại mang dáng dấp của một thư sinh yếu ớt, tay trói gà không chặt, trên người lúc này vẫn còn ê ẩm những vết bầm tím do xe ngựa va chạm đêm trước. Tạ Thành thầm nghĩ trong bụng, chàng trai trẻ này bảo làm việc nặng nhọc thì không kham nổi, giao cho chân quản sự hay trông coi kho lúa thì lại chưa rõ gốc tích nguồn cơn ra sao, nếu để làm tiên sinh tính toán sổ sách thu chi thì e rằng lại uổng phí tài năng văn chương xuất chúng. Nhớ lại vẻ mặt sáng sủa cùng những lời lẽ đao to búa lớn mà Chúc Hợp đã bộc bạch trong cơn mê sảng và lúc mới tỉnh lại đêm qua, Tạ viên ngoại chợt nảy ra một ý định vô cùng táo bạo trong đầu.
Tạ Thành chỉ có một mụn con trai duy nhất để nối dõi tông đường, đó là tiểu thiếu gia Tạ Kì năm nay vừa tròn mười tuổi. Đứa trẻ này trời sinh tính tình thông minh, lanh lợi khác thường, trí nhớ siêu quần nhưng lại nghịch ngợm ngút trời và vô cùng chán ghét việc học hành chữ nghĩa theo lối tầm chương trích cú. Trong phủ vốn đã có Triệu tiên sinh, một vị hủ nho già nua bảo thủ được rước về để dạy dỗ kinh thư vào các buổi sáng, nhưng cách dạy rập khuôn, lúc nào cũng lăm lăm cây thước gỗ gõ vào lòng bàn tay học trò khiến Tạ Kì càng thêm sợ hãi và tìm đủ mọi cách để trốn học đi bắt dế, bắn chim. Nghĩ đến chuyện ấy, Tạ Thành liền bước lại gần Chúc Hợp, cất giọng trầm ấm thăm dò xem hắn có bằng lòng nhận lấy công việc phụ trách dạy dỗ Tạ Kì vào các buổi chiều, giúp đứa trẻ khai tâm mở trí hay không.
Nghe thấy lời đề nghị bất ngờ của Tạ viên ngoại, Chúc Hợp trong lòng mừng thầm như mở cờ, suýt chút nữa đã không kìm nén được nụ cười rạng rỡ trên môi. Hắn đâu có ngờ cơ hội tiếp cận sâu hơn vào nội bộ Tạ gia lại đến nhanh chóng và thuận lợi đến như vậy. Quan trọng hơn cả, thư phòng dạy học của Tạ Kì nằm ngay sát vách khuôn viên hậu viện, nơi mà đại tiểu thư Tạ Phác ngày ngày thêu thùa, ngắm hoa thưởng trà dưới giàn hoa mộc miên. Từ sau lần nhận được miếng bánh hoa quế thơm ngọt của nàng bên vệ đường hôm nọ, hình bóng đoan trang, dịu dàng của người vợ kết tóc kiếp trước chưa từng một giây một phút nào phai nhạt trong tâm trí hắn. Chúc Hợp lập tức chắp tay, cúi đầu thi lễ một cách cung kính, cất lời cam kết với Tạ Thành rằng bản thân sẽ đem hết sở học bình sinh ra để chỉ bảo cho thiếu gia, quyết không phụ sự kỳ vọng và lòng tin cậy của ân công.
Sáng hôm sau, khi những tia nắng ấm áp đầu tiên của ngày hè rọi qua kẽ lá liễu, Chúc Hợp đã dậy từ sớm tinh mơ, chỉnh đốn lại y phục bằng vải thô sạch sẽ do Tạ phủ cấp phát, lòng tràn đầy háo hức chờ đợi buổi dạy đầu tiên. Hắn bước đi trên con đường lát đá xanh dẫn về phía thư phòng nhỏ ở mé Bắc hoa viên, trong lòng thầm nhớ lại những lỗi lầm ngông cuồng, phóng túng của tiền kiếp khi chưa biết trân trọng tấm lòng thơm thảo của Tạ Phác. Kiếp này được ông trời ban cho cơ hội sống lại lần thứ hai, hắn đã tự thề với trời đất rằng dẫu có phải trải qua muôn ngàn đắng cay, hiểm nguy rình rập, hắn cũng phải trở thành một bờ vai vững chãi nhất để chở che cho nàng, giữ gìn cho nàng một cuộc đời an yên, hạnh phúc giữa thời loạn lạc. Bước chân của Chúc Hợp vì thế mà thêm phần vững chãi, ánh mắt kiên định nhìn thẳng về phía cánh cửa thư phòng đang khép hờ dưới bóng râm mát rượi của giàn hoa tử đằng.
Trong khi đó, ở bên trong thư phòng, Tạ Kì lại đang ngồi ủ rũ bên chiếc bàn học bằng gỗ lim, mặt mày nhăn nhó như vừa phải nuốt phải một ngụm thuốc đắng nghét. Cậu nhóc mười tuổi vốn vừa trải qua một buổi sáng mệt mỏi với những bài học thuộc lòng vô vị của Triệu tiên sinh, nay lại nghe phụ thân báo tin sẽ có thêm một tiên sinh mới đến dạy vào buổi chiều, khiến trong lòng bực bội vô cùng. Khi nhìn thấy Chúc Hợp bước vào phòng với dáng vẻ một thư sinh nghèo khó, trên người mặc áo vải gai mộc mạc, ấn tượng ban đầu của Tạ Kì lập tức tụt xuống tận đáy vực. Cậu nhóc cố tình không thèm đứng dậy hành lễ chào hỏi theo phép tắc, chỉ cúi gằm mặt xuống bàn, tay cầm bút lông quệt qua quệt lại trên mặt giấy Tuyên Thành, vờ như đang mải mê luyện chữ để thể hiện sự bất phục của mình đối với vị thầy mới.
Chúc Hợp nhìn thấu tâm tư của đứa trẻ bướng bỉnh, hắn không hề nổi giận hay dùng uy quyền của người làm thầy để răn đe, mà chỉ mỉm cười điềm đạm bước lại gần chiếc ghế gỗ bên cạnh bàn học rồi thong thả ngồi xuống. Đợi cho Tạ Kì viết xong một nét chữ nguệch ngoạc và dừng tay xoa xoa cổ tay mỏi nhừ, Chúc Hợp mới vươn tay cầm lấy quyển Tam Tự Kinh cũ kỹ đang nằm chỏng chơ trên góc bàn, lật giở từng trang một cách cẩn thận và trân trọng. Tạ Kì thấy vậy liền nhướng đôi mày thanh tú lên, bĩu môi nói bằng giọng đầy vẻ thách thức, hỏi rằng tiên sinh năm nay đã lớn ngần này tuổi đầu rồi mà sao vẫn còn thích đọc quyển sách vỡ lòng của con trẻ lên ba như thế.
Chúc Hợp nhẹ nhàng gấp quyển sách lại, đặt ngay ngắn lên mặt bàn rồi nhìn thẳng vào mắt Tạ Kì với ánh mắt ấm áp, ôn tồn cất lời giải thích. Hắn bảo rằng việc học tập trên đời này cũng giống như việc xây dựng một tòa nhà cao tầng, gốc rễ móng bè có vững chắc thì thân cây mới có thể vươn cao đón gió bão ngàn phương mà không bao giờ bị gãy đổ. Sách Tam Tự Kinh tuy là sách dạy chữ cho kẻ mới nhập môn, từng câu từng chữ ngắn gọn chỉ có ba chữ mộc mạc, nhưng ẩn chứa bên trong lại là cả một kho tàng tri thức bao la, gồm trọn đạo lý làm người, bài học xương máu của lịch sử ngàn năm và cả những tấm gương sáng ngời về lòng dũng cảm hy sinh. Nếu người đọc chỉ biết học vẹt từng câu từng chữ để đối phó với khảo hạch, thì dẫu có đọc đến bạc đầu răng rụng cũng chẳng thể nào hiểu hết được cái hay, cái đẹp và sự thâm thúy mà cổ nhân muốn gửi gắm lại cho hậu thế mai sau.
Tạ Kì nghe những lời lẽ khác lạ ấy thì trong lòng bỗng dấy lên sự tò mò mãnh liệt, cậu nhóc tròn xoe đôi mắt đen láy nhìn Chúc Hợp rồi ỉu xìu gãi đầu gãi tai thú nhận nỗi lòng. Cậu bảo rằng Triệu tiên sinh buổi sáng dạy học chỉ bắt cậu phải đọc to từng chữ cho đến khi thuộc làu làu, nếu có chữ nào không hiểu mà đánh bạo hỏi lại thì liền bị tiên sinh gõ thước vào trán, quở mắng là lắm lời vô lễ, bắt phải tự mình suy ngẫm cho ra. Chúc Hợp nghe vậy liền bật cười sảng khoái, vỗ nhẹ vào vai Tạ Kì rồi bảo rằng học hành cốt ở chỗ thông hiểu đạo lý và biết vận dụng linh hoạt vào đời sống thực tế, chứ không phải để biến mình thành một con mọt sách vô dụng chỉ biết nhai lại lời người khác. Nói đoạn, Chúc Hợp bắt đầu chọn ra những điển tích nổi tiếng nhất trong Tam Tự Kinh, nhưng thay vì giảng giải bằng thứ văn từ sáo rỗng khó hiểu, hắn lại dùng giọng điệu trầm bổng, lôi cuốn như một người kể chuyện dân gian lão luyện để kể cho Tạ Kì nghe về những trận đánh lẫy lừng, những mưu lược quyền biến và cả những câu chuyện cảm động về tình bằng hữu giữa chốn phong trần.
Càng nghe Chúc Hợp giảng giải, đôi mắt của Tạ Kì càng sáng rực lên niềm thích thú vô hạn, sự đề phòng và chán ghét ban đầu hoàn toàn tan biến như làn sương mỏng dưới ánh mặt trời. Cậu nhóc ngồi thẳng lưng dậy, hai tay chống cằm, chăm chú lắng nghe từng câu từng chữ không rời nửa bước, thỉnh thoảng lại vỗ tay reo lên tán thưởng khi nghe đến những đoạn mưu lược tài tình của tiền nhân. Khi gặp phải những chỗ chưa hiểu rõ, Tạ Kì không ngần ngại cất tiếng hỏi dồn dập, và Chúc Hợp luôn kiên nhẫn phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, khuyến khích cậu tự mình đưa ra nhận định riêng chứ không hề gò ép tư tưởng của cậu vào bất kỳ khuôn mẫu cứng nhắc nào. Chỉ trong vòng chưa đầy hai canh giờ của buổi chiều hôm ấy, một thế giới tri thức sống động, đầy màu sắc đã mở ra trước mắt cậu bé mười tuổi, khiến cậu lần đầu tiên cảm nhận được niềm vui sướng và sự say mê thực sự của việc học hành.
Ở bên ngoài hành lang rợp bóng mát của rặng ngô đồng, Tạ Thành vốn vì chưa thực sự an tâm về chàng thư sinh xa lạ nên đã lén lút đi tới, nép mình sau cánh cửa sổ khép hờ để theo dõi tình hình bên trong phòng học. Ban đầu, Tạ viên ngoại chỉ sợ Chúc Hợp tính tình nông nổi, lại buông ra những lời lẽ ngông cuồng làm hư mất đứa con trai độc nhất mà ông hết mực thương yêu. Thế nhưng, khi tận tai lắng nghe cách Chúc Hợp dẫn dắt câu chuyện một cách khéo léo, biến những giáo lý khô khan thành những bài học nhân sinh sâu sắc và đầy sức thuyết phục, Tạ Thành không khỏi giật mình kinh ngạc. Nhìn thấy đứa con trai vốn tính bướng bỉnh khó thuần của mình lúc này đang say sưa thảo luận với Chúc Hợp như hai người bạn vong niên, trong lòng vị viên ngoại dâng lên một niềm cảm thán khôn nguôi, thầm công nhận rằng gã thanh niên này quả thực là một kỳ tài hiếm gặp, kiến thức và tầm nhìn đều vượt xa hạng nho sĩ tầm thường nơi chốn thị thành.
Những ngày tiếp theo trôi qua trong sự êm đềm nhưng lại ngấm ngầm tạo nên những làn sóng ngầm xao động dữ dội bên trong Tạ phủ. Trong khi Tạ Kì ngày càng gắn bó và yêu quý Chúc Hợp như một người anh lớn đáng kính, thì ở chiều ngược lại, Triệu tiên sinh dạy buổi sáng lại bắt đầu rơi vào cảnh bực bội, khó chịu khôn cùng. Lão nho sĩ già vốn quen thói được học trò kính cẩn vâng dạ từng lời, nay bỗng phát hiện ra Tạ Kì không còn ngoan ngoãn ngồi nghe lão thao thao bất tuyệt như trước nữa. Mỗi khi lão đưa ra một quan điểm cổ hủ rập khuôn, Tạ Kì liền thẳng thắn cất lời phản bác bằng những lý lẽ sắc bén, thực tế mà cậu đã học được từ Chúc Hợp vào buổi chiều, khiến Triệu tiên sinh nhiều phen nghẹn họng, đỏ bừng cả mặt vì không thể tìm ra lời lẽ nào để cãi lại đứa trẻ mười tuổi.
Đỉnh điểm của sự bực tức xảy ra vào một buổi sáng mùa hè oi ả, khi Triệu tiên sinh bày bàn cờ vây bằng gỗ thị ra để khảo thí kỳ nghệ của Tạ Kì như thường lệ nhằm gỡ gạc lại uy phong của bậc thầy. Mọi khi, Tạ Kì chỉ biết đi theo những nước cờ cơ bản theo sách vở, dễ dàng bị lão dồn vào thế bí chỉ sau vài mươi nước đi; thế nhưng hôm nay, cậu nhóc lại áp dụng lối đánh linh hoạt, biến hóa khôn lường mà Chúc Hợp đã chỉ điểm, liên tục giăng ra những cạm bẫy bất ngờ khiến đại quân của lão bị cắt đứt và nuốt chửng từng mảng lớn. Thua cờ thảm hại trước mặt một đứa trẻ con, Triệu tiên sinh tức giận đến mức run rẩy cả chòm râu bạc, lập tức quẳng mạnh quân cờ xuống bàn rồi đùng đùng xách vạt áo đi thẳng lên tiền sảnh để tìm Tạ Thành cáo trạng. Lão đem hết những biến chuyển gần đây của Tạ Kì ra thêu dệt, bảo rằng Chúc Hợp là kẻ mang tà thuyết dị đoan, dạy cho thiếu gia những thói ngỗ nghịch, dám cãi lời trưởng bối, nếu không sớm đuổi đi thì e rằng gia phong nền nếp của họ Tạ sẽ có ngày sụp đổ.
Ngồi ở phòng khách uống trà, Tạ Thành lắng nghe từng lời than vãn đầy vẻ ấm ức của Triệu tiên sinh với vẻ mặt điềm đạm, không chút gợn sóng. Bản thân ông ngày ngày đều để mắt quan sát sự tiến bộ vượt bậc của con trai, thấy Tạ Kì không chỉ hiểu biết rộng hơn mà tính tình cũng trở nên đĩnh đạc, tự tin và có trách nhiệm hơn hẳn, làm sao ông có thể tin vào những lời vu cáo xuất phát từ lòng đố kỵ hẹp hòi của lão hủ nho được. Tuy nhiên, vì nể tình Triệu tiên sinh đã gắn bó với Tạ phủ nhiều năm trời, Tạ viên ngoại không tiện nói thẳng ra để giữ thể diện cho lão, chỉ mỉm cười xoa dịu đôi câu rồi khéo léo chuyển sang chuyện mùa màng, ngầm ý bảo quản gia tiễn lão về phòng nghỉ ngơi. Triệu tiên sinh hậm hực rời đi, nhưng trong lòng vẫn ôm mối căm ghét sâu sắc đối với Chúc Hợp, hạ quyết tâm hễ có cơ hội là sẽ tìm cách bài xích và tống khứ đối phương ra khỏi phủ cho bằng được.
Về phần Tạ Kì, cậu nhóc chẳng mảy may bận tâm đến thái độ hậm hực của Triệu tiên sinh, trái lại càng thêm phần tôn sùng và quấn quýt bên Chúc Hợp. Một buổi chiều nọ, sau khi hoàn thành bài luận chữ sớm hơn dự định, Chúc Hợp mỉm cười xoa đầu Tạ Kì, bảo rằng trẻ con đang tuổi ăn tuổi lớn không nên suốt ngày chỉ biết giam mình trong bốn bức tường chật hẹp, cần phải ra ngoài hít thở khí trời và vận động cho gân cốt dẻo dai thì tinh thần mới minh mẫn. Nghe thấy lời dặn dò đầy tâm lý của tiên sinh, Tạ Kì mừng rỡ nhảy cẫng lên, lập tức xin phép chạy một mạch sang viện hoa của đại tỷ Tạ Phác để khoe khoang những chuyện kỳ thú mà mình vừa được học.
Lúc bấy giờ, ánh nắng chiều tà vàng óng như mật đang trải dài trên những luống hoa dạ lý hương và mẫu đơn trong sân viện râm mát của Tạ Phác. Nàng mặc một bộ váy lụa màu xanh nhạt thanh nhã, mái tóc mây đen nhánh được cài bằng một chiếc trâm ngọc bích giản dị, dáng vẻ đoan trang, uyển chuyển đang cầm chiếc bình gốm nhỏ tưới nước cho những đóa hoa đang khẽ rũ xuống sau một ngày hè nắng gắt. Nhìn thấy đệ đệ từ xa hớt hải chạy tới với gương mặt rạng rỡ nụ cười, Tạ Phác khẽ mỉm cười dịu dàng, đưa bình tưới cho nha hoàn thân cận rồi bước lại chiếc bàn đá tròn dưới bóng mát của cây mộc lan cổ thụ, ân cần kéo Tạ Kì ngồi xuống bên cạnh mình.
Tạ Kì vừa ngồi xuống đã vội vàng bốc lấy một miếng bánh đậu xanh trên đĩa cho vào miệng nhai ngấu nghiến, vừa nhai vừa hào hứng kể cho đại tỷ nghe về việc Chúc tiên sinh đã rộng lượng cho cậu tan học sớm thế nào. Đứng ở một bên hầu hạ, nha hoàn Yến Hà nghe vậy liền khẽ bĩu môi, lên tiếng trách móc rằng vị Chúc tiên sinh kia thật là tắc trách, người ta được nhận bổng lộc của phủ để dạy học thì phải tận tâm tận lực kèm cặp thiếu gia đến nơi đến chốn, đằng này lại tùy tiện cho tan sớm để lười biếng trốn việc đi dạo. Lời nói của Yến Hà vừa dứt, Tạ Phác liền đưa mắt nhìn sang với vẻ nghiêm nghị nhắc nhở, khiến nàng nha hoàn biết mình lỡ lời vội cúi đầu im bặt, không dám nhiều lời thêm nữa.
Tạ Kì buông miếng bánh xuống, lập tức cất giọng phản bác đầy vẻ bất bình để bảo vệ người thầy mà mình hết lòng sùng kính. Cậu nhóc giải thích rành rọt rằng Chúc tiên sinh dạy học vô cùng sâu sắc, chỉ cần giảng giải một canh giờ là đã bằng người khác dạy cả ngày, hơn nữa tiên sinh còn dạy cho cậu biết yêu thương gia đình, hiểu được nỗi vất vả nhọc nhằn của phụ thân và sự hy sinh thầm lặng của đại tỷ. Tạ Kì còn hào hứng kể lại những nước cờ biến hóa kỳ diệu mà Chúc Hợp đã chỉ bảo, giúp cậu đánh bại cả Triệu tiên sinh vào buổi sáng. Nghe đệ đệ thao thao bất tuyệt kể về Chúc Hợp với ánh mắt lấp lánh sự ngưỡng mộ tột cùng, Tạ Phác không khỏi ngạc nhiên. Xưa nay Tạ Kì vốn là đứa trẻ bướng bỉnh khó bảo, chưa từng chịu khuất phục trước bất kỳ vị gia sư danh tiếng nào trong thành, vậy mà nay lại một lòng một dạ tôn kính một chàng thư sinh nghèo khó vừa mới bước chân vào phủ.
Tạ Phác khẽ mỉm cười, đưa bàn tay thon thả nhéo nhẹ vào đầu mũi của đệ đệ, trêu đùa rằng không biết Chúc tiên sinh kia là thần thánh phương nào mà lại có tài mua chuộc được tiểu bá vương của Tạ gia nhanh đến thế. Nàng khẽ thở dài đầy vẻ tiếc nuối, bảo rằng đáng tiếc Chúc tiên sinh là nam nhân ngoại tộc, quy củ khuê các nghiêm ngặt khiến nàng không tiện trực tiếp diện kiến, nếu không nàng nhất định phải tận mắt nhìn xem vị tiên sinh này có ba đầu sáu tay ra sao mà lại khiến cả phụ thân lẫn đệ đệ đều hết lời khen ngợi như vậy. Nhìn bóng lưng đệ đệ tung tăng chạy đi chơi sau khi ăn xong đĩa điểm tâm, Tạ Phác ngồi lại một mình bên bàn đá, ánh mắt xa xăm nhìn về phía những cánh hoa rơi rụng, trong lòng chợt dấy lên một nỗi bồi hồi khó tả khi nhớ lại chàng thanh niên khất thực có ánh mắt kiên định khác thường mà nàng đã từng bố thí bánh hoa quế hôm nào bên vệ đường bụi bặm.
Khi màn đêm dần buông xuống phủ trùm lên khắp các mái ngói rêu phong của Bình Thành, vầng trăng rằm tròn vành vạnh như một chiếc đĩa bạc khổng lồ từ từ nhô lên khỏi rặng tre phía Đông, tỏa ánh sáng vằng vặc, trong trẻo như nước rưới khắp không gian Tạ phủ. Tại Lương Đình nằm lẻ loi giữa hồ sen nở muộn ở hậu viện, gió đêm thổi qua cành liễu mang theo hương sen thoang thoảng làm dịu đi cái ngột ngạt của ngày hè oi ả. Tạ Thành lúc này đang ngồi một mình bên chiếc bàn đá tròn, trên bàn bày một vò rượu hoa cúc thơm nồng được ủ lâu năm cùng hai chiếc chén sứ trắng tinh xảo và vài đĩa đồ nhắm thanh đạm. Đêm nay, sau nhiều ngày âm thầm quan sát và trăn trở về thời cuộc hỗn loạn, Tạ viên ngoại đã hạ lệnh cho gia đinh đích thân mời Chúc Hợp đến đây để cùng ông đối ẩm đàm đạo dưới bóng trăng thanh.
Nhận được lời mời của chủ nhân, Chúc Hợp thong thả rảo bước qua cây cầu gỗ uốn cong dẫn ra giữa hồ sen, tâm thế vô cùng bình thản và đĩnh đạc. Hắn biết rất rõ cuộc gặp gỡ đêm nay mang ý nghĩa sống còn đối với tiền đồ của bản thân cũng như mối quan hệ giữa hắn và gia đình họ Tạ. Đêm hôm trước, khi vừa mới tỉnh lại sau tai nạn va chạm xe ngựa, vì quá nóng vội muốn thể hiện bản thân và nhắc nhở Tạ Thành về hiểm họa giặc giã, hắn đã buông ra những lời lẽ có phần đao to búa lớn khiến Tạ viên ngoại nghi ngờ tâm cơ và thẳng thừng đánh giá hắn chỉ là kẻ thích lý luận suông. Đêm nay, dưới ánh trăng vằng vặc soi tỏ lòng người, Chúc Hợp tự nhủ sẽ dùng tất cả sự trải nghiệm của hai kiếp người cùng tấm lòng chân thành nhất để hóa giải mọi khúc mắc, giúp Tạ Thành nhìn rõ con đường sáng giữa thời buổi nhiễu nhương.
Bước vào Lương Đình, Chúc Hợp dừng bước, vòng hai tay trước ngực thi lễ một cách chuẩn mực theo đúng phong thái của một kẻ sĩ nho nhã, cất lời chào Tạ viên ngoại bằng giọng nói trầm ấm, rõ ràng. Tạ Thành ngước mắt nhìn lên, khẽ mỉm cười xua tay bảo hắn hãy miễn lễ rồi chỉ vào chiếc ghế đá đối diện, thân mật mời hắn ngồi xuống cùng uống chén rượu giải khuây. Chúc Hợp khẽ tạ ơn rồi thong thả ngồi xuống, tư thế thẳng thắn, ánh mắt sáng ngời nhìn thẳng vào vị gia chủ đang có nhiều tâm sự u uất đè nặng trên vầng trán nhăn nheo.
Tạ Thành tự tay nhấc vò rượu lên, nghiêng dòng chất lỏng màu hổ phách sóng sánh rót đầy vào hai chiếc chén sứ, tiếng rượu chảy róc rách hòa cùng tiếng ếch nhái râm ran ngoài đầm sen tạo nên một khúc nhạc đêm thanh vắng. Đặt vò rượu xuống bàn, Tạ viên ngoại nâng chén rượu của mình lên, hướng về phía Chúc Hợp rồi cất giọng trầm trầm bộc bạch nỗi lòng. Ông bảo rằng mấy ngày qua nhìn thấy Tạ Kì ham học và tiến bộ từng ngày, trong lòng ông vô cùng cảm kích trước tấm lòng và tài năng của Chúc Hợp, chén rượu đầu tiên này coi như là lời cảm tạ chân thành của một người làm cha gửi tới vị tiên sinh đã dày công chỉ bảo đứa con thơ dại của mình.
Chúc Hợp vội vàng hai tay nâng chén rượu lên đáp lễ, nhấp một ngụm nhỏ rồi mỉm cười khiêm tốn đáp lời. Hắn bảo rằng tiểu thiếu gia trời sinh thông tuệ, cốt cách phi phàm, bản thân hắn chỉ làm tròn bổn phận khơi gợi niềm đam mê và dẫn dắt bản tính lương thiện vốn có của đứa trẻ mà thôi, công lao dạy dỗ lớn nhất vẫn thuộc về sự dạy bảo nghiêm cẩn và phúc đức sâu dày của Tạ gia. Nghe Chúc Hợp đối đáp nhã nhặn, khiêm nhường chứ không hề có chút kiêu ngạo nào như những kẻ có chút tài mọn thường thấy, Tạ Thành khẽ gật đầu hài lòng, trong lòng càng thêm phần nể trọng tính cách chín chắn của chàng thanh niên trước mặt.
Đặt chén rượu không xuống mặt bàn đá, Tạ Thành khẽ thở dài một hơi thật sâu, ánh mắt chuyển từ vẻ ôn hòa sang nét trầm tư, xa xăm nhìn theo những gợn sóng lăn tăn phản chiếu bóng trăng dưới mặt hồ. Vị viên ngoại im lặng một hồi lâu như đang cân nhắc từng lời, rồi bất ngờ quay sang nhìn Chúc Hợp, cất giọng trầm đục hỏi thẳng vào vấn đề cốt lõi mà ông đã trăn trở bấy lâu nay. Tạ Thành nhắc lại chuyện Chúc Hợp từng bàn về thế cuộc giang sơn vào cái đêm hắn nằm mê man trên giường bệnh, rồi hỏi rằng giữa thời buổi triều đình Nam Tống ngày một suy vi, giặc Hồ phương Bắc lăm le vó ngựa xâm lăng, còn đám cường hào thế gia thì tranh nhau bán rẻ lương tâm để cầu vinh hoa phú quý, một kẻ áo vải như Chúc Hợp thực sự nhìn thấy tương lai của mảnh đất này sẽ trôi dạt về phương nào.
Hiểu được Tạ Thành đang mở lòng muốn cùng mình luận bàn chuyện đại cuộc chứ không còn coi mình là kẻ nói khoác lác, Chúc Hợp hít một hơi thật sâu, ánh mắt trở nên sắc sảo lạ thường. Hắn thong thả nhặt lấy vài quân cờ vây màu đen và trắng còn sót lại trong chiếc hộp gỗ trên bàn đá, nhẹ nhàng đặt từng quân cờ xuống mặt bàn theo thế chân vạc vững chắc, rồi cất giọng đĩnh đạc, rành rọt phân tích từng ngóc ngách của thế cuộc đương thời cho Tạ viên ngoại nghe.
Chúc Hợp chỉ tay vào quân cờ màu xám đại diện cho triều đình Nam Tống đang đóng đô ở phương Nam xa xôi, giọng nói đượm vẻ xót xa nhưng vô cùng dứt khoát. Hắn phân tích rằng Nam Tống từ ngày dời đô về Giang Nam đã hoàn toàn đánh mất chí khí quật cường của tổ tiên, quân vương say đắm trong tửu sắc nơi lầu son gác tía, gian thần lộng hành bè phái, trung thần bị hãm hại đày ải nơi biên viễn. Quân đội triều đình tuy đông đảo nhưng bạc nhược, quan lại chỉ biết vơ vét của cải của dân lành để dâng nộp cống phẩm cầu hòa, mỗi lần nghe thấy tiếng vó ngựa của giặc Hồ là cả triều đình run rẩy khiếp sợ. Một triều đại đã mục ruỗng từ tận gốc rễ như vậy, lòng dân đã oán thán đến tận cùng, thì dẫu có thành cao hào sâu, có sông dài hiểm trở che chở cũng tuyệt đối không thể nào trụ vững được lâu dài, ngày sụp đổ chỉ là chuyện sớm muộn trong nay mai mà thôi.
Tiếp đó, Chúc Hợp chuyển ngón tay sang chỉ vào quân cờ màu đen thẫm đại diện cho thế lực ngoại tộc người Hồ đang hung hãn bành trướng ở phương Bắc. Hắn thừa nhận rằng quân kỵ rợ Hồ quả thực vô cùng thiện chiến, tính tình hung bạo, lấy việc cướp bóc và chém giết làm nguồn sống, vó ngựa đi tới đâu là cỏ cây cháy rụi, máu chảy thành sông tới đó. Thế nhưng, Chúc Hợp khẳng định chắc nịch rằng sức mạnh của bọn chúng chỉ là thứ hung tàn bộc phát nhất thời chứ không có nền tảng nhân nghĩa vững bền. Người Hồ cai trị bằng sự tàn bạo, chia rẽ các tầng lớp dân chúng, coi người Hán như cỏ rác nô lệ; bên cạnh đó, nội bộ các bộ lạc của bọn chúng cũng đầy rẫy những mâu thuẫn tranh giành quyền lực đẫm máu. Một kẻ xâm lăng chỉ biết dựa vào đao kiếm mà không biết an dân, không hiểu được đạo lý nhân hòa, thì dẫu có chiếm được ngàn dặm giang sơn cũng sẽ sớm bị chôn vùi trong ngọn lửa căm hờn của hàng triệu bách tính bị áp bức.
Lắng nghe Chúc Hợp phân tích rành rọt, chỉ rõ điểm yếu chí mạng của cả hai thế lực lớn nhất thiên hạ lúc bấy giờ, Tạ Thành không khỏi chấn động tâm can, hai bàn tay vô thức nắm chặt lấy mép bàn đá. Ông liền cất tiếng hỏi dồn dập, rằng nếu triều đình mục nát không thể nương tựa, giặc Hồ tàn bạo không thể quy phục, thì bách tính trăm họ và những người có chút gia sản, khí tiết như Tạ gia phải làm sao để tìm được con đường sống sót giữa cơn phong ba bão táp này.
Đến lúc này, Chúc Hợp mới mỉm cười, thong thả đặt quân cờ màu trắng tinh khiết vào chính giữa bàn cờ thế, ánh mắt bừng lên một niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Hắn nhìn thẳng vào mắt Tạ Thành, khẳng định rằng con đường cứu rỗi duy nhất cho giang sơn xã tắc lúc này không nằm ở triều đình bù nhìn, cũng chẳng thể trông chờ vào sự rủ lòng thương của quân cướp nước, mà chính là ngọn lửa quật khởi đang âm ỉ cháy bỏng trong lòng các đạo nghĩa quân áo vải nơi dân gian. Tiêu biểu nhất trong số đó chính là cánh quân trung nghĩa của thủ lĩnh Tần Chí Vũ đang ngày đêm chiêu binh mãi mã, tích thảo dồn lương, lấy ngọn cờ đuổi giặc cứu nước và bảo vệ bách tính làm tôn chỉ tối thượng.
Chúc Hợp nhấn mạnh rằng Tần Chí Vũ là bậc hào kiệt kiệt xuất, xuất thân từ chốn bần hàn nên thấu hiểu sâu sắc nỗi thống khổ của nhân dân, tính tình hào sảng trọng dụng nhân tài, quân kỷ nghiêm minh không mảy may tơ hào một tấc vải một hạt thóc của bá tánh. Ngọn cờ khởi nghĩa của Tần Chí Vũ hợp với đạo trời, thuận với lòng người, ắt sẽ thu hút được anh hùng hào kiệt khắp bốn phương tụ hội về dưới trướng. Trong tương lai không xa, chính đạo nghĩa quân này sẽ quật khởi như một cơn lốc dữ, quét sạch ách thống trị của ngoại bang và lật đổ sự nhu nhược của triều đình mục ruỗng, lập nên một tân triều thái bình thịnh trị cho muôn dân.
Nghe đến đây, Tạ Thành thở dài một hơi đầy vẻ cay đắng, cất lời tâm sự về tình cảnh ngặt nghèo của chính bản thân mình và Tạ phủ tại Bình Thành. Ông nghẹn ngào kể rằng bổn gia họ Tạ ở phương Bắc do gia chủ Tạ Nhượng đứng đầu vì muốn giữ vững tước vị và vinh hoa phú quý nên đã cam tâm cúi đầu làm chó săn cho giặc Hồ. Gần đây, Tạ Nhượng vì muốn lấy lòng một tên tướng giặc quyền thế của ngoại bang, đã đang tâm toan tính bắt ép con gái ruột của ông là Tạ Phác phải làm vật hi sinh gả đi hòa thân để đổi lấy sự sủng ái của chủ ngoại tộc. Tạ Thành vỗ mạnh tay xuống bàn đá, nghiến răng căm phẫn thốt lên rằng ông thà chịu cảnh cửa nát nhà tan, thà mang tiếng bất hiếu với gia tộc chứ quyết không bao giờ đem giọt máu của mình dâng vào miệng cọp để cầu lấy sự an nhàn nhục nhã.
Nhìn thấy nỗi đau xé lòng và khí tiết ngút ngàn của người cha thương con hết mực, Chúc Hợp cảm thấy xúc động vô cùng, tình cảm kính trọng dành cho Tạ Thành càng thêm sâu sắc. Hắn nghiêng người tới trước, cất giọng đanh thép hiến kế cho Tạ viên ngoại. Chúc Hợp khuyên rằng đối với dã tâm bỉ ổi của bổn gia Tạ Nhượng, Tạ Thành tuyệt đối không được nhượng bộ dù chỉ nửa bước, bởi vì loài sói lang một khi đã thấy con mồi nhát gan thì sẽ càng lấn tới cắn xé không buông. Muốn bảo vệ gia quyến và danh dự gia tộc, Tạ gia trước hết phải bí mật củng cố phòng thủ nội bộ, dùng tài lực sẵn có để chiêu mộ thêm tráng sĩ trung thành, đồng thời chuẩn bị sẵn đường lui và nguồn lương thảo dự phòng.
Quan trọng hơn cả, Chúc Hợp khuyên Tạ Thành hãy sớm ngấm ngầm móc nối quan hệ, dùng tài lực và uy tín của mình để hỗ trợ cho cánh quân của Tần Chí Vũ đang hoạt động ở vùng lân cận. Một khi Tạ gia gắn kết vận mệnh của mình với ngọn cờ nghĩa quân chính nghĩa, thì dẫu bổn gia có mang uy thế tông tộc hay mượn oai hùm của quan binh triều đình tới đây cũng không dám tùy tiện làm càn. Còn về phần mối nguy ép gả của tiểu thư Tạ Phác, Chúc Hợp khẳng định chắc nịch rằng cách tốt nhất để chặt đứt hoàn toàn dã tâm của Tạ Nhượng chính là sớm tìm cho nàng một tấm chồng xứng đáng, danh chính ngôn thuận bái đường thành thân để tạo thành chuyện đã rồi, khiến cho mưu đồ cống nạp của bổn gia hoàn toàn tan thành mây khói.
Từng lời từng chữ của Chúc Hợp thốt ra như những nhát búa giáng mạnh vào tâm trí Tạ Thành, xua tan đi tất cả những đám mây mù u tối đang bao phủ lấy tâm can ông bấy lâu nay. Vị viên ngoại già nhìn chàng thanh niên khôi ngô ngồi dưới ánh trăng vằng vặc mà trong lòng dấy lên sự kinh ngạc lẫn nể phục khôn cùng. Ông không thể ngờ rằng một chàng trai trẻ tuổi, xuất thân hàn vi lại có thể sở hữu một tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sự am hiểu thời cuộc tường tận và những mưu kế sắc bén, thực tế đến mức phi thường như vậy. Những định kiến ban đầu về một kẻ ngông cuồng, chỉ biết lý luận suông hoàn toàn bị xóa sạch, nhường chỗ cho niềm tin tưởng tuyệt đối vào nhân cách và tài năng của Chúc Hợp.
Tạ Thành nâng chén rượu lên, đôi bàn tay khẽ run rẩy vì xúc động, ánh mắt chan chứa niềm tin cậy nhìn thẳng vào Chúc Hợp. Ông cất giọng chân thành bảo rằng đêm nay được đối ẩm cùng Chúc Hợp dưới bóng trăng thanh, được nghe những lời vàng ngọc khai sáng tâm can này, quả thực là phúc phận lớn lao của Tạ gia giữa thời buổi loạn lạc. Tạ viên ngoại tự mình cạn hết chén rượu nồng, nhìn chàng thư sinh đĩnh đạc trước mặt mà trong đầu bỗng lóe lên một suy nghĩ vô cùng táo bạo. Nếu như phải tìm một người phu quân để gả gửi con gái rượu Tạ Phác nhằm phá tan cớ bức hôn của bổn gia, thì giữa chốn trần ai này, liệu còn có ai xứng đáng và đáng tin cậy hơn người thanh niên đầy nghĩa khí, tài trí vẹn toàn như Chúc Hợp hay không.
Đang lúc hai người nâng chén rượu nồng ấm, tâm đầu ý hợp nhìn nhau mỉm cười dưới ánh trăng rằm thanh lương, thì bỗng nhiên từ phía cây cầu gỗ ngoài hồ sen vang lên tiếng bước chân dồn dập, gấp gáp phá tan bầu không khí tĩnh mịch của đêm khuya. Một tên gia đinh thân cận hớt hải chạy vào bên trong Lương Đình, hơi thở hổn hển, trên tay cầm một phong thư khẩn có đóng dấu niêm phong màu đỏ thẫm của bổn gia họ Tạ, quỳ sụp xuống đất bẩm báo với giọng run rẩy. Gia đinh run giọng tâu rằng thám tử vừa cấp báo tin dữ, trưởng bối bối phận tam thúc là Tạ Khánh đang dẫn theo đoàn gia nhân hung hậu, mang theo gia pháp của tông tộc rời khỏi kinh thành phương Bắc, gấp rút ngày đêm tiến thẳng về Bình Thành nhằm ép Tạ viên ngoại phải giao nộp đại tiểu thư Tạ Phác.
Tin dữ ập đến bất ngờ khiến nụ cười trên môi Tạ Thành lập tức đông cứng lại, vò rượu trên bàn đá khẽ rung lên theo nhịp thở dồn dập của vị gia chủ. Bão táp sinh tử của gia tộc đã thực sự kéo tới trước hiên nhà, nhanh hơn rất nhiều so với những gì ông dự liệu. Tạ Thành siết chặt chiếc chén sứ trong lòng bàn tay đến mức các khớp ngón tay trắng bệch ra, ánh mắt lóe lên ngọn lửa quyết tâm tử thủ bảo vệ giọt máu của mình. Bên cạnh ông, Chúc Hợp vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh lạ thường, nhưng ánh mắt hắn hướng về phía dãy hành lang hậu viện nơi có ánh đèn leo lét hắt ra từ phòng của Tạ Phác, bàn tay âm thầm siết chặt vạt áo vải thô. Chúc Hợp tự nhủ trong đáy lòng rằng kiếp này hắn đã trở lại, dẫu trời long đất lở hay muôn vàn giáo gươm vây bọc, hắn cũng quyết liều mạng bảo vệ Tạ Phác chu toàn, tuyệt đối không để bất kỳ kẻ nào vấy bẩn lên danh tiết và cuộc đời của nàng thêm một lần nào nữa.