Chương 13: Bàn Giao Binh Quyền Và Khởi Sắc Dân Sinh
Sương sớm phương bắc còn chưa kịp tan trên những ngọn cờ thêu hình chim ưng no gió, tiếng tù và từ doanh trại nghĩa quân ngoài cửa ải Bình Thành đã rền vang từng hồi dồn dập, báo hiệu thời khắc đại quân chuẩn bị nhổ trại lên đường. Tướng quân Tần Chí Vũ đứng sừng sững giữa đại sảnh Tạ phủ, trên mình vẫn khoác bộ thiết giáp nặng nề còn vương vệt khói bụi chiến trường, ánh mắt sắc lạnh như lưỡi đao vừa tôi qua lửa đỏ quét qua từng khuôn mặt đang có mặt trong phòng. Bên ngoài sân lớn, hàng trăm chiến sĩ giáp trụ chỉnh tề đứng im phăng phắc, tay ghìm chặt ngọn giáo dài sáng loáng, hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng mỏng manh trong làn gió sớm lạnh buốt. Chiến dịch giải cứu Bình Thành và bắt sống công tử Vũ Văn Diệp của người Hồ đã toàn thắng, nhưng bước chân viễn chinh của người anh hùng phương bắc chưa thể dừng lại nơi thành trì nhỏ bé này. Phía tây bắc xa xôi, đại quân giặc ngoại bang vẫn đang rục rịch điều động thêm binh mã nhằm phục thù, các lộ nghĩa quân đồng minh cũng liên tục gửi thư cầu viện khẩn cấp, buộc Tần Chí Vũ phải dốc toàn lực đem quân tiếp viện để tạo thế chân vạc kìm chân lũ giặc cướp nước.
Trước giờ xuất phát, Tần Chí Vũ bước từng bước khoan thai lại gần bàn lớn, nơi có đặt một chiếc khay đồng phủ lụa điều đỏ thắm. Bàn tay to lớn phủ đầy vết chai sần vì cầm giáo gươm của vị tướng quân dứt khoát nâng tấm khăn điều lên, để lộ ra một khối hổ phù bằng đồng đen nhánh cùng một xấp thư lệnh dày cộp ghi chép rõ ràng danh sách binh lính phòng thủ, các điểm canh gác trọng yếu và kho tàng quân lương của toàn bộ Bình Thành. Tần Chí Vũ xoay người, hai tay bưng lấy khay đồng, nghiêm cẩn hướng về phía Tạ Thành đang đứng nghiêm nghị đợi lệnh, giọng nói trầm vang như tiếng chuông đồng rền rĩ khắp gian phòng khách rộng lớn. Vị tướng quân nói rằng Tạ lão trượng vốn là bậc danh sĩ đức cao vọng trọng của vùng biên ải, một lòng trung trinh vì nước vì dân, không chịu khuất phục trước uy vũ của ngoại bang; nay đại quân phải tiếp tục lên đường bình định loạn lạc, việc giao lại sự an nguy, rường cột và sinh mệnh của hàng vạn bá tánh Bình Thành cho Tạ gia chính là quyết định sáng suốt và an tâm nhất của nghĩa quân.
Nhận lấy khay đồng chứa hổ phù quyền lực tối cao từ tay Tần tướng quân, Tạ Thành không giấu nổi sự xúc động khiến đôi bờ mi bạc rung rinh, vội vàng khom lưng hành đại lễ tạ ơn tri ngộ. Tạ gia bao năm qua tuy giàu nứt đố đổ vách nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là hào phú địa phương, luôn phải dè chừng những đòn chèn ép hiểm độc từ bổn gia phương bắc và sự nhũng nhiễu tham tàn của quan lại hủ bại. Giờ đây, chỉ sau một đêm binh biến long trời lở đất, được nghĩa quân Tần gia trao trọn ấn tín binh phù, Tạ Thành đã chính thức trở thành người nắm giữ thực quyền quân sự và dân sự cao nhất tại mảnh đất biên cương màu mỡ này, địa vị và danh thế của chi thứ Tạ gia trong nháy mắt đã lên như diều gặp gió, không còn kẻ nào dám tùy tiện coi thường. Tần Chí Vũ nâng chén rượu tiễn biệt lên ngang ngực, mắt nhìn thẳng vào Tạ Thành và dặn dò thêm rằng mảnh đất Bình Thành này là cửa ngõ hiểm yếu nối liền nam bắc; giữ được thành trì này là giữ được huyết mạch tiếp tế lương thảo cho hàng vạn nghĩa quân nơi chiến tuyến, mong Tạ lão trượng dốc lòng chăm lo phòng thủ, chớ phụ lòng mong mỏi của ba quân tướng sĩ.
Nói đoạn, ánh mắt sắc sảo của Tần Chí Vũ bỗng chuyển dời sang Chúc Hợp đang đứng khép nép ở góc sảnh, nở một nụ cười tán thưởng hiếm hoi rồi cất giọng vang rền giữa chốn đông người. Vị tướng quân khen ngợi rằng vị hiền tế Chúc Hợp này tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng mưu lược thâm sâu, lại có lòng quả cảm phi thường; trận đánh vừa qua nếu không có Chúc hiền tế cơ trí bày kế bắt sống Vũ Văn Diệp thì đại quân chưa chắc đã có thể bức hàng giặc Hồ nhanh chóng và thu về hàng ngàn thỏi vàng cùng chiến mã quý giá như vậy. Tần tướng quân vỗ mạnh lên vai Chúc Hợp, cười bảo rằng người trẻ tuổi có tài thao lược như hắn nếu chịu gia nhập nghĩa quân theo ngài ra trận mạc thì ngày sau nhất định sẽ phong hầu bái tướng; nhưng ngài cũng biết rõ lòng hiếu thảo và sự gắn bó của hắn với Tạ gia, vì vậy việc hắn ở lại Bình Thành hiệp lực cùng nhạc phụ chèo chống đại cục chính là phúc phận của bá tánh nơi đây.
Lời khen ngợi bất ngờ của Tần tướng quân vang lên giữa chốn đông người làm cho Chúc Hợp trong lòng mừng rỡ khôn xiết, vội vàng bước lên chắp tay cung kính thi lễ tiễn biệt, nhưng hắn cũng nhanh mắt nhìn thấy sắc mặt của nhạc phụ Tạ Thành bên cạnh bỗng chốc tối sầm lại. Khi tiếng vó ngựa rầm rộ của đoàn quân Tần Chí Vũ khuất dần sau làn bụi mờ ngoài cổng thành phía bắc, bầu không khí trong đại sảnh Tạ phủ lập tức chùng xuống một cách ngột ngạt đến nghẹt thở. Các gia đinh, hộ vệ thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của lão gia nhà mình thì đều khôn ngoan cúi gằm mặt, rón rén lui dần ra ngoài hiên dọn dẹp bát đĩa, để lại một mình Chúc Hợp đứng trơ trọi giữa gian phòng rộng mênh mông. Tạ Thành đặt mạnh khay đồng đựng hổ phù lên mặt bàn gỗ lim vang lên một tiếng cạch chói tai, sau đó quay phắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn chằm chằm vào đứa con rể mà ông vừa gả con gái rượu cách đây không lâu.
Chúc Hợp thấy tình thế không ổn, vội vàng nở nụ cười tươi rói đầy vẻ lấy lòng, bước nhanh đến bên bàn trà rót một chén trà nóng bốc khói nghi ngút, hai tay nâng cao ngang mày dâng lên trước mặt Tạ Thành nhằm làm dịu cơn lôi đình đang nhen nhóm. Hắn cất giọng ngọt ngào xun xoe, nói rằng nhạc phụ đại nhân vất vả mấy ngày đêm lo toan thành sự, thân thể mệt mỏi, xin mời ngài uống ngụm trà nóng để ấm bụng rồi hãy nghỉ ngơi dưỡng sức. Nào ngờ Tạ Thành chẳng thèm đoái hoài đến chén trà ngon, ông vung tay gạt mạnh làm nước trà sóng sánh suýt đổ ra ngoài, phát ra một tiếng hừ lạnh buốt từ kẽ răng khiến da đầu Chúc Hợp tê rần. Tạ Thành chống hai tay ngang hông, bước giậm chân thình thịch vòng quanh Chúc Hợp như một vị tướng già đang chuẩn bị luận tội bại binh trên chiến trường, gằn từng tiếng đầy phẫn uất.
Ông lớn tiếng chất vấn Chúc Hợp rằng tên tiểu tử to gan này rốt cuộc trong đầu đang chứa đựng thứ gì, có phải sống quá êm ấm rồi nên muốn tìm đường chết hay không. Tạ Thành chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt con rể, vạch trần nỗi ấm ức bấy lâu nay rằng ngày trước ông đồng ý gả con gái bảo bối Tạ Phác cho hắn là vì nhìn trúng sự thật thà, an phận của một kẻ hàn sĩ; ông mua nhà cho hắn ở, chu cấp bạc vàng cho hắn tiêu, gạo ngon thịt béo nuôi hắn từng bữa, mục đích duy nhất là để khi xảy ra phong ba bão táp, hắn có thể đem Tạ Phác trốn thật xa đến nơi an toàn để bảo toàn tính mạng cho giọt máu duy nhất của Tạ gia. Ấy thế mà khi quân giặc vây hãm, tên ngốc này dám bỏ mặc thê tử ở chốn an toàn, tự mình dắt díu một lũ khất cái rách rưới tay cầm gậy gộc gạch đá xông vào sào huyệt kẻ thù đòi cứu mạng ông. Nếu hôm đó Tần tướng quân không đến kịp thời, chẳng phải cái mạng còm của hắn cùng đám ăn mày đã bị quân Hồ chém thành muôn mảnh, để lại con gái ông phải chịu cảnh góa bụa cô quạnh hay sao.
Tạ Thành càng nói càng giận, gương mặt đỏ bừng như gấc chín, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Ông bảo rằng con người sống trên đời quý nhất là biết lượng sức mình, hắn chỉ là một tên thư sinh trói gà không chặt, hơi thở còn chưa thông, vậy mà dám học đòi người ta làm anh hùng hảo hán cứu nguy giải nạn; may mà ông trời có mắt run rủi Tần tướng quân đến kịp, bằng không chẳng những cứu không được ông mà còn nướng sạch cả mạng của mình. Con gái ông từ nhỏ đã được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, chưa từng phải chịu một ngày cơ cực; nếu hắn xảy ra mệnh hệ nào thì ai sẽ chăm sóc cho nó suốt quãng đời còn lại. Mỗi lời nói của Tạ Thành tuy cay nghiệt, khó nghe, chứa đầy sự mắng nhiếc thậm tệ, nhưng thâm tâm Chúc Hợp hiểu rất rõ đó chính là sự lo lắng tột cùng của một người cha già cả đời chỉ biết sống vì con cái.
Chúc Hợp nhìn thấy nhạc phụ giận đến đỏ gay cả mặt, râu ria rung rinh từng đợt, trong lòng vừa buồn cười lại vừa dâng lên một dòng nước ấm áp vô bờ. Kiếp trước hắn sống trong nhung lụa giả tạo, chỉ biết chạy theo danh lợi và đàn bà phù phiếm, bên cạnh toàn những lời xu nịnh bỉ ổi rỗng tuếch, chưa từng có một người trưởng bối nào thật lòng vì tính mạng và tương lai của hắn mà nổi trận lôi đình như thế này. Hắn vội vàng hạ thấp chén trà, khom mình thật sâu bày tỏ lòng thành, giọng nói đầy vẻ ấm ức nhưng cũng không kém phần tha thiết. Chúc Hợp thưa rằng con người sống trên đời phải lấy chữ hiếu làm đầu, nhạc phụ đối với hắn ân sâu như biển, Tạ Phác lại là mạng sống là hơi thở của hắn; thử hỏi thấy cha của nương tử gặp nạn ngàn cân treo sợi tóc, làm sao một đấng nam nhi có thể thản nhiên khoanh tay đứng nhìn để rồi suốt đời sống trong nỗi hổ thẹn đớn hèn. Hơn nữa, việc bắt sống Vũ Văn Diệp tống tiền người Hồ cũng là để đổi lấy sự yên bình lâu dài cho Tạ gia, mong nhạc phụ đại nhân bớt giận mà tha thứ cho sự liều lĩnh của con rể.
Chúc Hợp còn khéo léo bộc bạch thêm rằng trước khi dẫn huynh đệ xông vào Tạ phủ, hắn đã sắp xếp ba đường lui chu toàn cho Tạ Phác, giao phó cho người hầu trung cẩn đưa nàng đến điền trang bí mật nằm sâu trong rừng trúc, có sẵn lương thảo dùng đủ trong nửa năm trời và có lối thoát hiểm dẫn thẳng ra ngoài chân núi; chỉ khi chắc chắn nương tử bình yên vô sự hắn mới dám đem thân mình đánh cược một phen. Hắn hiểu rõ bản lĩnh đánh đấm của mình không bằng ai, nhưng hắn có niềm tin vững chắc vào đạo nghĩa và sự trợ giúp của nghĩa quân Tần gia. Nghe con rể trình bày cặn kẽ từng đường đi nước bước, tính toán cẩn mật trước sau không sót một kẽ hở nào, sự bất mãn trong lòng Tạ Thành đã dần dần tan biến, thay vào đó là sự kinh ngạc trước trí tuệ già dặn và bản lĩnh phi thường của chàng trai trẻ. Thế nhưng thói cố chấp của bậc gia chủ vẫn khiến ông không chịu mở miệng tha thứ, chỉ biết trợn mắt khoát tay xua đuổi.
Tạ Thành hừ mũi một tiếng thật dài, phẩy tay đuổi Chúc Hợp như đuổi một con ruồi phiền toái, lạnh lùng tuyên bố rằng dù có nói ngả nói nghiêng thế nào thì tội bất tuân mệnh lệnh trưởng bối vẫn không thể xóa bỏ; từ nay về sau Chúc Hợp tốt nhất nên biến khỏi tầm mắt của ông, ngoan ngoãn quay về căn nhà cũ tồi tàn ngoài ngõ hẹp mà đóng cửa suy ngẫm, chớ có lởn vởn trước mặt làm ông ngứa mắt thêm bực mình. Nói xong, Tạ Thành quay lưng định bước vào nội viện, quyết tâm giữ vững thể diện của bậc gia chủ uy nghiêm để con rể không được đằng chân lân đằng đầu.
Đúng lúc thế cờ đang lâm vào bế tắc thì từ phía hành lang rợp bóng hoa mẫu đơn, một giọng nói thanh tao nhưng ẩn chứa uy lực sắc bén của bậc nữ chủ nhân vang lên xua tan đi bầu không khí ngột ngạt. Tạ phu nhân trong bộ y phục lụa màu lam trang nhã, búi tóc cài trâm ngọc bích sáng ngời, từ tốn bước vào sảnh đường với vẻ mặt nửa giận nửa cười. Vừa bước qua ngưỡng cửa, bà đã đưa mắt lườm trượng phu một cái sắc lẹm, khiến cho vị viên ngoại oai phong lẫm liệt vừa quát tháo vang trời bỗng chốc khựng lại, vẻ mặt gượng gạo cứng đờ. Tạ phu nhân bước đến đỡ lấy chén trà trên tay Chúc Hợp, dịu dàng bảo đứa con rể ngoan đứng thẳng người dậy rồi quay sang nhìn thẳng vào mặt Tạ Thành mà mắng khéo. Bà nói rằng lão gia ngày thường tự xưng là kẻ thông tuệ hơn người, nay được làm đại quan nắm giữ thành trì thì lại sinh tật làm mình làm mẩy với con cháu; người ta có con rể biết xả thân cứu mạng cha vợ thì mừng rỡ mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm, còn ông thì ở đây trợn mắt nghiến răng ra oai cho ai xem.
Tạ phu nhân tiếp tục vạch trần rằng ngày trước chính Tạ Thành là người lặn lội tìm kiếm, một mực chấm Chúc Hợp làm rể hiền vì thấy hắn có tâm tính lương thiện; nay con rể không những cứu được tính mạng của ông, lại còn hiến kế tống tiền bắt giặc đổi lấy hàng ngàn con chiến mã và vàng bạc cho nghĩa quân, làm rạng danh dòng tộc Tạ gia khắp vùng biên ải. Một người con rể vừa có hiếu vừa có tài như thế, ông không thưởng cho nó thì thôi, lại còn đòi đuổi nó đi cho khuất mắt, thử hỏi lương tâm của ông để ở đâu. Bà phân tích cặn kẽ rằng thời buổi loạn lạc, tìm được một người trượng phu thật lòng yêu thương con gái mình, dám vì nhà vợ mà coi cái chết nhẹ tựa lông hồng là điều phúc đức ba đời tu luyện mới có được; nếu Tạ Thành cứ tiếp tục hẹp hòi bắt bẻ thì bà sẽ dắt con gái và con rể dọn ra ngoài sống riêng, để ông một mình ôm lấy cái chức quan phòng thủ trong căn nhà trống trải này.
Bị thê tử liên tiếp tung ra những lý lẽ sắc bén chặn đứng mọi đường thoái lui, Tạ Thành đỏ bừng mặt, ấp úng mãi không thốt nên lời, chỉ biết lúng búng trong miệng rằng đàn bà con gái thì biết gì về việc quân cơ đại sự, ông làm vậy cũng chỉ muốn răn đe cho nó bớt cái tính liều lĩnh ngông cuồng mà thôi. Nhìn thấy phụ thân bị mẫu thân ép vào thế hạ phong, Tạ Phác đứng nép sau tấm rèm thêu hoa cúc khẽ mỉm cười e ấp, ánh mắt lấp lánh niềm vui nhìn về phía trượng phu của mình. Nàng khẽ vén rèm bước ra, đoan trang cúi chào phụ mẫu rồi dịu dàng khuyên giải đôi câu, tạo bậc thang êm ái cho phụ thân bước xuống. Tạ Thành thấy con gái rượu bước ra giải vây thì như vớ được cọc rào, lập tức ho khan vài tiếng thật to để lấy lại uy thế, sau đó xua tay tuyên bố rằng nể mặt phu nhân và nữ nhi cầu xin, ông tạm thời không truy cứu chuyện cũ nữa.
Không những thế, Tạ phu nhân còn dứt khoát quyết định luôn việc lớn: căn nhà cũ ngoài ngõ hẹp quá xa xôi ẩm thấp, nay Tạ Thành nắm giữ binh quyền, Tạ phủ cần thêm người tài cáng đáng sổ sách và dạy dỗ cho tiểu thiếu gia Tạ Kì; vì vậy vợ chồng Chúc Hợp và Tạ Phác phải lập tức dọn đồ về ở hẳn tại tiểu viện liền kề hoa viên phía đông Tạ phủ để tiện bề sớm tối chăm sóc lẫn nhau. Quyết định này của nhạc mẫu chẳng khác nào giải tỏa gánh nặng ngàn cân trong lòng Chúc Hợp, khiến hắn mừng rỡ đến mức suýt nhảy cẫng lên giữa đại sảnh. Việc dọn về ở tiểu viện sát cạnh Tạ phủ không chỉ giúp hắn có điều kiện bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Tạ Phác trước những biến cố khó lường thời loạn lạc, mà còn giúp hắn danh chính ngôn thuận bước vào trung tâm quyền lực của Bình Thành, trực tiếp phụ tá Tạ Thành trong việc củng cố thành phòng và phát triển dân sinh. Chúc Hợp vội vàng cùng Tạ Phác quỳ xuống tạ ơn nhạc mẫu đại nhân thấu tình đạt lý, trong khi Tạ Thành chỉ biết lắc đầu thở dài sườn sượt, ngoài mặt thì tỏ vẻ bực bội bất đắc dĩ nhưng nơi khóe mắt đã ánh lên sự an tâm và hài lòng kín đáo đối với sự sắp xếp chu toàn của phu nhân.
Ngay trong buổi chiều hôm ấy, tiểu viện phía đông Tạ phủ rộn rã tiếng bước chân và tiếng cười nói vui tươi của kẻ hầu người hạ phụ giúp dọn dẹp đồ đạc. Tiểu viện này vốn là nơi yên tĩnh nhất trong phủ, có giàn hoa tử đằng rủ bóng mát rượi bên bờ hiên, một hồ nước nhỏ nuôi cá chép đỏ cùng một gian thư phòng thoáng đãng ngập tràn ánh sáng tự nhiên. Tạ Phác tự tay sắp xếp từng chiếc gối thêu, trải lại tấm đệm êm ái trên giường ngủ, rồi cẩn thận đem những cuốn sách cổ quý giá của Chúc Hợp xếp ngay ngắn lên giá gỗ thơm mùi thông mới. Nàng mặc một chiếc áo lụa mỏng màu nguyệt bạch, mái tóc mây vấn lỏng cài một chiếc trâm bạc khắc hình hoa mai thanh nhã, nét mặt toát lên vẻ đằm thắm dịu dàng của một người vợ hiền thục đang chăm chút cho tổ ấm nhỏ của đời mình.
Chúc Hợp bước vào phòng, nhìn thấy bóng dáng mảnh mai duyên dáng của thê tử đang bận rộn bên bàn trà thì trái tim không khỏi rung động bồi hồi. Hắn nhẹ nhàng bước lại gần từ phía sau, đưa hai tay ôm lấy vòng eo thon thả của Tạ Phác, tựa cằm lên bờ vai gầy thơm ngát mùi hoa lài của nàng mà hít một hơi thật sâu. Tạ Phác khẽ giật mình nhưng nhận ra hơi ấm quen thuộc của phu quân liền thả lỏng người, nghiêng đầu mỉm cười dịu dàng trách yêu rằng chàng vừa từ ngoài về, mồ hôi còn chưa ráo sao không chịu ngồi uống chén trà mát mà lại thích quấn lấy người ta như đứa trẻ thế này. Chúc Hợp siết nhẹ vòng tay, ghé sát tai nàng thì thầm rằng có được một người vợ hiền đức như nàng, lại được sống những ngày tháng bình yên êm ấm bên nhau thế này thì dù có phải chịu thêm trăm ngàn nỗi mệt nhọc bên ngoài hắn cũng cam lòng; kiếp này hắn chỉ mong sao mỗi ngày mở mắt ra đều được nhìn thấy nụ cười của nàng, cùng nàng ăn cơm, cùng nàng ngắm trăng cho đến khi đầu bạc răng long.
Lời thề thốt chân thành mộc mạc ấy khiến đôi má Tạ Phác ửng hồng như ráng chiều, ánh mắt ngập tràn niềm tin yêu son sắt. Trải qua những ngày kinh hoàng bị quân giặc vây hãm, chứng kiến phu quân vì gia đình nàng mà không tiếc mạng sống xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, mọi sự phòng bị hay nghi ngại ban đầu trong lòng nàng đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là sự gắn kết máu thịt thiêng liêng của đạo phu thê. Nàng xoay người lại, đưa bàn tay mềm mại khẽ vuốt ve khuôn mặt phong trần của Chúc Hợp, căn dặn hắn rằng thời thế nay tuy đã tạm yên nhưng lòng người ngoài kia còn lắm nỗi hiểm sâu; phụ thân tính tình nóng nảy cương trực, chàng ở bên phụ tá nhất định phải cẩn trọng giữ gìn, đừng bao giờ tự đặt mình vào chốn hiểm nguy thêm một lần nào nữa, bởi nếu chàng xảy ra chuyện gì thì nàng cũng chẳng còn thiết tha sống trên cõi đời này.
Nhìn sâu vào đôi mắt long lanh chứa chan tình cảm của thê tử, Chúc Hợp gật đầu thật mạnh, khắc sâu từng lời dặn dò của nàng vào tận đáy tâm can. Hắn biết rằng sự bình yên quý giá này không phải tự nhiên mà có, mà là thành quả của bao nhiêu mưu lược, máu và nước mắt đã đổ ra. Để bảo vệ nụ cười này của Tạ Phác, hắn không thể chỉ an phận làm một kẻ hưởng lạc trong chốn hậu viện, mà phải nhanh chóng biến Bình Thành thành một pháo đài bất khả xâm phạm, một vùng đất trù phú ấm no đủ sức chống chọi với mọi cơn bão táp phong ba sắp tới của thời cuộc.
Tối hôm đó, sau khi dùng xong bữa cơm gia đình đầm ấm rộn rã tiếng cười, Chúc Hợp bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ kèm cặp việc học cho cậu em vợ Tạ Kì tại thư phòng tiểu viện. Tạ Kì năm nay mười ba tuổi, vốn là con trai độc nhất của Tạ Thành nên từ nhỏ đã được nuông chiều, tính tình nghịch ngợm, bướng bỉnh và rất sợ việc đọc sách thánh hiền. Trước đây mỗi lần bị phụ thân ép ngồi vào bàn học, cậu bé đều tìm đủ mọi cách trốn tránh, hoặc gật gù ngủ gục khiến Tạ Thành phải vung roi mây thị uy nhưng đâu lại vào đấy. Khi biết tỷ phu Chúc Hợp sẽ là người trực tiếp dạy dỗ mình, Tạ Kì ban đầu tỏ vẻ không phục, khoanh tay trước ngực nhìn Chúc Hợp với ánh mắt dò xét, hỏi rằng tỷ phu trói gà không chặt thì biết gì ngoài dăm ba câu kinh sử sáo rỗng để dạy cho cậu.
Chúc Hợp không hề giận dữ mà chỉ mỉm cười điềm đạm, hắn cất quyển sách luận ngữ sang một bên rồi trải ra bàn một tấm bản đồ địa hình vẽ chi tiết sông núi, đường xá và các thôn làng xung quanh Bình Thành. Bằng giọng kể chuyện lôi cuốn, trầm ấm, Chúc Hợp bắt đầu phân tích cho Tạ Kì nghe về thế trận phòng thủ trong trận chiến vừa qua, chỉ ra từng sơ hở chết người trong cách bày binh bố trận của tướng giặc Vũ Văn Diệp, và giải thích vì sao việc nắm bắt được tâm lý sợ chết của kẻ địch lại có thể giúp một nhóm khất cái tay không tấc sắt bắt sống được tên quý tộc kiêu ngạo. Hắn dạy cho cậu bé hiểu rằng học sách thánh hiền không phải để học vẹt thi cử làm quan hưởng bổng lộc, mà là để thấu hiểu lòng người, rèn luyện mưu lược, dùng trí tuệ để bảo vệ gia đình và bá tánh khi lâm nguy.
Những câu chuyện người thật việc thật đầy kịch tính cùng những kiến thức quân sự sâu rộng, mới mẻ của Chúc Hợp đã hoàn toàn chinh phục được cậu bé bướng bỉnh. Đôi mắt Tạ Kì sáng rực lên vì thán phục, chăm chú lắng nghe từng lời của tỷ phu mà không hề chớp mắt, liên tục đặt ra những câu hỏi thông minh về cách quản lý kho lương và huấn luyện quân sĩ. Từ đêm hôm ấy, Tạ Kì hoàn toàn thay đổi tâm tính, mỗi ngày đều tự giác đến tiểu viện học tập chăm chỉ, coi Chúc Hợp như một người thầy, một người huynh trưởng đáng kính nhất trong đời; điều này khiến cho Tạ Thành và Tạ phu nhân mừng rỡ khôn xiết, mối thiện cảm đối với Chúc Hợp trong lòng nhạc phụ lại càng tăng lên gấp bội phần.
Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy đầu tiên vừa điểm canh năm, Chúc Hợp đã chỉnh đốn y phục gọn gàng, cùng nhạc phụ Tạ Thành bắt tay vào công cuộc chấn hưng toàn diện thành trì. Việc đầu tiên và cấp bách nhất chính là tổ chức lại hệ thống trị an và phòng thủ. Nhờ sự tiến cử nhiệt tình của Chúc Hợp, gã thủ lĩnh khất cái Mã Đại cùng hàng trăm huynh đệ ăn mày từng đồng cam cộng khổ đã chính thức được Tạ Thành thu nạp, xóa bỏ thân phận lưu dân rách rưới để trở thành lực lượng tuần tra thành trì nòng cốt. Mã Đại khoác lên mình bộ võ phục bằng vải thô nhuộm chàm chắc chắn, hông đeo thanh trường đao sáng loáng, khuôn mặt rạng rỡ đầy vẻ tự hào dẫn đầu đội ngũ đi tuần tra khắp các nẻo đường ngõ hẻm. Những kẻ từng lang thang đầu đường xó chợ nay có được cơm ăn áo mặc đàng hoàng, lại được giao trọng trách bảo vệ quê hương nên ai nấy đều dốc hết tâm lực làm việc, nhanh chóng quét sạch các băng nhóm trộm cắp, lưu manh chuyên đục nước béo cò, lập lại trật tự nghiêm minh cho toàn thành.
Tiếp đó, Chúc Hợp hiến kế cho Tạ Thành mở rộng kho lương thực dự trữ, trích một phần bạc vàng tống tiền thu được từ người Hồ để cứu tế khẩn cấp cho các gia đình bị tàn phá nhà cửa sau trận chiến. Hắn cho dán cáo thị khắp bốn cổng thành, tuyên bố chính sách giảm một nửa thuế môn bài cho các thương nhân buôn bán lương thực, tơ lụa và muối, đồng thời miễn thuế nông nghiệp trong vòng hai năm cho những người tha hương chịu quay về khai khẩn ruộng hoang quanh vùng phụ cận. Chính sách khoan thư sức dân đầy nhân đạo ấy nhanh chóng lan truyền đi khắp nơi như làn gió xuân ấm áp thổi bùng lên sức sống mới. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, hàng ngàn hộ dân tị nạn trước đây chạy trốn loạn lạc đã nô nức dắt díu nhau quay về Bình Thành dựng lại nhà cửa, tiếng cày cuốc lại vang lên rộn rã trên những cánh đồng màu mỡ ven sông.
Để kiểm soát chặt chẽ việc lưu thông hàng hóa và ngăn chặn tình trạng đầu cơ trục lợi, Chúc Hợp cùng Mã Đại đích thân đi thị sát từng khu chợ. Có một buổi trưa nọ, tại phố lương thực phía nam, một tên chủ hiệu buôn lớn cậy có người quen làm việc trong nha môn cũ đã cố tình găm giữ hàng trăm bao gạo trắng trong kho kín, không chịu đem ra bán mà lại tung tin đồn thất thiệt rằng quân Hồ sắp tràn xuống để ép giá gạo tăng vọt lên gấp ba lần ngày thường. Dân nghèo xúm quanh cửa hiệu khóc lóc van xin mua từng bát gạo cầm hơi nhưng bị tên chủ quán xua đuổi thậm tệ. Nhận được tin báo từ tai mắt của Mã Đại, Chúc Hợp lập tức dẫn đội tuần tra ập đến phong tỏa toàn bộ hiệu buôn. Trước mặt hàng trăm bá tánh phẫn nộ, Chúc Hợp bình tĩnh cho binh lính mở toang cửa kho, lôi toàn bộ số gạo tích trữ ra ngoài ánh sáng mặt trời, lớn tiếng vạch trần âm mưu làm giàu trên xương máu đồng bào của tên gian thương.
Hắn viện dẫn luật lệ quân quản thời chiến, tuyên phạt tên chủ tiệm một ngàn lượng bạc sung vào quỹ cứu tế, đồng thời ép hiệu buôn phải mở bán toàn bộ số gạo trong kho theo đúng mức giá niêm yết ban đầu cho dân nghèo. Biện pháp xử lý vừa cứng rắn vừa thấu tình đạt lý ấy đã dập tắt ngay từ trong trứng nước ngọn lửa đầu cơ bất chính, làm cho lòng dân Bình Thành vô cùng nể phục và tin tưởng vào sự công minh của Tạ gia. Khu chợ trung tâm Bình Thành từng có lúc vắng tanh hoang tàn, nay đã nhanh chóng hồi sinh và trở nên sầm uất náo nhiệt gấp bội phần so với trước đây. Từ sáng sớm tinh mơ, tiếng lục lạc leng keng của những đoàn la ngựa thồ hàng từ phương nam mang theo trà ngon, gạo trắng, đồ gốm sứ đã tấp nập nối đuôi nhau tiến qua cổng thành. Tiếng rao hàng lảnh lót của các bà bán bánh hấp nóng hổi, tiếng búa đập chan chát vào đe thép đỏ rực từ các lò rèn vũ khí và nông cụ, tiếng mặc cả râm ran của người mua kẻ bán hòa quyện vào nhau tạo nên một bản hòa ca dân sinh vô cùng sống động. Trên nét mặt của từng người dân nghèo, nỗi sợ hãi kinh hoàng về lưỡi gươm man rợ của giặc Hồ đã dần dần được thay thế bằng ánh mắt rạng ngời hy vọng vào một cuộc sống no đủ, thái bình.
Chúc Hợp trong những ngày này bận rộn đến mức chân không chạm đất. Buổi sáng, hắn theo Tạ Thành lên mặt thành kiểm tra việc tu bổ các đoạn tường thành bị nứt vỡ, đốc thúc việc tích trữ đá tảng, dầu sôi và tên bắn tại các tháp canh; buổi trưa, hắn đến thư phòng Tạ phủ kiên nhẫn giảng giải thi thư, phân tích đạo lý trị quốc an dân cho cậu em vợ Tạ Kì; buổi chiều, hắn lại cùng Mã Đại đi dạo quanh các phường buôn để nắm bắt tình hình giá cả thị trường và lắng nghe tâm tư nguyện vọng của bá tánh. Sự cơ trí, nhã nhặn và phong thái làm việc mẫn cán của Chúc Hợp không chỉ khiến cho toàn thể gia nhân trong Tạ phủ một lòng kính phục, mà ngay cả Tạ Thành mỗi khi đi đâu nghe dân chúng hết lời khen ngợi con rể cũng cảm thấy mát lòng mát dạ, đi đứng ưỡn ngực đầy vẻ tự hào.
Thế nhưng, giữa lúc ánh sáng thái bình đang chan hòa khắp Bình Thành thì tại một tòa phủ đệ thâm nghiêm bề thế ở phương bắc xa xôi, một bầu không khí u ám, ngột ngạt và nồng nặc mùi tử khí lại đang bao trùm lấy bổn gia họ Tạ. Trong gian mật thất tối tăm chỉ le lói vài ngọn nến le lói, Tạ Nhượng đang ngồi gục trên chiếc ghế bành bọc da hổ, khuôn mặt già nua xám ngoét như người chết trôi, hai bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy tay vịn ghế đến mức các khớp xương kêu răng rắc. Kế hoạch bán đứng dòng tộc, bắt tay với người Hồ để trục lợi của lão đã hoàn toàn sụp đổ sau thảm bại nhục nhã của Vũ Văn Diệp. Để chuộc mạng cho đứa con trai cưng của Tây giao Đại Vương, người Hồ đã phải cắn răng nộp cho nghĩa quân một khoản tiền chuộc khổng lồ, khiến bọn chúng tức giận đến điên cuồng và trút toàn bộ cơn thịnh nộ lôi đình lên đầu kẻ trung gian là lão.
Tạ Nhượng không những bị tước đoạt toàn bộ các đặc quyền buôn bán muối và sắt béo bở với các bộ tộc phương bắc, mà còn bị tướng lĩnh giặc Hồ đe dọa sẽ tru di cả nhà nếu không bồi thường lại những tổn thất nặng nề mà bọn chúng đã phải gánh chịu. Nguồn tiền tài cạn kiệt, uy danh của bổn gia trong mắt các thế lực xung quanh tụt dốc không phanh, lại nghe tin chi thứ của Tạ Thành ở Bình Thành nay nắm giữ toàn bộ binh quyền thành trì, được nghĩa quân phong làm đại quan, danh tiếng vang dội bốn phương thì Tạ Nhượng tức tối đến mức hộc cả máu mồm. Nỗi ghen ghét và hận thù điên cuồng như ngọn lửa độc thiêu đốt tâm can lão ngày đêm không dứt.
Trong cơn tuyệt vọng và căm hận tột cùng, Tạ Nhượng triệu tập một cuộc họp bí mật gồm những trưởng lão và tay chân tâm phúc nhất của bổn gia. Một lão già trong tộc cất giọng lo sợ bảo rằng chi thứ Tạ Thành nay như hổ thêm cánh, lại có nghĩa quân Tần Chí Vũ chống lưng phía sau, nếu chúng ta tiếp tục đối đầu e rằng sẽ chuốc lấy họa diệt môn; chi bằng cử sứ giả mang theo lễ vật sang Bình Thành tạ tội, xin nối lại tình xưa nghĩa cũ để cùng hưởng bổng lộc. Nghe thấy lời bàn lùi ấy, Tạ Nhượng nổi giận đập vỡ tan chiếc chén ngọc trên tay, gầm thét quát mắng lão trưởng lão kia là kẻ nhu nhược hèn nhát; lão nghiến răng tuyên bố rằng mối thù mất hết tiền đồ và danh dự này không đội trời chung, lão thà chết chứ quyết không bao giờ chịu cúi đầu trước đứa em họ Tạ Thành mà lão từng coi như cỏ rác.
Qua mạng lưới tai mắt do thám bí mật gửi về, Tạ Nhượng nhanh chóng phát hiện ra rằng kẻ đứng sau toàn bộ các biến cố long trời lở đất ấy, kẻ đã bày mưu cho Tần Chí Vũ bắt sống Vũ Văn Diệp rồi giật dây tống tiền trắng trợn, không phải là Tạ Thành già nua cổ hủ, mà chính là tên con rể hàn môn xuất thân hèn kém có tên Chúc Hợp. Lão đập bàn chửi rủa ầm ĩ, không ngờ một con kiến hôi mà lão từng chẳng thèm liếc mắt nhìn lại có thể phá tan mưu đồ to lớn của lão, đẩy lão vào bước đường cùng nhục nhã thế này. Đối mặt với một Tạ Thành đang nắm giữ hàng ngàn tinh binh trong tay, Tạ Nhượng biết rõ việc dùng vũ lực tấn công hay gửi thư đe dọa như trước đây hoàn toàn chỉ là trò cười tự rước lấy họa diệt thân. Muốn triệt hạ chi thứ Tạ gia, muốn lấy lại những gì đã mất, lão bắt buộc phải dùng đến thủ đoạn thâm độc nhất: đánh vào điểm yếu chí mạng của kẻ thù từ bên trong.
Nghĩ đến đây, đôi mắt ti hí của Tạ Nhượng bỗng lóe lên những tia sáng xanh lè đầy nham hiểm như loài rắn độc trong hang tối. Lão khẽ vỗ tay ba tiếng giòn giã vào khoảng không gian tĩnh mịch. Tấm rèm nhung đen sau lưng lão khẽ lay động, một bóng người yểu điệu thướt tha từ từ bước ra ngoài ánh nến mờ ảo. Đó là một tuyệt sắc giai nhân tuổi chừng mười tám đôi mươi, mang tên Hinh Nhi. Nàng sở hữu một gương mặt trái xoan thanh tú đến mê hồn, đôi mày lá liễu thanh mảnh uốn cong trên đôi mắt phượng ướt rượt đa tình, làn da trắng muốt không tì vết như ngọc thạch ngâm trong sữa dê, cùng đôi môi son căng mọng đỏ thắm như cánh hoa đào vừa hé nở trong sương sớm. Dưới lớp xiêm y lụa mỏng manh, từng đường cong uốn lượn mềm mại trên thân hình nàng như ẩn chứa một sức quyến rũ ma mị chết người, đủ sức làm cho bất kỳ đấng nam nhi gang thép nào cũng phải ngã quỵ đầu hàng.
Hinh Nhi vốn là một con cờ bí mật được Tạ Nhượng bí mật thu nhận và huấn luyện công phu suốt nhiều năm trời trong bóng tối. Nàng không chỉ tinh thông cầm kỳ thi họa, mà còn nắm vững mọi ngón nghề mê hoặc lòng người, từ ánh mắt đưa tình lúng liếng, giọng nói nỉ non ngọt như rót mật vào tai, cho đến tài nghệ giả vờ ngây thơ mềm yếu để khơi dậy lòng trắc ẩn của đàn ông. Tạ Nhượng nhìn chăm chú vào con bài tẩy đắc lực của mình, cất giọng khàn khục ghê rợn ra lệnh rằng nhiệm vụ lần này của nàng là phải cải trang thành một nữ tử bần hàn lưu lạc, tìm mọi cách thâm nhập vào nội bộ Tạ phủ, quyến rũ cho bằng được tên tiểu tử Chúc Hợp. Bằng mọi giá, nàng phải biến hắn thành kẻ say đắm trong nhan sắc của nàng, ly gián tình cảm vợ chồng giữa hắn và Tạ Phác, gieo rắc mối bất hòa sâu sắc giữa con rể và nhạc phụ Tạ Thành, đồng thời bí mật thu thập sơ đồ bố phòng thành trì để chuẩn bị cho kế hoạch phản công của bổn gia.
Hinh Nhi khẽ nghiêng mình hành lễ, khóe môi hé nở một nụ cười nửa miệng đầy vẻ tự phụ và tàn nhẫn, giọng nói êm ái như tiếng gió thoảng qua cành liễu thưa rằng lão gia cứ yên tâm, trên đời này chưa từng có gã đàn ông nào nhìn thấy dung nhan của nàng mà có thể giữ vững được tâm trí; một tên hàn sĩ nghèo kiết xác vừa mới bước chân vào chốn vinh hoa như Chúc Hợp thì việc biến hắn thành con rối ngoan ngoãn trong tay nàng chỉ dễ dàng như trở bàn tay. Ngay trong đêm đó, một cỗ xe ngựa bí mật chở Hinh Nhi cùng những tay chân thân tín của Tạ Nhượng đã lặng lẽ rời khỏi phương bắc, men theo những con đường mòn hiểm trở tiến thẳng về hướng Bình Thành, mang theo một âm mưu đen tối rắp tâm phá nát sự bình yên vừa chớm nở của đôi vợ chồng trẻ.
Những ngày cuối thu ở Bình Thành, tiết trời trở nên hanh hao và se lạnh hơn khi những đợt gió bấc đầu mùa bắt đầu thổi qua các rặng liễu khẳng khiu bên bờ thành. Chiều hôm ấy, sau khi cùng các viên lại kiểm tra kỹ lưỡng sổ sách xuất nhập của kho lương thực dự trữ và phân phát áo ấm cho đội tuần tra của Mã Đại, Chúc Hợp cảm thấy toàn thân mệt mỏi nhưng tinh thần lại vô cùng phấn chấn. Nghĩ đến việc sắp được trở về tiểu viện ấm cúng, thưởng thức bữa cơm chiều nóng sốt do chính tay Tạ Phác nấu và cùng nàng ngồi bên bếp lửa sưởi ấm, bước chân của hắn bất giác trở nên nhanh nhẹn và nhẹ nhõm hơn hẳn. Hắn chỉ mang theo hai gia đinh trẻ tuổi của Tạ phủ đi phía sau để xách vài gói thuốc bổ và xấp vải vóc mà Tạ phu nhân nhờ mua giúp.
Khi đi đến ngã tư đường lớn, chỉ còn cách con hẻm dẫn vào cổng hông Tạ phủ chừng hơn một trăm bước chân, Chúc Hợp bỗng nghe thấy phía trước truyền đến những tiếng khóc lóc thảm thiết, ai oán của một nữ tử, hòa lẫn với tiếng xì xào bàn tán xôn xao của một đám đông đang tụ tập ken đặc cả góc phố. Tính tò mò nổi lên, lại thêm trách nhiệm của một người phụ tá thành sự không muốn xảy ra chuyện ẩu đả hay náo loạn nơi công cộng, Chúc Hợp dừng bước ngẩng đầu nhìn qua kẽ hở của đám người. Hắn thấy giữa khoảng đất trống trước một quán trà cũ, có đặt một chiếc chiếu rơm rách nát, bên trên đắp một tấm vải trắng đã ố vàng phủ kín một thân hình nằm bất động, rõ ràng là thi thể của một người vừa mới qua đời.
Quỳ sụp bên cạnh manh chiếu rách ấy là một thiếu nữ mang trên mình bộ tang phục bằng vải sô thô ráp, đầu chít khăn trắng, trên mái tóc đen nhánh có cắm một cành cỏ khô nhỏ nhắn – dấu hiệu truyền thống báo hiệu cho bàn dân thiên hạ biết rằng nàng đang muốn bán thân lấy tiền chôn cất người thân. Thiếu nữ ấy cúi gập người sát đất, hai bờ vai gầy rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào xé lòng, giọng khóc nỉ non như tiếng ve sầu than thở giữa đêm đông giá buốt. Nàng vừa khóc vừa cất tiếng van lơn thảm thiết, kể lể rằng hai cha con nàng là dân bần hàn lưu lạc từ phương bắc chạy loạn đến đây, chẳng may giữa đường người cha lâm bệnh hiểm nghèo qua đời, trong túi không còn lấy một đồng xu dính túi để mua cỗ ván quan tài chôn cất đấng sinh thành; nay nàng tình nguyện bán thân làm nô tỳ, làm trâu làm ngựa cho bất kỳ vị ân nhân nào có lòng hảo tâm bỏ ra năm mươi lượng bạc giúp nàng an táng người cha già nơi đất khách quê người.
Tiếng khóc thương tâm cùng câu chuyện bi đát ấy nhanh chóng thu hút hàng trăm người qua đường hiếu kỳ vây kín thành nhiều vòng trong ngoài. Đám đàn ông trong chợ nhìn thấy thiếu nữ tuy mặc áo sô gai nhưng dáng người yểu điệu mềm mại như cành liễu trước gió thì ai nấy đều nuốt nước bọt ừng ực, đôi mắt sáng rực lên thèm thuồng. Thế nhưng khi nghe đến cái giá năm mươi lượng bạc trắng – một số tiền quá lớn đủ để một gia đình bình dân sống sung túc suốt cả năm trời – thì tất cả đều lắc đầu lè lưỡi lùi lại phía sau. Ai cũng xót thương cho số phận của nàng nhưng chẳng có ai dại dột mở hầu bao cứu giúp, chỉ biết đứng quanh chỉ trỏ bàn tán, góp vào những lời thương hại sáo rỗng vô thưởng vô phạt.
Chúc Hợp đứng ngoài rìa đám đông, khẽ thở dài một tiếng thương cảm cho thói đời đen bạc thời loạn lạc. Hắn vốn dĩ không phải là kẻ vô tình, nhưng hắn hiểu rõ thân phận của mình hiện tại: hắn chỉ là một con rể nương nhờ bóng Tạ gia, tiền bạc trong nhà đều do Tạ Phác quản lý chu toàn; hơn nữa giữa thanh thiên bạch nhật, việc một nam tử trẻ tuổi bỏ tiền mua một nữ nhân xa lạ về nhà chắc chắn sẽ gây ra những lời đàm tiếu thị phi không đáng có, làm tổn thương đến tình cảm vợ chồng son sắt mà hắn đang hết lòng vun đắp. Nghĩ vậy, Chúc Hợp quyết định giữ mình trong sạch, xoay người ra hiệu cho hai gia đinh đi theo, định bụng lặng lẽ lách qua rìa đám đông để rảo bước về nhà ăn cơm tối cùng thê tử.
Thế nhưng, số phận dường như đã được an bài bởi những bàn tay mưu mô đen tối. Ngay khoảnh khắc Chúc Hợp vừa quay lưng cất bước, thiếu nữ đang quỳ sụp dưới đất bỗng ngước đôi mắt đẫm lệ lên. Ánh mắt phượng sắc sảo của nàng đảo qua đám đông và lập tức bắt trúng vóc dáng cao ráo, tuấn tú cùng bộ y phục bằng lụa gấm màu xanh trúc sang trọng của Chúc Hợp, nhất là chiếc ngọc bội khắc hoa văn độc quyền của Tạ gia đang đung đưa bên hông hắn. Một tia sáng tinh quái và quyết liệt lóe lên trong đáy mắt nàng ta trong tích tắc rồi nhanh chóng biến mất sau màn nước mắt giả tạo.
Không một chút do dự, thiếu nữ bán thân táng cha bỗng nhiên vùng dậy khỏi manh chiếu rách. Với một sự nhanh nhẹn đến khó tin, nàng ta xô dạt những người đi đường đang đứng chắn lối, vừa khóc vừa lao thẳng qua khoảng cách hơn mười bước chân như một cơn gió lốc. Trước sự kinh ngạc tột độ của Chúc Hợp và hai người hầu, nàng ta không hề ngập ngừng mà quỳ sụp ngay dưới chân Chúc Hợp, hai cánh tay trắng muốt như ngó sen vươn ra ôm chặt cứng lấy bắp chân của hắn, đầu gục sát vào đầu gối hắn mà gào khóc thảm thiết như thể vừa tìm thấy chiếc phao cứu sinh duy nhất của cuộc đời mình.
Hành động bất ngờ và táo tợn ấy làm cho Chúc Hợp chết lặng tại chỗ, hai mắt trợn tròn, mồm há hốc mà không thốt ra được nửa lời. Hắn cảm thấy sống lưng mình lạnh toát như vừa bị một gáo nước đá dội thẳng từ đỉnh đầu xuống gót chân. Hắn thề với trời đất rằng từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến nay, hay đúng hơn là từ khi sống lại ở kiếp này, hắn chưa từng nhìn thấy mặt mũi cô ả này lấy một lần, càng không có bất kỳ mối liên hệ nào với nàng ta; cớ sao giữa chốn ba quân thiên hạ đông đúc thế này, nàng ta lại bỏ qua bao nhiêu phú thương giàu có xung quanh để lao thẳng đến ôm chặt lấy chân hắn mà khóc lóc như góa phụ khóc chồng thế này.
Thiếu nữ không để cho Chúc Hợp kịp định thần, nàng ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn thẳng vào mắt hắn, từng giọt nước mắt trong veo như hạt ngọc lăn dài trên đôi gò má ửng hồng kiều diễm. Giọng nói của nàng cất lên nghẹn ngào, nức nở từng hồi làm rung động lòng người, van xin công tử rủ lòng thương xót số phận hẩm hiu của nàng; nàng nhìn thấy công tử phong thái đường hoàng, diện mạo nhân từ phúc hậu, ắt hẳn là bậc đại trượng phu có tấm lòng bồ tát cứu khổ cứu nạn; xin công tử hãy rủ lòng từ bi ban cho nàng năm mươi lượng bạc để lo tròn đạo hiếu chôn cất phụ thân, từ nay về sau nàng nguyện trọn đời làm thân trâu ngựa, làm tỳ thiếp theo hầu hạ nâng khăn sửa túi cho công tử, dù phải chịu cảnh băm vằm xẻ thịt cũng không một lời oán thán.
Khung cảnh xúc động nghẹn ngào ấy lập tức làm bùng nổ sự đồng cảm mù quáng của đám đông vây xem xung quanh. Những người qua đường vốn chẳng chịu bỏ ra một xu một cắc nào để giúp đỡ nay lại tìm thấy một đối tượng hoàn hảo để thỏa mãn thói đạo đức giả của mình. Hàng chục tiếng xì xào, bàn tán rồi biến thành những tiếng giục giã, thúc ép vang lên không ngớt từ bốn phương tám hướng. Có kẻ bảo rằng vị công tử này ăn mặc gấm vóc sang trọng, nhìn chiếc ngọc bội bên hông chắc chắn là người của Tạ gia giàu nứt đố đổ vách, năm mươi lượng bạc đối với hắn chỉ như một hạt cát giữa sa mạc, tội gì không bỏ ra làm phúc cứu người. Có kẻ lại chêm vào với giọng điệu đầy vẻ ghen tị lẫn mỉa mai rằng cô nương này nhan sắc như tiên giáng trần, hoa nhường nguyệt thẹn, rước được một tuyệt sắc giai nhân như thế về phòng làm tiểu thiếp thì có phúc ba đời, sao còn đứng ngây ra đó mà không mau mau gật đầu đồng ý.
Bị hàng trăm con mắt xoi mói chỉ trỏ và những lời phán xét vô căn cứ bủa vây tứ phía, Chúc Hợp cảm thấy lồng ngực mình tức tối như muốn nổ tung. Trải qua bài học xương máu đắt giá của tiền kiếp, khi hắn từng vì ham mê nhan sắc phù phiếm của lũ tỳ thiếp độc địa mà làm tan nát gia can, phụ bạc người vợ tào khang Tạ Phác để rồi chuốc lấy cái chết thảm khốc không nơi chôn cất, Chúc Hợp nay đã hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi thứ cạm bẫy sắc dục trên đời. Hắn hiểu rất rõ rằng hoa càng đẹp thì gai càng độc, một nữ nhân xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành bỗng dưng từ trên trời rơi xuống quỳ lạy xin theo hắn về làm thiếp chắc chắn không bao giờ là một sự tình cờ may mắn, mà là một cái bẫy chết người được giăng ra vô cùng tinh vi.
Kìm nén cơn giận dữ đang bốc hỏa trong lòng, Chúc Hợp hít một hơi thật sâu, cúi đầu nhìn thẳng vào thiếu nữ đang bám chặt lấy chân mình, cất giọng lạnh lùng và dứt khoát không chút do dự. Hắn nói lớn cho cả bàn dân thiên hạ cùng nghe rằng cô nương này đã nhận nhầm người rồi; nhà hắn nghèo rớt mồng tơi, cơm ăn ba bữa còn phải lo từng bữa, chiếc áo gấm đang mặc cùng chiếc ngọc bội này đều là đồ của nhạc gia cho mượn để lo việc công vụ; hắn đã có thê tử kết tóc ở nhà, hai vợ chồng tình sâu nghĩa nặng, gia quy nghiêm cẩn tuyệt đối không bao giờ có chuyện nạp thiếp hay mua thêm nô tỳ; cô nương nếu thật lòng muốn chôn cha thì hãy đi tìm những bậc đại phú hào khác mà cầu xin, chớ có bám lấy hắn mà làm lỡ dở việc lớn.
Dứt lời, Chúc Hợp nhấc chân định bước đi để thoát khỏi vòng vây phiền toái. Thế nhưng, thiếu nữ kia đâu dễ dàng để con mồi béo bở tuột khỏi tay như vậy. Thấy Chúc Hợp từ chối thẳng thừng, nàng ta chẳng những không buông tay mà hai cánh tay càng siết chặt lấy ống quần hắn như gọng kìm bằng thép, cả thân hình dán sát vào chân hắn, tiếng khóc than lại càng trở nên ai oán, thảm thiết hơn gấp bội. Nàng vừa khóc vừa đập đầu xuống đất van xin công tử đừng bỏ rơi nàng, nàng đã quỳ ở đây suốt từ sáng đến chiều trong giá rét đói khát, nếu công tử không cứu thì nàng chỉ còn nước đâm đầu vào tường chết theo phụ thân cho tròn đạo hiếu.
Đám đông xung quanh thấy cảnh tượng mỹ nhân quỳ lạy đau đớn như vậy thì bắt đầu quay sang hùa nhau trách móc Chúc Hợp là kẻ lòng lang dạ thú, thấy chết không cứu, không biết thương hoa tiếc ngọc. Tiếng xì xào phẫn nộ ngày càng dâng cao khiến bầu không khí trở nên vô cùng căng thẳng. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc ấy, Chúc Hợp bỗng nheo mắt lại, cúi sát người xuống quan sát thật kỹ từng chi tiết trên người cô ả đang quỳ dưới chân mình. Với con mắt tinh tường của một kẻ từng trải qua hai kiếp người và từng lăn lộn chốn mưu lược quan trường, hắn lập tức phát hiện ra hàng loạt điểm vô lý đến nực cười đang phơi bày rõ mồn một trước mắt.
Trước hết chính là đôi bàn tay của ả. Một thiếu nữ con nhà bần hàn lưu lạc chạy loạn hàng trăm dặm đường, cha chết đói khát không tiền chôn cất, cớ sao đôi bàn tay của ả lại trắng trẻo, mịn màng không tì vết như ngó sen ngâm trong nước tuyết; từng đầu ngón tay thon dài được cắt tỉa gọn gàng, móng tay hồng hào bóng bẩy, tuyệt nhiên không hề có lấy một vết chai sần nhỏ nào của người quen lao động lam lũ vất vả. Thứ hai chính là bộ tang phục bằng vải sô gai trên người ả. Tuy bên ngoài có cố ý bôi lem luốc vài vệt bùn đất giả tạo, nhưng những đường kim mũi chỉ may viền áo lại vô cùng tinh xảo, chất vải sô tuy thô nhưng là loại vải mới tinh tươm vừa được cắt từ cuộn vải đắt tiền ra, hoàn toàn không phải loại vải cũ rách mục nát của kẻ bần cùng khốn khó. Và điểm đáng ngờ nhất chính là mùi hương trên cơ thể ả: dù quỳ bên cạnh một xác chết giữa trời nắng gió hanh hao, nhưng phảng phất quanh người thiếu nữ này lại là một mùi hương trầm pha lẫn hoa quỳnh vô cùng thanh nhã và đắt đỏ – loại hương phấn thượng hạng mà chỉ có những tiểu thư khuê các hoặc các kỹ nữ hàng đầu trong các thanh lâu danh tiếng phương bắc mới có đủ tiền bạc để sử dụng.
Xâu chuỗi tất cả những điểm khả nghi ấy lại với nhau, khóe môi Chúc Hợp khẽ nhếch lên một nụ cười châm biếm đầy khinh bỉ. Rõ ràng đây là một màn kịch bán thân táng cha được dàn dựng vô cùng vụng về nhưng lại cực kỳ hiểm độc! Kẻ đứng sau gián điệp này chắc chắn đã tính toán rất kỹ đường đi nước bước của hắn, cố tình bố trí ngay tại con đường gần Tạ phủ để ép hắn vào thế đã rồi, dùng dư luận đám đông và nước mắt mỹ nhân để buộc hắn phải rước một quả bom nổ chậm vào trong hậu viện nhà mình. Nhớ đến những thủ đoạn bẩn thỉu quen thuộc của lũ gian tế phương bắc, Chúc Hợp gần như chắc chắn một trăm phần trăm rằng màn kịch này chính là tác phẩm của tên cáo già Tạ Nhượng từ bổn gia phái tới nhằm trả thù hắn.
Nghĩ đến việc có kẻ dám đem mỹ nhân kế bỉ ổi này ra để toan tính phá hoại cuộc sống êm ấm của hắn và Tạ Phác, ngọn lửa phẫn nộ trong lòng Chúc Hợp bốc lên ngùn ngụt. Hắn không thèm đôi co thêm nửa lời, quay sang quát lớn hai tên gia đinh đang đứng ngơ ngác như trời trồng phía sau rằng hai tên ăn hại các ngươi còn đứng đực mặt ra đó làm gì, không mau tiến lên kéo ả đàn bà điên này ra chỗ khác cho ta để ta còn về phủ bẩm báo với lão gia.
Hai tên gia đinh Tạ phủ bị quát giật bắn mình, vội vàng buông các gói đồ xuống đất, xắn tay áo hùng hổ lao vào nắm lấy hai cánh tay của thiếu nữ kéo mạnh ra phía sau. Theo lẽ thường tình, một cô gái yếu đuối mảnh mai như cành liễu, lại nhịn đói khát cả ngày trời thì chỉ cần một gã người hầu lực lưỡng khẽ gạt tay là đã ngã lăn ra đất. Thế nhưng, một sự việc kỳ quái đến khó tin đã xảy ra ngay trước mắt mọi người: dù hai gã gia đinh to khỏe dùng hết bình sinh ra sức lôi kéo đến mức mặt đỏ tía tai, thở hồng hộc như trâu thở, nhưng hai bàn tay của thiếu nữ kia vẫn bám chặt cứng vào vạt áo và bắp chân Chúc Hợp như rễ cây cổ thụ cắm sâu vào lòng đá núi, không tài nào lay chuyển nổi dù chỉ một phân.
Lực tay của ả khỏe đến mức dị thường, hoàn toàn trái ngược với vẻ ngoài liễu yếu đào tơ đang run rẩy khóc lóc! Trong lúc giằng co hỗn loạn, nhận thấy hai gã gia đinh đang dùng sức quá đà, ả thiếu nữ bỗng nhiên phát ra một tiếng kêu thét thất thanh đầy đau đớn giả tạo. Mượn chính lực kéo của hai gã người hầu, ả bất ngờ buông lỏng hai tay, mượn đà bật người bay thẳng về phía trước. Trước con mắt kinh ngạc tột độ của hàng trăm người đang đứng xem, ả không hề ngã xuống đất mà lại nhào trọn cả thân hình mềm mại, nóng hổi vào lòng Chúc Hợp, hai cánh tay trắng muốt như hai con rắn độc thoăn thoắt vòng qua cổ hắn, cả người ngồi gọn lỏn trên đùi hắn khi hắn đang lảo đảo mất đà lùi lại nửa bước.
Mùi hương phấn nồng nàn sực nức xộc thẳng vào mũi Chúc Hợp, kéo theo đó là sự va chạm xác thịt đầy nhục cảm khi bộ ngực căng tròn mềm mại của ả ép chặt vào lồng ngực hắn qua lớp áo lụa mỏng manh. Đám đông xung quanh thấy cảnh tượng diễm lệ bất ngờ ấy thì đồng loạt ồ lên những tiếng vỗ tay huýt sáo vang trời, thi nhau cười cợt trêu ghẹo rằng gạo đã nấu thành cơm rồi, vị công tử này phen này muốn chối cũng không thể chối được nữa, tốt nhất là mau mau ôm mỹ nhân về dinh mà động phòng hoa chúc.
Bị một nữ nhân xa lạ táo tợn ôm chặt cứng giữa thanh thiên bạch nhật, bao nhiêu ánh mắt xoi mói dâm dơ của thiên hạ đổ dồn vào người, Chúc Hợp cảm thấy nhục nhã và ghê tởm tột cùng. Hắn nghiến răng ken két, hai tay đưa lên định nắm lấy cổ tay ả bẻ gãy để tống khứ của nợ này ra xa. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc khuôn mặt của thiếu nữ ngửa lên, áp sát chỉ cách chóp mũi hắn chưa đầy nửa gang tay, ánh mắt lúng liếng đưa tình cùng nụ cười nửa khóc nửa cười đầy vẻ phong tao đắc thắng trên khóe môi ả bỗng nhiên đập thẳng vào mắt hắn.
Một tia chớp kinh hoàng xé toạc màn đêm ký ức tăm tối của Chúc Hợp, làm cho toàn bộ linh hồn hắn run rẩy dữ dội như bị sét đánh trúng tim can! Khuôn mặt trái xoan diễm lệ này, đôi lông mày lá liễu cong vút đầy vẻ dâm tà này, nốt ruồi son nhỏ xíu ẩn hiện nơi khóe mắt trái này... làm sao hắn có thể quên được! Đây chính là ả! Chính là Hinh Nhi – kẻ từng là đệ nhất tiểu thiếp được hắn sủng ái nhất ở kiếp trước, kẻ đã dùng chính những giọt nước mắt cá sấu và những lời đường mật này để mê hoặc tâm trí hắn, khiến hắn mù quáng cướp đoạt của hồi môn của Tạ Phác, đuổi người vợ hiền lương ra khỏi nhà trong đêm đông lạnh giá, để rồi khi hắn bị kẻ thù hãm hại sa cơ lỡ bước, chính ả là kẻ đầu tiên cấu kết với gian nhân cuỗm sạch gia sản, bỏ mặc hắn chết rũ xương trong ngục tối hôi tanh!
Ký ức kinh hoàng của tiền kiếp ùa về như một cơn ác mộng đẫm máu làm cho lồng ngực Chúc Hợp co thắt lại, hô hấp nghẹn đắng, toàn thân nổi da gà từng chập vì một nỗi kinh hãi và ghê tởm vượt quá sức chịu đựng của con người. Ả rắn độc từng đẩy hắn vào cảnh tan cửa nát nhà, muôn đời vạn kiếp không thể siêu sinh ở kiếp trước, nay lại một lần nữa xuất hiện bằng xương bằng thịt ngay giữa cuộc đời thứ hai của hắn, lại còn dùng chính cái chiêu bài bán thân táng cha bẩn thỉu này để ôm chặt lấy người hắn trước cổng nhà vợ! Nhìn nụ cười ma mị ẩn chứa dã tâm độc địa đang cận kề trong gang tấc, Chúc Hợp rùng mình ớn lạnh đến tận tủy xương, trong đầu gầm lên một tiếng thét phẫn nộ cùng cực: kiếp này dù có phải thịt nát xương tan, hắn tuyệt đối không bao giờ để cho con ác quỷ này bước chân vào làm vấy bẩn mái ấm hạnh phúc của hắn và Tạ Phác thêm một lần nào nữa!
Sương sớm phương bắc còn chưa kịp tan trên những ngọn cờ thêu hình chim ưng no gió, tiếng tù và từ doanh trại nghĩa quân ngoài cửa ải Bình Thành đã rền vang từng hồi dồn dập, báo hiệu thời khắc đại quân chuẩn bị nhổ trại lên đường. Tướng quân Tần Chí Vũ đứng sừng sững giữa đại sảnh Tạ phủ, trên mình vẫn khoác bộ thiết giáp nặng nề còn vương vệt khói bụi chiến trường, ánh mắt sắc lạnh như lưỡi đao vừa tôi qua lửa đỏ quét qua từng khuôn mặt đang có mặt trong phòng. Bên ngoài sân lớn, hàng trăm chiến sĩ giáp trụ chỉnh tề đứng im phăng phắc, tay ghìm chặt ngọn giáo dài sáng loáng, hơi thở phả ra thành từng luồng khói trắng mỏng manh trong làn gió sớm lạnh buốt. Chiến dịch giải cứu Bình Thành và bắt sống công tử Vũ Văn Diệp của người Hồ đã toàn thắng, nhưng bước chân viễn chinh của người anh hùng phương bắc chưa thể dừng lại nơi thành trì nhỏ bé này. Phía tây bắc xa xôi, đại quân giặc ngoại bang vẫn đang rục rịch điều động thêm binh mã nhằm phục thù, các lộ nghĩa quân đồng minh cũng liên tục gửi thư cầu viện khẩn cấp, buộc Tần Chí Vũ phải dốc toàn lực đem quân tiếp viện để tạo thế chân vạc kìm chân lũ giặc cướp nước.
Trước giờ xuất phát, Tần Chí Vũ bước từng bước khoan thai lại gần bàn lớn, nơi có đặt một chiếc khay đồng phủ lụa điều đỏ thắm. Bàn tay to lớn phủ đầy vết chai sần vì cầm giáo gươm của vị tướng quân dứt khoát nâng tấm khăn điều lên, để lộ ra một khối hổ phù bằng đồng đen nhánh cùng một xấp thư lệnh dày cộp ghi chép rõ ràng danh sách binh lính phòng thủ, các điểm canh gác trọng yếu và kho tàng quân lương của toàn bộ Bình Thành. Tần Chí Vũ xoay người, hai tay bưng lấy khay đồng, nghiêm cẩn hướng về phía Tạ Thành đang đứng nghiêm nghị đợi lệnh, giọng nói trầm vang như tiếng chuông đồng rền rĩ khắp gian phòng khách rộng lớn. Vị tướng quân nói rằng Tạ lão trượng vốn là bậc danh sĩ đức cao vọng trọng của vùng biên ải, một lòng trung trinh vì nước vì dân, không chịu khuất phục trước uy vũ của ngoại bang; nay đại quân phải tiếp tục lên đường bình định loạn lạc, việc giao lại sự an nguy, rường cột và sinh mệnh của hàng vạn bá tánh Bình Thành cho Tạ gia chính là quyết định sáng suốt và an tâm nhất của nghĩa quân.
Nhận lấy khay đồng chứa hổ phù quyền lực tối cao từ tay Tần tướng quân, Tạ Thành không giấu nổi sự xúc động khiến đôi bờ mi bạc rung rinh, vội vàng khom lưng hành đại lễ tạ ơn tri ngộ. Tạ gia bao năm qua tuy giàu nứt đố đổ vách nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là hào phú địa phương, luôn phải dè chừng những đòn chèn ép hiểm độc từ bổn gia phương bắc và sự nhũng nhiễu tham tàn của quan lại hủ bại. Giờ đây, chỉ sau một đêm binh biến long trời lở đất, được nghĩa quân Tần gia trao trọn ấn tín binh phù, Tạ Thành đã chính thức trở thành người nắm giữ thực quyền quân sự và dân sự cao nhất tại mảnh đất biên cương màu mỡ này, địa vị và danh thế của chi thứ Tạ gia trong nháy mắt đã lên như diều gặp gió, không còn kẻ nào dám tùy tiện coi thường. Tần Chí Vũ nâng chén rượu tiễn biệt lên ngang ngực, mắt nhìn thẳng vào Tạ Thành và dặn dò thêm rằng mảnh đất Bình Thành này là cửa ngõ hiểm yếu nối liền nam bắc; giữ được thành trì này là giữ được huyết mạch tiếp tế lương thảo cho hàng vạn nghĩa quân nơi chiến tuyến, mong Tạ lão trượng dốc lòng chăm lo phòng thủ, chớ phụ lòng mong mỏi của ba quân tướng sĩ.
Nói đoạn, ánh mắt sắc sảo của Tần Chí Vũ bỗng chuyển dời sang Chúc Hợp đang đứng khép nép ở góc sảnh, nở một nụ cười tán thưởng hiếm hoi rồi cất giọng vang rền giữa chốn đông người. Vị tướng quân khen ngợi rằng vị hiền tế Chúc Hợp này tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng mưu lược thâm sâu, lại có lòng quả cảm phi thường; trận đánh vừa qua nếu không có Chúc hiền tế cơ trí bày kế bắt sống Vũ Văn Diệp thì đại quân chưa chắc đã có thể bức hàng giặc Hồ nhanh chóng và thu về hàng ngàn thỏi vàng cùng chiến mã quý giá như vậy. Tần tướng quân vỗ mạnh lên vai Chúc Hợp, cười bảo rằng người trẻ tuổi có tài thao lược như hắn nếu chịu gia nhập nghĩa quân theo ngài ra trận mạc thì ngày sau nhất định sẽ phong hầu bái tướng; nhưng ngài cũng biết rõ lòng hiếu thảo và sự gắn bó của hắn với Tạ gia, vì vậy việc hắn ở lại Bình Thành hiệp lực cùng nhạc phụ chèo chống đại cục chính là phúc phận của bá tánh nơi đây.
Lời khen ngợi bất ngờ của Tần tướng quân vang lên giữa chốn đông người làm cho Chúc Hợp trong lòng mừng rỡ khôn xiết, vội vàng bước lên chắp tay cung kính thi lễ tiễn biệt, nhưng hắn cũng nhanh mắt nhìn thấy sắc mặt của nhạc phụ Tạ Thành bên cạnh bỗng chốc tối sầm lại. Khi tiếng vó ngựa rầm rộ của đoàn quân Tần Chí Vũ khuất dần sau làn bụi mờ ngoài cổng thành phía bắc, bầu không khí trong đại sảnh Tạ phủ lập tức chùng xuống một cách ngột ngạt đến nghẹt thở. Các gia đinh, hộ vệ thấy vẻ mặt đằng đằng sát khí của lão gia nhà mình thì đều khôn ngoan cúi gằm mặt, rón rén lui dần ra ngoài hiên dọn dẹp bát đĩa, để lại một mình Chúc Hợp đứng trơ trọi giữa gian phòng rộng mênh mông. Tạ Thành đặt mạnh khay đồng đựng hổ phù lên mặt bàn gỗ lim vang lên một tiếng cạch chói tai, sau đó quay phắt người lại, hai mắt trợn trừng nhìn chằm chằm vào đứa con rể mà ông vừa gả con gái rượu cách đây không lâu.
Chúc Hợp thấy tình thế không ổn, vội vàng nở nụ cười tươi rói đầy vẻ lấy lòng, bước nhanh đến bên bàn trà rót một chén trà nóng bốc khói nghi ngút, hai tay nâng cao ngang mày dâng lên trước mặt Tạ Thành nhằm làm dịu cơn lôi đình đang nhen nhóm. Hắn cất giọng ngọt ngào xun xoe, nói rằng nhạc phụ đại nhân vất vả mấy ngày đêm lo toan thành sự, thân thể mệt mỏi, xin mời ngài uống ngụm trà nóng để ấm bụng rồi hãy nghỉ ngơi dưỡng sức. Nào ngờ Tạ Thành chẳng thèm đoái hoài đến chén trà ngon, ông vung tay gạt mạnh làm nước trà sóng sánh suýt đổ ra ngoài, phát ra một tiếng hừ lạnh buốt từ kẽ răng khiến da đầu Chúc Hợp tê rần. Tạ Thành chống hai tay ngang hông, bước giậm chân thình thịch vòng quanh Chúc Hợp như một vị tướng già đang chuẩn bị luận tội bại binh trên chiến trường, gằn từng tiếng đầy phẫn uất.
Ông lớn tiếng chất vấn Chúc Hợp rằng tên tiểu tử to gan này rốt cuộc trong đầu đang chứa đựng thứ gì, có phải sống quá êm ấm rồi nên muốn tìm đường chết hay không. Tạ Thành chỉ thẳng ngón tay run rẩy vào mặt con rể, vạch trần nỗi ấm ức bấy lâu nay rằng ngày trước ông đồng ý gả con gái bảo bối Tạ Phác cho hắn là vì nhìn trúng sự thật thà, an phận của một kẻ hàn sĩ; ông mua nhà cho hắn ở, chu cấp bạc vàng cho hắn tiêu, gạo ngon thịt béo nuôi hắn từng bữa, mục đích duy nhất là để khi xảy ra phong ba bão táp, hắn có thể đem Tạ Phác trốn thật xa đến nơi an toàn để bảo toàn tính mạng cho giọt máu duy nhất của Tạ gia. Ấy thế mà khi quân giặc vây hãm, tên ngốc này dám bỏ mặc thê tử ở chốn an toàn, tự mình dắt díu một lũ khất cái rách rưới tay cầm gậy gộc gạch đá xông vào sào huyệt kẻ thù đòi cứu mạng ông. Nếu hôm đó Tần tướng quân không đến kịp thời, chẳng phải cái mạng còm của hắn cùng đám ăn mày đã bị quân Hồ chém thành muôn mảnh, để lại con gái ông phải chịu cảnh góa bụa cô quạnh hay sao.
Tạ Thành càng nói càng giận, gương mặt đỏ bừng như gấc chín, lồng ngực phập phồng kịch liệt. Ông bảo rằng con người sống trên đời quý nhất là biết lượng sức mình, hắn chỉ là một tên thư sinh trói gà không chặt, hơi thở còn chưa thông, vậy mà dám học đòi người ta làm anh hùng hảo hán cứu nguy giải nạn; may mà ông trời có mắt run rủi Tần tướng quân đến kịp, bằng không chẳng những cứu không được ông mà còn nướng sạch cả mạng của mình. Con gái ông từ nhỏ đã được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa, chưa từng phải chịu một ngày cơ cực; nếu hắn xảy ra mệnh hệ nào thì ai sẽ chăm sóc cho nó suốt quãng đời còn lại. Mỗi lời nói của Tạ Thành tuy cay nghiệt, khó nghe, chứa đầy sự mắng nhiếc thậm tệ, nhưng thâm tâm Chúc Hợp hiểu rất rõ đó chính là sự lo lắng tột cùng của một người cha già cả đời chỉ biết sống vì con cái.
Chúc Hợp nhìn thấy nhạc phụ giận đến đỏ gay cả mặt, râu ria rung rinh từng đợt, trong lòng vừa buồn cười lại vừa dâng lên một dòng nước ấm áp vô bờ. Kiếp trước hắn sống trong nhung lụa giả tạo, chỉ biết chạy theo danh lợi và đàn bà phù phiếm, bên cạnh toàn những lời xu nịnh bỉ ổi rỗng tuếch, chưa từng có một người trưởng bối nào thật lòng vì tính mạng và tương lai của hắn mà nổi trận lôi đình như thế này. Hắn vội vàng hạ thấp chén trà, khom mình thật sâu bày tỏ lòng thành, giọng nói đầy vẻ ấm ức nhưng cũng không kém phần tha thiết. Chúc Hợp thưa rằng con người sống trên đời phải lấy chữ hiếu làm đầu, nhạc phụ đối với hắn ân sâu như biển, Tạ Phác lại là mạng sống là hơi thở của hắn; thử hỏi thấy cha của nương tử gặp nạn ngàn cân treo sợi tóc, làm sao một đấng nam nhi có thể thản nhiên khoanh tay đứng nhìn để rồi suốt đời sống trong nỗi hổ thẹn đớn hèn. Hơn nữa, việc bắt sống Vũ Văn Diệp tống tiền người Hồ cũng là để đổi lấy sự yên bình lâu dài cho Tạ gia, mong nhạc phụ đại nhân bớt giận mà tha thứ cho sự liều lĩnh của con rể.
Chúc Hợp còn khéo léo bộc bạch thêm rằng trước khi dẫn huynh đệ xông vào Tạ phủ, hắn đã sắp xếp ba đường lui chu toàn cho Tạ Phác, giao phó cho người hầu trung cẩn đưa nàng đến điền trang bí mật nằm sâu trong rừng trúc, có sẵn lương thảo dùng đủ trong nửa năm trời và có lối thoát hiểm dẫn thẳng ra ngoài chân núi; chỉ khi chắc chắn nương tử bình yên vô sự hắn mới dám đem thân mình đánh cược một phen. Hắn hiểu rõ bản lĩnh đánh đấm của mình không bằng ai, nhưng hắn có niềm tin vững chắc vào đạo nghĩa và sự trợ giúp của nghĩa quân Tần gia. Nghe con rể trình bày cặn kẽ từng đường đi nước bước, tính toán cẩn mật trước sau không sót một kẽ hở nào, sự bất mãn trong lòng Tạ Thành đã dần dần tan biến, thay vào đó là sự kinh ngạc trước trí tuệ già dặn và bản lĩnh phi thường của chàng trai trẻ. Thế nhưng thói cố chấp của bậc gia chủ vẫn khiến ông không chịu mở miệng tha thứ, chỉ biết trợn mắt khoát tay xua đuổi.
Tạ Thành hừ mũi một tiếng thật dài, phẩy tay đuổi Chúc Hợp như đuổi một con ruồi phiền toái, lạnh lùng tuyên bố rằng dù có nói ngả nói nghiêng thế nào thì tội bất tuân mệnh lệnh trưởng bối vẫn không thể xóa bỏ; từ nay về sau Chúc Hợp tốt nhất nên biến khỏi tầm mắt của ông, ngoan ngoãn quay về căn nhà cũ tồi tàn ngoài ngõ hẹp mà đóng cửa suy ngẫm, chớ có lởn vởn trước mặt làm ông ngứa mắt thêm bực mình. Nói xong, Tạ Thành quay lưng định bước vào nội viện, quyết tâm giữ vững thể diện của bậc gia chủ uy nghiêm để con rể không được đằng chân lân đằng đầu.
Đúng lúc thế cờ đang lâm vào bế tắc thì từ phía hành lang rợp bóng hoa mẫu đơn, một giọng nói thanh tao nhưng ẩn chứa uy lực sắc bén của bậc nữ chủ nhân vang lên xua tan đi bầu không khí ngột ngạt. Tạ phu nhân trong bộ y phục lụa màu lam trang nhã, búi tóc cài trâm ngọc bích sáng ngời, từ tốn bước vào sảnh đường với vẻ mặt nửa giận nửa cười. Vừa bước qua ngưỡng cửa, bà đã đưa mắt lườm trượng phu một cái sắc lẹm, khiến cho vị viên ngoại oai phong lẫm liệt vừa quát tháo vang trời bỗng chốc khựng lại, vẻ mặt gượng gạo cứng đờ. Tạ phu nhân bước đến đỡ lấy chén trà trên tay Chúc Hợp, dịu dàng bảo đứa con rể ngoan đứng thẳng người dậy rồi quay sang nhìn thẳng vào mặt Tạ Thành mà mắng khéo. Bà nói rằng lão gia ngày thường tự xưng là kẻ thông tuệ hơn người, nay được làm đại quan nắm giữ thành trì thì lại sinh tật làm mình làm mẩy với con cháu; người ta có con rể biết xả thân cứu mạng cha vợ thì mừng rỡ mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm, còn ông thì ở đây trợn mắt nghiến răng ra oai cho ai xem.
Tạ phu nhân tiếp tục vạch trần rằng ngày trước chính Tạ Thành là người lặn lội tìm kiếm, một mực chấm Chúc Hợp làm rể hiền vì thấy hắn có tâm tính lương thiện; nay con rể không những cứu được tính mạng của ông, lại còn hiến kế tống tiền bắt giặc đổi lấy hàng ngàn con chiến mã và vàng bạc cho nghĩa quân, làm rạng danh dòng tộc Tạ gia khắp vùng biên ải. Một người con rể vừa có hiếu vừa có tài như thế, ông không thưởng cho nó thì thôi, lại còn đòi đuổi nó đi cho khuất mắt, thử hỏi lương tâm của ông để ở đâu. Bà phân tích cặn kẽ rằng thời buổi loạn lạc, tìm được một người trượng phu thật lòng yêu thương con gái mình, dám vì nhà vợ mà coi cái chết nhẹ tựa lông hồng là điều phúc đức ba đời tu luyện mới có được; nếu Tạ Thành cứ tiếp tục hẹp hòi bắt bẻ thì bà sẽ dắt con gái và con rể dọn ra ngoài sống riêng, để ông một mình ôm lấy cái chức quan phòng thủ trong căn nhà trống trải này.
Bị thê tử liên tiếp tung ra những lý lẽ sắc bén chặn đứng mọi đường thoái lui, Tạ Thành đỏ bừng mặt, ấp úng mãi không thốt nên lời, chỉ biết lúng búng trong miệng rằng đàn bà con gái thì biết gì về việc quân cơ đại sự, ông làm vậy cũng chỉ muốn răn đe cho nó bớt cái tính liều lĩnh ngông cuồng mà thôi. Nhìn thấy phụ thân bị mẫu thân ép vào thế hạ phong, Tạ Phác đứng nép sau tấm rèm thêu hoa cúc khẽ mỉm cười e ấp, ánh mắt lấp lánh niềm vui nhìn về phía trượng phu của mình. Nàng khẽ vén rèm bước ra, đoan trang cúi chào phụ mẫu rồi dịu dàng khuyên giải đôi câu, tạo bậc thang êm ái cho phụ thân bước xuống. Tạ Thành thấy con gái rượu bước ra giải vây thì như vớ được cọc rào, lập tức ho khan vài tiếng thật to để lấy lại uy thế, sau đó xua tay tuyên bố rằng nể mặt phu nhân và nữ nhi cầu xin, ông tạm thời không truy cứu chuyện cũ nữa.
Không những thế, Tạ phu nhân còn dứt khoát quyết định luôn việc lớn: căn nhà cũ ngoài ngõ hẹp quá xa xôi ẩm thấp, nay Tạ Thành nắm giữ binh quyền, Tạ phủ cần thêm người tài cáng đáng sổ sách và dạy dỗ cho tiểu thiếu gia Tạ Kì; vì vậy vợ chồng Chúc Hợp và Tạ Phác phải lập tức dọn đồ về ở hẳn tại tiểu viện liền kề hoa viên phía đông Tạ phủ để tiện bề sớm tối chăm sóc lẫn nhau. Quyết định này của nhạc mẫu chẳng khác nào giải tỏa gánh nặng ngàn cân trong lòng Chúc Hợp, khiến hắn mừng rỡ đến mức suýt nhảy cẫng lên giữa đại sảnh. Việc dọn về ở tiểu viện sát cạnh Tạ phủ không chỉ giúp hắn có điều kiện bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Tạ Phác trước những biến cố khó lường thời loạn lạc, mà còn giúp hắn danh chính ngôn thuận bước vào trung tâm quyền lực của Bình Thành, trực tiếp phụ tá Tạ Thành trong việc củng cố thành phòng và phát triển dân sinh. Chúc Hợp vội vàng cùng Tạ Phác quỳ xuống tạ ơn nhạc mẫu đại nhân thấu tình đạt lý, trong khi Tạ Thành chỉ biết lắc đầu thở dài sườn sượt, ngoài mặt thì tỏ vẻ bực bội bất đắc dĩ nhưng nơi khóe mắt đã ánh lên sự an tâm và hài lòng kín đáo đối với sự sắp xếp chu toàn của phu nhân.
Ngay trong buổi chiều hôm ấy, tiểu viện phía đông Tạ phủ rộn rã tiếng bước chân và tiếng cười nói vui tươi của kẻ hầu người hạ phụ giúp dọn dẹp đồ đạc. Tiểu viện này vốn là nơi yên tĩnh nhất trong phủ, có giàn hoa tử đằng rủ bóng mát rượi bên bờ hiên, một hồ nước nhỏ nuôi cá chép đỏ cùng một gian thư phòng thoáng đãng ngập tràn ánh sáng tự nhiên. Tạ Phác tự tay sắp xếp từng chiếc gối thêu, trải lại tấm đệm êm ái trên giường ngủ, rồi cẩn thận đem những cuốn sách cổ quý giá của Chúc Hợp xếp ngay ngắn lên giá gỗ thơm mùi thông mới. Nàng mặc một chiếc áo lụa mỏng màu nguyệt bạch, mái tóc mây vấn lỏng cài một chiếc trâm bạc khắc hình hoa mai thanh nhã, nét mặt toát lên vẻ đằm thắm dịu dàng của một người vợ hiền thục đang chăm chút cho tổ ấm nhỏ của đời mình.
Chúc Hợp bước vào phòng, nhìn thấy bóng dáng mảnh mai duyên dáng của thê tử đang bận rộn bên bàn trà thì trái tim không khỏi rung động bồi hồi. Hắn nhẹ nhàng bước lại gần từ phía sau, đưa hai tay ôm lấy vòng eo thon thả của Tạ Phác, tựa cằm lên bờ vai gầy thơm ngát mùi hoa lài của nàng mà hít một hơi thật sâu. Tạ Phác khẽ giật mình nhưng nhận ra hơi ấm quen thuộc của phu quân liền thả lỏng người, nghiêng đầu mỉm cười dịu dàng trách yêu rằng chàng vừa từ ngoài về, mồ hôi còn chưa ráo sao không chịu ngồi uống chén trà mát mà lại thích quấn lấy người ta như đứa trẻ thế này. Chúc Hợp siết nhẹ vòng tay, ghé sát tai nàng thì thầm rằng có được một người vợ hiền đức như nàng, lại được sống những ngày tháng bình yên êm ấm bên nhau thế này thì dù có phải chịu thêm trăm ngàn nỗi mệt nhọc bên ngoài hắn cũng cam lòng; kiếp này hắn chỉ mong sao mỗi ngày mở mắt ra đều được nhìn thấy nụ cười của nàng, cùng nàng ăn cơm, cùng nàng ngắm trăng cho đến khi đầu bạc răng long.
Lời thề thốt chân thành mộc mạc ấy khiến đôi má Tạ Phác ửng hồng như ráng chiều, ánh mắt ngập tràn niềm tin yêu son sắt. Trải qua những ngày kinh hoàng bị quân giặc vây hãm, chứng kiến phu quân vì gia đình nàng mà không tiếc mạng sống xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, mọi sự phòng bị hay nghi ngại ban đầu trong lòng nàng đã hoàn toàn tan biến, thay vào đó là sự gắn kết máu thịt thiêng liêng của đạo phu thê. Nàng xoay người lại, đưa bàn tay mềm mại khẽ vuốt ve khuôn mặt phong trần của Chúc Hợp, căn dặn hắn rằng thời thế nay tuy đã tạm yên nhưng lòng người ngoài kia còn lắm nỗi hiểm sâu; phụ thân tính tình nóng nảy cương trực, chàng ở bên phụ tá nhất định phải cẩn trọng giữ gìn, đừng bao giờ tự đặt mình vào chốn hiểm nguy thêm một lần nào nữa, bởi nếu chàng xảy ra chuyện gì thì nàng cũng chẳng còn thiết tha sống trên cõi đời này.
Nhìn sâu vào đôi mắt long lanh chứa chan tình cảm của thê tử, Chúc Hợp gật đầu thật mạnh, khắc sâu từng lời dặn dò của nàng vào tận đáy tâm can. Hắn biết rằng sự bình yên quý giá này không phải tự nhiên mà có, mà là thành quả của bao nhiêu mưu lược, máu và nước mắt đã đổ ra. Để bảo vệ nụ cười này của Tạ Phác, hắn không thể chỉ an phận làm một kẻ hưởng lạc trong chốn hậu viện, mà phải nhanh chóng biến Bình Thành thành một pháo đài bất khả xâm phạm, một vùng đất trù phú ấm no đủ sức chống chọi với mọi cơn bão táp phong ba sắp tới của thời cuộc.
Tối hôm đó, sau khi dùng xong bữa cơm gia đình đầm ấm rộn rã tiếng cười, Chúc Hợp bắt đầu đảm nhận nhiệm vụ kèm cặp việc học cho cậu em vợ Tạ Kì tại thư phòng tiểu viện. Tạ Kì năm nay mười ba tuổi, vốn là con trai độc nhất của Tạ Thành nên từ nhỏ đã được nuông chiều, tính tình nghịch ngợm, bướng bỉnh và rất sợ việc đọc sách thánh hiền. Trước đây mỗi lần bị phụ thân ép ngồi vào bàn học, cậu bé đều tìm đủ mọi cách trốn tránh, hoặc gật gù ngủ gục khiến Tạ Thành phải vung roi mây thị uy nhưng đâu lại vào đấy. Khi biết tỷ phu Chúc Hợp sẽ là người trực tiếp dạy dỗ mình, Tạ Kì ban đầu tỏ vẻ không phục, khoanh tay trước ngực nhìn Chúc Hợp với ánh mắt dò xét, hỏi rằng tỷ phu trói gà không chặt thì biết gì ngoài dăm ba câu kinh sử sáo rỗng để dạy cho cậu.
Chúc Hợp không hề giận dữ mà chỉ mỉm cười điềm đạm, hắn cất quyển sách luận ngữ sang một bên rồi trải ra bàn một tấm bản đồ địa hình vẽ chi tiết sông núi, đường xá và các thôn làng xung quanh Bình Thành. Bằng giọng kể chuyện lôi cuốn, trầm ấm, Chúc Hợp bắt đầu phân tích cho Tạ Kì nghe về thế trận phòng thủ trong trận chiến vừa qua, chỉ ra từng sơ hở chết người trong cách bày binh bố trận của tướng giặc Vũ Văn Diệp, và giải thích vì sao việc nắm bắt được tâm lý sợ chết của kẻ địch lại có thể giúp một nhóm khất cái tay không tấc sắt bắt sống được tên quý tộc kiêu ngạo. Hắn dạy cho cậu bé hiểu rằng học sách thánh hiền không phải để học vẹt thi cử làm quan hưởng bổng lộc, mà là để thấu hiểu lòng người, rèn luyện mưu lược, dùng trí tuệ để bảo vệ gia đình và bá tánh khi lâm nguy.
Những câu chuyện người thật việc thật đầy kịch tính cùng những kiến thức quân sự sâu rộng, mới mẻ của Chúc Hợp đã hoàn toàn chinh phục được cậu bé bướng bỉnh. Đôi mắt Tạ Kì sáng rực lên vì thán phục, chăm chú lắng nghe từng lời của tỷ phu mà không hề chớp mắt, liên tục đặt ra những câu hỏi thông minh về cách quản lý kho lương và huấn luyện quân sĩ. Từ đêm hôm ấy, Tạ Kì hoàn toàn thay đổi tâm tính, mỗi ngày đều tự giác đến tiểu viện học tập chăm chỉ, coi Chúc Hợp như một người thầy, một người huynh trưởng đáng kính nhất trong đời; điều này khiến cho Tạ Thành và Tạ phu nhân mừng rỡ khôn xiết, mối thiện cảm đối với Chúc Hợp trong lòng nhạc phụ lại càng tăng lên gấp bội phần.
Sáng hôm sau, khi tiếng gà gáy đầu tiên vừa điểm canh năm, Chúc Hợp đã chỉnh đốn y phục gọn gàng, cùng nhạc phụ Tạ Thành bắt tay vào công cuộc chấn hưng toàn diện thành trì. Việc đầu tiên và cấp bách nhất chính là tổ chức lại hệ thống trị an và phòng thủ. Nhờ sự tiến cử nhiệt tình của Chúc Hợp, gã thủ lĩnh khất cái Mã Đại cùng hàng trăm huynh đệ ăn mày từng đồng cam cộng khổ đã chính thức được Tạ Thành thu nạp, xóa bỏ thân phận lưu dân rách rưới để trở thành lực lượng tuần tra thành trì nòng cốt. Mã Đại khoác lên mình bộ võ phục bằng vải thô nhuộm chàm chắc chắn, hông đeo thanh trường đao sáng loáng, khuôn mặt rạng rỡ đầy vẻ tự hào dẫn đầu đội ngũ đi tuần tra khắp các nẻo đường ngõ hẻm. Những kẻ từng lang thang đầu đường xó chợ nay có được cơm ăn áo mặc đàng hoàng, lại được giao trọng trách bảo vệ quê hương nên ai nấy đều dốc hết tâm lực làm việc, nhanh chóng quét sạch các băng nhóm trộm cắp, lưu manh chuyên đục nước béo cò, lập lại trật tự nghiêm minh cho toàn thành.
Tiếp đó, Chúc Hợp hiến kế cho Tạ Thành mở rộng kho lương thực dự trữ, trích một phần bạc vàng tống tiền thu được từ người Hồ để cứu tế khẩn cấp cho các gia đình bị tàn phá nhà cửa sau trận chiến. Hắn cho dán cáo thị khắp bốn cổng thành, tuyên bố chính sách giảm một nửa thuế môn bài cho các thương nhân buôn bán lương thực, tơ lụa và muối, đồng thời miễn thuế nông nghiệp trong vòng hai năm cho những người tha hương chịu quay về khai khẩn ruộng hoang quanh vùng phụ cận. Chính sách khoan thư sức dân đầy nhân đạo ấy nhanh chóng lan truyền đi khắp nơi như làn gió xuân ấm áp thổi bùng lên sức sống mới. Chỉ trong vòng chưa đầy một tháng, hàng ngàn hộ dân tị nạn trước đây chạy trốn loạn lạc đã nô nức dắt díu nhau quay về Bình Thành dựng lại nhà cửa, tiếng cày cuốc lại vang lên rộn rã trên những cánh đồng màu mỡ ven sông.
Để kiểm soát chặt chẽ việc lưu thông hàng hóa và ngăn chặn tình trạng đầu cơ trục lợi, Chúc Hợp cùng Mã Đại đích thân đi thị sát từng khu chợ. Có một buổi trưa nọ, tại phố lương thực phía nam, một tên chủ hiệu buôn lớn cậy có người quen làm việc trong nha môn cũ đã cố tình găm giữ hàng trăm bao gạo trắng trong kho kín, không chịu đem ra bán mà lại tung tin đồn thất thiệt rằng quân Hồ sắp tràn xuống để ép giá gạo tăng vọt lên gấp ba lần ngày thường. Dân nghèo xúm quanh cửa hiệu khóc lóc van xin mua từng bát gạo cầm hơi nhưng bị tên chủ quán xua đuổi thậm tệ. Nhận được tin báo từ tai mắt của Mã Đại, Chúc Hợp lập tức dẫn đội tuần tra ập đến phong tỏa toàn bộ hiệu buôn. Trước mặt hàng trăm bá tánh phẫn nộ, Chúc Hợp bình tĩnh cho binh lính mở toang cửa kho, lôi toàn bộ số gạo tích trữ ra ngoài ánh sáng mặt trời, lớn tiếng vạch trần âm mưu làm giàu trên xương máu đồng bào của tên gian thương.
Hắn viện dẫn luật lệ quân quản thời chiến, tuyên phạt tên chủ tiệm một ngàn lượng bạc sung vào quỹ cứu tế, đồng thời ép hiệu buôn phải mở bán toàn bộ số gạo trong kho theo đúng mức giá niêm yết ban đầu cho dân nghèo. Biện pháp xử lý vừa cứng rắn vừa thấu tình đạt lý ấy đã dập tắt ngay từ trong trứng nước ngọn lửa đầu cơ bất chính, làm cho lòng dân Bình Thành vô cùng nể phục và tin tưởng vào sự công minh của Tạ gia. Khu chợ trung tâm Bình Thành từng có lúc vắng tanh hoang tàn, nay đã nhanh chóng hồi sinh và trở nên sầm uất náo nhiệt gấp bội phần so với trước đây. Từ sáng sớm tinh mơ, tiếng lục lạc leng keng của những đoàn la ngựa thồ hàng từ phương nam mang theo trà ngon, gạo trắng, đồ gốm sứ đã tấp nập nối đuôi nhau tiến qua cổng thành. Tiếng rao hàng lảnh lót của các bà bán bánh hấp nóng hổi, tiếng búa đập chan chát vào đe thép đỏ rực từ các lò rèn vũ khí và nông cụ, tiếng mặc cả râm ran của người mua kẻ bán hòa quyện vào nhau tạo nên một bản hòa ca dân sinh vô cùng sống động. Trên nét mặt của từng người dân nghèo, nỗi sợ hãi kinh hoàng về lưỡi gươm man rợ của giặc Hồ đã dần dần được thay thế bằng ánh mắt rạng ngời hy vọng vào một cuộc sống no đủ, thái bình.
Chúc Hợp trong những ngày này bận rộn đến mức chân không chạm đất. Buổi sáng, hắn theo Tạ Thành lên mặt thành kiểm tra việc tu bổ các đoạn tường thành bị nứt vỡ, đốc thúc việc tích trữ đá tảng, dầu sôi và tên bắn tại các tháp canh; buổi trưa, hắn đến thư phòng Tạ phủ kiên nhẫn giảng giải thi thư, phân tích đạo lý trị quốc an dân cho cậu em vợ Tạ Kì; buổi chiều, hắn lại cùng Mã Đại đi dạo quanh các phường buôn để nắm bắt tình hình giá cả thị trường và lắng nghe tâm tư nguyện vọng của bá tánh. Sự cơ trí, nhã nhặn và phong thái làm việc mẫn cán của Chúc Hợp không chỉ khiến cho toàn thể gia nhân trong Tạ phủ một lòng kính phục, mà ngay cả Tạ Thành mỗi khi đi đâu nghe dân chúng hết lời khen ngợi con rể cũng cảm thấy mát lòng mát dạ, đi đứng ưỡn ngực đầy vẻ tự hào.
Thế nhưng, giữa lúc ánh sáng thái bình đang chan hòa khắp Bình Thành thì tại một tòa phủ đệ thâm nghiêm bề thế ở phương bắc xa xôi, một bầu không khí u ám, ngột ngạt và nồng nặc mùi tử khí lại đang bao trùm lấy bổn gia họ Tạ. Trong gian mật thất tối tăm chỉ le lói vài ngọn nến le lói, Tạ Nhượng đang ngồi gục trên chiếc ghế bành bọc da hổ, khuôn mặt già nua xám ngoét như người chết trôi, hai bàn tay gầy guộc nắm chặt lấy tay vịn ghế đến mức các khớp xương kêu răng rắc. Kế hoạch bán đứng dòng tộc, bắt tay với người Hồ để trục lợi của lão đã hoàn toàn sụp đổ sau thảm bại nhục nhã của Vũ Văn Diệp. Để chuộc mạng cho đứa con trai cưng của Tây giao Đại Vương, người Hồ đã phải cắn răng nộp cho nghĩa quân một khoản tiền chuộc khổng lồ, khiến bọn chúng tức giận đến điên cuồng và trút toàn bộ cơn thịnh nộ lôi đình lên đầu kẻ trung gian là lão.
Tạ Nhượng không những bị tước đoạt toàn bộ các đặc quyền buôn bán muối và sắt béo bở với các bộ tộc phương bắc, mà còn bị tướng lĩnh giặc Hồ đe dọa sẽ tru di cả nhà nếu không bồi thường lại những tổn thất nặng nề mà bọn chúng đã phải gánh chịu. Nguồn tiền tài cạn kiệt, uy danh của bổn gia trong mắt các thế lực xung quanh tụt dốc không phanh, lại nghe tin chi thứ của Tạ Thành ở Bình Thành nay nắm giữ toàn bộ binh quyền thành trì, được nghĩa quân phong làm đại quan, danh tiếng vang dội bốn phương thì Tạ Nhượng tức tối đến mức hộc cả máu mồm. Nỗi ghen ghét và hận thù điên cuồng như ngọn lửa độc thiêu đốt tâm can lão ngày đêm không dứt.
Trong cơn tuyệt vọng và căm hận tột cùng, Tạ Nhượng triệu tập một cuộc họp bí mật gồm những trưởng lão và tay chân tâm phúc nhất của bổn gia. Một lão già trong tộc cất giọng lo sợ bảo rằng chi thứ Tạ Thành nay như hổ thêm cánh, lại có nghĩa quân Tần Chí Vũ chống lưng phía sau, nếu chúng ta tiếp tục đối đầu e rằng sẽ chuốc lấy họa diệt môn; chi bằng cử sứ giả mang theo lễ vật sang Bình Thành tạ tội, xin nối lại tình xưa nghĩa cũ để cùng hưởng bổng lộc. Nghe thấy lời bàn lùi ấy, Tạ Nhượng nổi giận đập vỡ tan chiếc chén ngọc trên tay, gầm thét quát mắng lão trưởng lão kia là kẻ nhu nhược hèn nhát; lão nghiến răng tuyên bố rằng mối thù mất hết tiền đồ và danh dự này không đội trời chung, lão thà chết chứ quyết không bao giờ chịu cúi đầu trước đứa em họ Tạ Thành mà lão từng coi như cỏ rác.
Qua mạng lưới tai mắt do thám bí mật gửi về, Tạ Nhượng nhanh chóng phát hiện ra rằng kẻ đứng sau toàn bộ các biến cố long trời lở đất ấy, kẻ đã bày mưu cho Tần Chí Vũ bắt sống Vũ Văn Diệp rồi giật dây tống tiền trắng trợn, không phải là Tạ Thành già nua cổ hủ, mà chính là tên con rể hàn môn xuất thân hèn kém có tên Chúc Hợp. Lão đập bàn chửi rủa ầm ĩ, không ngờ một con kiến hôi mà lão từng chẳng thèm liếc mắt nhìn lại có thể phá tan mưu đồ to lớn của lão, đẩy lão vào bước đường cùng nhục nhã thế này. Đối mặt với một Tạ Thành đang nắm giữ hàng ngàn tinh binh trong tay, Tạ Nhượng biết rõ việc dùng vũ lực tấn công hay gửi thư đe dọa như trước đây hoàn toàn chỉ là trò cười tự rước lấy họa diệt thân. Muốn triệt hạ chi thứ Tạ gia, muốn lấy lại những gì đã mất, lão bắt buộc phải dùng đến thủ đoạn thâm độc nhất: đánh vào điểm yếu chí mạng của kẻ thù từ bên trong.
Nghĩ đến đây, đôi mắt ti hí của Tạ Nhượng bỗng lóe lên những tia sáng xanh lè đầy nham hiểm như loài rắn độc trong hang tối. Lão khẽ vỗ tay ba tiếng giòn giã vào khoảng không gian tĩnh mịch. Tấm rèm nhung đen sau lưng lão khẽ lay động, một bóng người yểu điệu thướt tha từ từ bước ra ngoài ánh nến mờ ảo. Đó là một tuyệt sắc giai nhân tuổi chừng mười tám đôi mươi, mang tên Hinh Nhi. Nàng sở hữu một gương mặt trái xoan thanh tú đến mê hồn, đôi mày lá liễu thanh mảnh uốn cong trên đôi mắt phượng ướt rượt đa tình, làn da trắng muốt không tì vết như ngọc thạch ngâm trong sữa dê, cùng đôi môi son căng mọng đỏ thắm như cánh hoa đào vừa hé nở trong sương sớm. Dưới lớp xiêm y lụa mỏng manh, từng đường cong uốn lượn mềm mại trên thân hình nàng như ẩn chứa một sức quyến rũ ma mị chết người, đủ sức làm cho bất kỳ đấng nam nhi gang thép nào cũng phải ngã quỵ đầu hàng.
Hinh Nhi vốn là một con cờ bí mật được Tạ Nhượng bí mật thu nhận và huấn luyện công phu suốt nhiều năm trời trong bóng tối. Nàng không chỉ tinh thông cầm kỳ thi họa, mà còn nắm vững mọi ngón nghề mê hoặc lòng người, từ ánh mắt đưa tình lúng liếng, giọng nói nỉ non ngọt như rót mật vào tai, cho đến tài nghệ giả vờ ngây thơ mềm yếu để khơi dậy lòng trắc ẩn của đàn ông. Tạ Nhượng nhìn chăm chú vào con bài tẩy đắc lực của mình, cất giọng khàn khục ghê rợn ra lệnh rằng nhiệm vụ lần này của nàng là phải cải trang thành một nữ tử bần hàn lưu lạc, tìm mọi cách thâm nhập vào nội bộ Tạ phủ, quyến rũ cho bằng được tên tiểu tử Chúc Hợp. Bằng mọi giá, nàng phải biến hắn thành kẻ say đắm trong nhan sắc của nàng, ly gián tình cảm vợ chồng giữa hắn và Tạ Phác, gieo rắc mối bất hòa sâu sắc giữa con rể và nhạc phụ Tạ Thành, đồng thời bí mật thu thập sơ đồ bố phòng thành trì để chuẩn bị cho kế hoạch phản công của bổn gia.
Hinh Nhi khẽ nghiêng mình hành lễ, khóe môi hé nở một nụ cười nửa miệng đầy vẻ tự phụ và tàn nhẫn, giọng nói êm ái như tiếng gió thoảng qua cành liễu thưa rằng lão gia cứ yên tâm, trên đời này chưa từng có gã đàn ông nào nhìn thấy dung nhan của nàng mà có thể giữ vững được tâm trí; một tên hàn sĩ nghèo kiết xác vừa mới bước chân vào chốn vinh hoa như Chúc Hợp thì việc biến hắn thành con rối ngoan ngoãn trong tay nàng chỉ dễ dàng như trở bàn tay. Ngay trong đêm đó, một cỗ xe ngựa bí mật chở Hinh Nhi cùng những tay chân thân tín của Tạ Nhượng đã lặng lẽ rời khỏi phương bắc, men theo những con đường mòn hiểm trở tiến thẳng về hướng Bình Thành, mang theo một âm mưu đen tối rắp tâm phá nát sự bình yên vừa chớm nở của đôi vợ chồng trẻ.
Những ngày cuối thu ở Bình Thành, tiết trời trở nên hanh hao và se lạnh hơn khi những đợt gió bấc đầu mùa bắt đầu thổi qua các rặng liễu khẳng khiu bên bờ thành. Chiều hôm ấy, sau khi cùng các viên lại kiểm tra kỹ lưỡng sổ sách xuất nhập của kho lương thực dự trữ và phân phát áo ấm cho đội tuần tra của Mã Đại, Chúc Hợp cảm thấy toàn thân mệt mỏi nhưng tinh thần lại vô cùng phấn chấn. Nghĩ đến việc sắp được trở về tiểu viện ấm cúng, thưởng thức bữa cơm chiều nóng sốt do chính tay Tạ Phác nấu và cùng nàng ngồi bên bếp lửa sưởi ấm, bước chân của hắn bất giác trở nên nhanh nhẹn và nhẹ nhõm hơn hẳn. Hắn chỉ mang theo hai gia đinh trẻ tuổi của Tạ phủ đi phía sau để xách vài gói thuốc bổ và xấp vải vóc mà Tạ phu nhân nhờ mua giúp.
Khi đi đến ngã tư đường lớn, chỉ còn cách con hẻm dẫn vào cổng hông Tạ phủ chừng hơn một trăm bước chân, Chúc Hợp bỗng nghe thấy phía trước truyền đến những tiếng khóc lóc thảm thiết, ai oán của một nữ tử, hòa lẫn với tiếng xì xào bàn tán xôn xao của một đám đông đang tụ tập ken đặc cả góc phố. Tính tò mò nổi lên, lại thêm trách nhiệm của một người phụ tá thành sự không muốn xảy ra chuyện ẩu đả hay náo loạn nơi công cộng, Chúc Hợp dừng bước ngẩng đầu nhìn qua kẽ hở của đám người. Hắn thấy giữa khoảng đất trống trước một quán trà cũ, có đặt một chiếc chiếu rơm rách nát, bên trên đắp một tấm vải trắng đã ố vàng phủ kín một thân hình nằm bất động, rõ ràng là thi thể của một người vừa mới qua đời.
Quỳ sụp bên cạnh manh chiếu rách ấy là một thiếu nữ mang trên mình bộ tang phục bằng vải sô thô ráp, đầu chít khăn trắng, trên mái tóc đen nhánh có cắm một cành cỏ khô nhỏ nhắn – dấu hiệu truyền thống báo hiệu cho bàn dân thiên hạ biết rằng nàng đang muốn bán thân lấy tiền chôn cất người thân. Thiếu nữ ấy cúi gập người sát đất, hai bờ vai gầy rung lên bần bật theo từng tiếng nấc nghẹn ngào xé lòng, giọng khóc nỉ non như tiếng ve sầu than thở giữa đêm đông giá buốt. Nàng vừa khóc vừa cất tiếng van lơn thảm thiết, kể lể rằng hai cha con nàng là dân bần hàn lưu lạc từ phương bắc chạy loạn đến đây, chẳng may giữa đường người cha lâm bệnh hiểm nghèo qua đời, trong túi không còn lấy một đồng xu dính túi để mua cỗ ván quan tài chôn cất đấng sinh thành; nay nàng tình nguyện bán thân làm nô tỳ, làm trâu làm ngựa cho bất kỳ vị ân nhân nào có lòng hảo tâm bỏ ra năm mươi lượng bạc giúp nàng an táng người cha già nơi đất khách quê người.
Tiếng khóc thương tâm cùng câu chuyện bi đát ấy nhanh chóng thu hút hàng trăm người qua đường hiếu kỳ vây kín thành nhiều vòng trong ngoài. Đám đàn ông trong chợ nhìn thấy thiếu nữ tuy mặc áo sô gai nhưng dáng người yểu điệu mềm mại như cành liễu trước gió thì ai nấy đều nuốt nước bọt ừng ực, đôi mắt sáng rực lên thèm thuồng. Thế nhưng khi nghe đến cái giá năm mươi lượng bạc trắng – một số tiền quá lớn đủ để một gia đình bình dân sống sung túc suốt cả năm trời – thì tất cả đều lắc đầu lè lưỡi lùi lại phía sau. Ai cũng xót thương cho số phận của nàng nhưng chẳng có ai dại dột mở hầu bao cứu giúp, chỉ biết đứng quanh chỉ trỏ bàn tán, góp vào những lời thương hại sáo rỗng vô thưởng vô phạt.
Chúc Hợp đứng ngoài rìa đám đông, khẽ thở dài một tiếng thương cảm cho thói đời đen bạc thời loạn lạc. Hắn vốn dĩ không phải là kẻ vô tình, nhưng hắn hiểu rõ thân phận của mình hiện tại: hắn chỉ là một con rể nương nhờ bóng Tạ gia, tiền bạc trong nhà đều do Tạ Phác quản lý chu toàn; hơn nữa giữa thanh thiên bạch nhật, việc một nam tử trẻ tuổi bỏ tiền mua một nữ nhân xa lạ về nhà chắc chắn sẽ gây ra những lời đàm tiếu thị phi không đáng có, làm tổn thương đến tình cảm vợ chồng son sắt mà hắn đang hết lòng vun đắp. Nghĩ vậy, Chúc Hợp quyết định giữ mình trong sạch, xoay người ra hiệu cho hai gia đinh đi theo, định bụng lặng lẽ lách qua rìa đám đông để rảo bước về nhà ăn cơm tối cùng thê tử.
Thế nhưng, số phận dường như đã được an bài bởi những bàn tay mưu mô đen tối. Ngay khoảnh khắc Chúc Hợp vừa quay lưng cất bước, thiếu nữ đang quỳ sụp dưới đất bỗng ngước đôi mắt đẫm lệ lên. Ánh mắt phượng sắc sảo của nàng đảo qua đám đông và lập tức bắt trúng vóc dáng cao ráo, tuấn tú cùng bộ y phục bằng lụa gấm màu xanh trúc sang trọng của Chúc Hợp, nhất là chiếc ngọc bội khắc hoa văn độc quyền của Tạ gia đang đung đưa bên hông hắn. Một tia sáng tinh quái và quyết liệt lóe lên trong đáy mắt nàng ta trong tích tắc rồi nhanh chóng biến mất sau màn nước mắt giả tạo.
Không một chút do dự, thiếu nữ bán thân táng cha bỗng nhiên vùng dậy khỏi manh chiếu rách. Với một sự nhanh nhẹn đến khó tin, nàng ta xô dạt những người đi đường đang đứng chắn lối, vừa khóc vừa lao thẳng qua khoảng cách hơn mười bước chân như một cơn gió lốc. Trước sự kinh ngạc tột độ của Chúc Hợp và hai người hầu, nàng ta không hề ngập ngừng mà quỳ sụp ngay dưới chân Chúc Hợp, hai cánh tay trắng muốt như ngó sen vươn ra ôm chặt cứng lấy bắp chân của hắn, đầu gục sát vào đầu gối hắn mà gào khóc thảm thiết như thể vừa tìm thấy chiếc phao cứu sinh duy nhất của cuộc đời mình.
Hành động bất ngờ và táo tợn ấy làm cho Chúc Hợp chết lặng tại chỗ, hai mắt trợn tròn, mồm há hốc mà không thốt ra được nửa lời. Hắn cảm thấy sống lưng mình lạnh toát như vừa bị một gáo nước đá dội thẳng từ đỉnh đầu xuống gót chân. Hắn thề với trời đất rằng từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến nay, hay đúng hơn là từ khi sống lại ở kiếp này, hắn chưa từng nhìn thấy mặt mũi cô ả này lấy một lần, càng không có bất kỳ mối liên hệ nào với nàng ta; cớ sao giữa chốn ba quân thiên hạ đông đúc thế này, nàng ta lại bỏ qua bao nhiêu phú thương giàu có xung quanh để lao thẳng đến ôm chặt lấy chân hắn mà khóc lóc như góa phụ khóc chồng thế này.
Thiếu nữ không để cho Chúc Hợp kịp định thần, nàng ngẩng khuôn mặt đẫm lệ lên nhìn thẳng vào mắt hắn, từng giọt nước mắt trong veo như hạt ngọc lăn dài trên đôi gò má ửng hồng kiều diễm. Giọng nói của nàng cất lên nghẹn ngào, nức nở từng hồi làm rung động lòng người, van xin công tử rủ lòng thương xót số phận hẩm hiu của nàng; nàng nhìn thấy công tử phong thái đường hoàng, diện mạo nhân từ phúc hậu, ắt hẳn là bậc đại trượng phu có tấm lòng bồ tát cứu khổ cứu nạn; xin công tử hãy rủ lòng từ bi ban cho nàng năm mươi lượng bạc để lo tròn đạo hiếu chôn cất phụ thân, từ nay về sau nàng nguyện trọn đời làm thân trâu ngựa, làm tỳ thiếp theo hầu hạ nâng khăn sửa túi cho công tử, dù phải chịu cảnh băm vằm xẻ thịt cũng không một lời oán thán.
Khung cảnh xúc động nghẹn ngào ấy lập tức làm bùng nổ sự đồng cảm mù quáng của đám đông vây xem xung quanh. Những người qua đường vốn chẳng chịu bỏ ra một xu một cắc nào để giúp đỡ nay lại tìm thấy một đối tượng hoàn hảo để thỏa mãn thói đạo đức giả của mình. Hàng chục tiếng xì xào, bàn tán rồi biến thành những tiếng giục giã, thúc ép vang lên không ngớt từ bốn phương tám hướng. Có kẻ bảo rằng vị công tử này ăn mặc gấm vóc sang trọng, nhìn chiếc ngọc bội bên hông chắc chắn là người của Tạ gia giàu nứt đố đổ vách, năm mươi lượng bạc đối với hắn chỉ như một hạt cát giữa sa mạc, tội gì không bỏ ra làm phúc cứu người. Có kẻ lại chêm vào với giọng điệu đầy vẻ ghen tị lẫn mỉa mai rằng cô nương này nhan sắc như tiên giáng trần, hoa nhường nguyệt thẹn, rước được một tuyệt sắc giai nhân như thế về phòng làm tiểu thiếp thì có phúc ba đời, sao còn đứng ngây ra đó mà không mau mau gật đầu đồng ý.
Bị hàng trăm con mắt xoi mói chỉ trỏ và những lời phán xét vô căn cứ bủa vây tứ phía, Chúc Hợp cảm thấy lồng ngực mình tức tối như muốn nổ tung. Trải qua bài học xương máu đắt giá của tiền kiếp, khi hắn từng vì ham mê nhan sắc phù phiếm của lũ tỳ thiếp độc địa mà làm tan nát gia can, phụ bạc người vợ tào khang Tạ Phác để rồi chuốc lấy cái chết thảm khốc không nơi chôn cất, Chúc Hợp nay đã hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi thứ cạm bẫy sắc dục trên đời. Hắn hiểu rất rõ rằng hoa càng đẹp thì gai càng độc, một nữ nhân xinh đẹp nghiêng nước nghiêng thành bỗng dưng từ trên trời rơi xuống quỳ lạy xin theo hắn về làm thiếp chắc chắn không bao giờ là một sự tình cờ may mắn, mà là một cái bẫy chết người được giăng ra vô cùng tinh vi.
Kìm nén cơn giận dữ đang bốc hỏa trong lòng, Chúc Hợp hít một hơi thật sâu, cúi đầu nhìn thẳng vào thiếu nữ đang bám chặt lấy chân mình, cất giọng lạnh lùng và dứt khoát không chút do dự. Hắn nói lớn cho cả bàn dân thiên hạ cùng nghe rằng cô nương này đã nhận nhầm người rồi; nhà hắn nghèo rớt mồng tơi, cơm ăn ba bữa còn phải lo từng bữa, chiếc áo gấm đang mặc cùng chiếc ngọc bội này đều là đồ của nhạc gia cho mượn để lo việc công vụ; hắn đã có thê tử kết tóc ở nhà, hai vợ chồng tình sâu nghĩa nặng, gia quy nghiêm cẩn tuyệt đối không bao giờ có chuyện nạp thiếp hay mua thêm nô tỳ; cô nương nếu thật lòng muốn chôn cha thì hãy đi tìm những bậc đại phú hào khác mà cầu xin, chớ có bám lấy hắn mà làm lỡ dở việc lớn.
Dứt lời, Chúc Hợp nhấc chân định bước đi để thoát khỏi vòng vây phiền toái. Thế nhưng, thiếu nữ kia đâu dễ dàng để con mồi béo bở tuột khỏi tay như vậy. Thấy Chúc Hợp từ chối thẳng thừng, nàng ta chẳng những không buông tay mà hai cánh tay càng siết chặt lấy ống quần hắn như gọng kìm bằng thép, cả thân hình dán sát vào chân hắn, tiếng khóc than lại càng trở nên ai oán, thảm thiết hơn gấp bội. Nàng vừa khóc vừa đập đầu xuống đất van xin công tử đừng bỏ rơi nàng, nàng đã quỳ ở đây suốt từ sáng đến chiều trong giá rét đói khát, nếu công tử không cứu thì nàng chỉ còn nước đâm đầu vào tường chết theo phụ thân cho tròn đạo hiếu.
Đám đông xung quanh thấy cảnh tượng mỹ nhân quỳ lạy đau đớn như vậy thì bắt đầu quay sang hùa nhau trách móc Chúc Hợp là kẻ lòng lang dạ thú, thấy chết không cứu, không biết thương hoa tiếc ngọc. Tiếng xì xào phẫn nộ ngày càng dâng cao khiến bầu không khí trở nên vô cùng căng thẳng. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc ấy, Chúc Hợp bỗng nheo mắt lại, cúi sát người xuống quan sát thật kỹ từng chi tiết trên người cô ả đang quỳ dưới chân mình. Với con mắt tinh tường của một kẻ từng trải qua hai kiếp người và từng lăn lộn chốn mưu lược quan trường, hắn lập tức phát hiện ra hàng loạt điểm vô lý đến nực cười đang phơi bày rõ mồn một trước mắt.
Trước hết chính là đôi bàn tay của ả. Một thiếu nữ con nhà bần hàn lưu lạc chạy loạn hàng trăm dặm đường, cha chết đói khát không tiền chôn cất, cớ sao đôi bàn tay của ả lại trắng trẻo, mịn màng không tì vết như ngó sen ngâm trong nước tuyết; từng đầu ngón tay thon dài được cắt tỉa gọn gàng, móng tay hồng hào bóng bẩy, tuyệt nhiên không hề có lấy một vết chai sần nhỏ nào của người quen lao động lam lũ vất vả. Thứ hai chính là bộ tang phục bằng vải sô gai trên người ả. Tuy bên ngoài có cố ý bôi lem luốc vài vệt bùn đất giả tạo, nhưng những đường kim mũi chỉ may viền áo lại vô cùng tinh xảo, chất vải sô tuy thô nhưng là loại vải mới tinh tươm vừa được cắt từ cuộn vải đắt tiền ra, hoàn toàn không phải loại vải cũ rách mục nát của kẻ bần cùng khốn khó. Và điểm đáng ngờ nhất chính là mùi hương trên cơ thể ả: dù quỳ bên cạnh một xác chết giữa trời nắng gió hanh hao, nhưng phảng phất quanh người thiếu nữ này lại là một mùi hương trầm pha lẫn hoa quỳnh vô cùng thanh nhã và đắt đỏ – loại hương phấn thượng hạng mà chỉ có những tiểu thư khuê các hoặc các kỹ nữ hàng đầu trong các thanh lâu danh tiếng phương bắc mới có đủ tiền bạc để sử dụng.
Xâu chuỗi tất cả những điểm khả nghi ấy lại với nhau, khóe môi Chúc Hợp khẽ nhếch lên một nụ cười châm biếm đầy khinh bỉ. Rõ ràng đây là một màn kịch bán thân táng cha được dàn dựng vô cùng vụng về nhưng lại cực kỳ hiểm độc! Kẻ đứng sau gián điệp này chắc chắn đã tính toán rất kỹ đường đi nước bước của hắn, cố tình bố trí ngay tại con đường gần Tạ phủ để ép hắn vào thế đã rồi, dùng dư luận đám đông và nước mắt mỹ nhân để buộc hắn phải rước một quả bom nổ chậm vào trong hậu viện nhà mình. Nhớ đến những thủ đoạn bẩn thỉu quen thuộc của lũ gian tế phương bắc, Chúc Hợp gần như chắc chắn một trăm phần trăm rằng màn kịch này chính là tác phẩm của tên cáo già Tạ Nhượng từ bổn gia phái tới nhằm trả thù hắn.
Nghĩ đến việc có kẻ dám đem mỹ nhân kế bỉ ổi này ra để toan tính phá hoại cuộc sống êm ấm của hắn và Tạ Phác, ngọn lửa phẫn nộ trong lòng Chúc Hợp bốc lên ngùn ngụt. Hắn không thèm đôi co thêm nửa lời, quay sang quát lớn hai tên gia đinh đang đứng ngơ ngác như trời trồng phía sau rằng hai tên ăn hại các ngươi còn đứng đực mặt ra đó làm gì, không mau tiến lên kéo ả đàn bà điên này ra chỗ khác cho ta để ta còn về phủ bẩm báo với lão gia.
Hai tên gia đinh Tạ phủ bị quát giật bắn mình, vội vàng buông các gói đồ xuống đất, xắn tay áo hùng hổ lao vào nắm lấy hai cánh tay của thiếu nữ kéo mạnh ra phía sau. Theo lẽ thường tình, một cô gái yếu đuối mảnh mai như cành liễu, lại nhịn đói khát cả ngày trời thì chỉ cần một gã người hầu lực lưỡng khẽ gạt tay là đã ngã lăn ra đất. Thế nhưng, một sự việc kỳ quái đến khó tin đã xảy ra ngay trước mắt mọi người: dù hai gã gia đinh to khỏe dùng hết bình sinh ra sức lôi kéo đến mức mặt đỏ tía tai, thở hồng hộc như trâu thở, nhưng hai bàn tay của thiếu nữ kia vẫn bám chặt cứng vào vạt áo và bắp chân Chúc Hợp như rễ cây cổ thụ cắm sâu vào lòng đá núi, không tài nào lay chuyển nổi dù chỉ một phân.
Lực tay của ả khỏe đến mức dị thường, hoàn toàn trái ngược với vẻ ngoài liễu yếu đào tơ đang run rẩy khóc lóc! Trong lúc giằng co hỗn loạn, nhận thấy hai gã gia đinh đang dùng sức quá đà, ả thiếu nữ bỗng nhiên phát ra một tiếng kêu thét thất thanh đầy đau đớn giả tạo. Mượn chính lực kéo của hai gã người hầu, ả bất ngờ buông lỏng hai tay, mượn đà bật người bay thẳng về phía trước. Trước con mắt kinh ngạc tột độ của hàng trăm người đang đứng xem, ả không hề ngã xuống đất mà lại nhào trọn cả thân hình mềm mại, nóng hổi vào lòng Chúc Hợp, hai cánh tay trắng muốt như hai con rắn độc thoăn thoắt vòng qua cổ hắn, cả người ngồi gọn lỏn trên đùi hắn khi hắn đang lảo đảo mất đà lùi lại nửa bước.
Mùi hương phấn nồng nàn sực nức xộc thẳng vào mũi Chúc Hợp, kéo theo đó là sự va chạm xác thịt đầy nhục cảm khi bộ ngực căng tròn mềm mại của ả ép chặt vào lồng ngực hắn qua lớp áo lụa mỏng manh. Đám đông xung quanh thấy cảnh tượng diễm lệ bất ngờ ấy thì đồng loạt ồ lên những tiếng vỗ tay huýt sáo vang trời, thi nhau cười cợt trêu ghẹo rằng gạo đã nấu thành cơm rồi, vị công tử này phen này muốn chối cũng không thể chối được nữa, tốt nhất là mau mau ôm mỹ nhân về dinh mà động phòng hoa chúc.
Bị một nữ nhân xa lạ táo tợn ôm chặt cứng giữa thanh thiên bạch nhật, bao nhiêu ánh mắt xoi mói dâm dơ của thiên hạ đổ dồn vào người, Chúc Hợp cảm thấy nhục nhã và ghê tởm tột cùng. Hắn nghiến răng ken két, hai tay đưa lên định nắm lấy cổ tay ả bẻ gãy để tống khứ của nợ này ra xa. Thế nhưng, ngay khoảnh khắc khuôn mặt của thiếu nữ ngửa lên, áp sát chỉ cách chóp mũi hắn chưa đầy nửa gang tay, ánh mắt lúng liếng đưa tình cùng nụ cười nửa khóc nửa cười đầy vẻ phong tao đắc thắng trên khóe môi ả bỗng nhiên đập thẳng vào mắt hắn.
Một tia chớp kinh hoàng xé toạc màn đêm ký ức tăm tối của Chúc Hợp, làm cho toàn bộ linh hồn hắn run rẩy dữ dội như bị sét đánh trúng tim can! Khuôn mặt trái xoan diễm lệ này, đôi lông mày lá liễu cong vút đầy vẻ dâm tà này, nốt ruồi son nhỏ xíu ẩn hiện nơi khóe mắt trái này... làm sao hắn có thể quên được! Đây chính là ả! Chính là Hinh Nhi – kẻ từng là đệ nhất tiểu thiếp được hắn sủng ái nhất ở kiếp trước, kẻ đã dùng chính những giọt nước mắt cá sấu và những lời đường mật này để mê hoặc tâm trí hắn, khiến hắn mù quáng cướp đoạt của hồi môn của Tạ Phác, đuổi người vợ hiền lương ra khỏi nhà trong đêm đông lạnh giá, để rồi khi hắn bị kẻ thù hãm hại sa cơ lỡ bước, chính ả là kẻ đầu tiên cấu kết với gian nhân cuỗm sạch gia sản, bỏ mặc hắn chết rũ xương trong ngục tối hôi tanh!
Ký ức kinh hoàng của tiền kiếp ùa về như một cơn ác mộng đẫm máu làm cho lồng ngực Chúc Hợp co thắt lại, hô hấp nghẹn đắng, toàn thân nổi da gà từng chập vì một nỗi kinh hãi và ghê tởm vượt quá sức chịu đựng của con người. Ả rắn độc từng đẩy hắn vào cảnh tan cửa nát nhà, muôn đời vạn kiếp không thể siêu sinh ở kiếp trước, nay lại một lần nữa xuất hiện bằng xương bằng thịt ngay giữa cuộc đời thứ hai của hắn, lại còn dùng chính cái chiêu bài bán thân táng cha bẩn thỉu này để ôm chặt lấy người hắn trước cổng nhà vợ! Nhìn nụ cười ma mị ẩn chứa dã tâm độc địa đang cận kề trong gang tấc, Chúc Hợp rùng mình ớn lạnh đến tận tủy xương, trong đầu gầm lên một tiếng thét phẫn nộ cùng cực: kiếp này dù có phải thịt nát xương tan, hắn tuyệt đối không bao giờ để cho con ác quỷ này bước chân vào làm vấy bẩn mái ấm hạnh phúc của hắn và Tạ Phác thêm một lần nào nữa!