Lại Trán Mai

Chương 5

Cập nhật: 19/10/2026 01:00

Trước Sau

Trình Phát Audio Chương

Thưởng thức bản đọc audio chất lượng cao

Chương 5: Nắng Ấm Trang Viên
Những ngày đầu tiên sau buổi tao ngộ đầy ắp hiểu lầm và bất ngờ ở gian thính đường, Lục Thượng Thiện vẫn giữ tròn lễ nghi phép tắc của một bậc nho thương đứng đắn, mười ngày nửa tháng mới dám cưỡi ngựa đến thăm trang tử một lần. Mỗi lần đến, hắn đều sai thư đồng Thị Mặc đàng hoàng gửi danh thiếp bái kiến từ ngoài cổng, mang theo chút sách vở bút mực hoặc dăm phong bánh ngon từ kinh thành làm quà tao nhã. Người nhà họ Lưu ban đầu cũng theo đúng khuôn phép của các gia đình danh giá để tiếp đón khách quý, trà nước dâng lên tận tay, mời ngồi đàm đạo nơi chính sảnh vô cùng trang trọng.
Thế nhưng chỉ qua dăm ba lần lui tới, cái khoảng cách khách sáo gượng gạo ấy đã nhanh chóng tan biến như làn sương mỏng gặp nắng sớm. Người nhà họ Lưu vốn dĩ chất phác thật thà, sống giữa cảnh đồng quê khoáng đạt nên tính tình ai nấy đều cởi mở, tự nhiên. Mỗi khi thấy bóng ngựa quen thuộc của Thượng Thiện dừng lại trước rặng liễu đầu ngõ, các lão bộc ngoài cổng chẳng buồn chạy vào bẩm báo nữa, mà chỉ tươi cười chắp tay chào hỏi một tiếng Lục gia rồi niềm nở mời hắn cứ việc đi thẳng vào hậu viện tìm tiểu công tử. Cẩn Ngôn hễ nghe tiếng vó ngựa lộc cộc ngoài sân là lập tức buông bút buông sách, chạy ùa ra nắm chặt lấy tay áo Thượng Thiện kéo tuột vào gian nhà giữa. Cậu bé tám tuổi vốn dĩ ghét cay ghét đắng những màn quy củ lễ giáo cứng nhắc nơi tiền sảnh, ngồi chưa ấm chỗ đã thấy mỏi lưng ê mông; còn Lưu nương tử thì thường ngày bận rộn trăm công nghìn việc ngoài đồng áng vườn tược, vừa thấy bóng hắn bước vào đã khẽ mỉm cười buông một câu thứ lỗi không thể bồi tiếp rồi lặn mất tăm dạng vào khu vườn sau nhà.
Ở lâu mới tỏ tường nếp nhà, Thượng Thiện dần dần nắm rõ bố cục sinh hoạt đặc biệt của trang tử họ Lưu. Ngôi nhà ba gian phía trước tuy rộng rãi nhưng hai gian phòng bên gần như bỏ trống quanh năm, chỉ dùng để chứa nông cụ và tích trữ lương thảo mùa màng. Mọi sinh hoạt ấm cúng thường ngày đều dồn cả về khu hậu viện tuy không quá rộng lớn nhưng lại vô cùng ngăn nắp và mát mẻ. Lưu nương tử dành trọn gian nhà giữa ở hậu viện cho Cẩn Ngôn ăn ngủ và học tập; bản thân nàng thì chọn sống một mình trên căn gác tú lâu hai tầng nằm nép mình bên rặng trúc xanh rì rào ở góc tây nam. Các nam bộc chia nhau ở tại hai dãy nhà ngang bên tả bên hữu gian nhà giữa, còn đám tỳ nữ và các nha hoàn nhỏ tuổi thì ngủ tại các gian phòng nhỏ ở tầng dưới của tú lâu để tiện bề sớm tối hầu hạ chủ mẫu.
Cách bài trí nội ngoại hỗn cư, nam nữ cùng chung một trạch viện như thế thoạt nhìn có vẻ hơi trái ngược với quy củ phân chia nghiêm ngặt của chốn hào môn quý tộc nơi kinh thành, thế nhưng khi nhìn vào cảnh tượng Lưu gia chỉ có vỏn vẹn bảy tám người hầu kẻ hạ nương tựa vào nhau mà sống, Thượng Thiện không khỏi dâng lên một niềm cảm thương sâu sắc. Thế nhưng nỗi cảm thương ban đầu ấy đã nhanh chóng chuyển hóa thành sự kinh ngạc và kính phục tột cùng khi hắn hiểu rõ lai lịch của những con người đang ngày đêm bảo vệ trang tử này.
Năm lão bộc trong nhà họ Lưu, nếu không phải là người chột một bên mắt với những vết sẹo đao chém chằng chịt trên trán, thì cũng là người bị cụt mất một cánh tay hoặc khập khiễng bước chân vì đạn lạc tên bay. Thế nhưng ở họ luôn toát lên một khí chất nghiêm trang, kiên cường và kỷ luật thép của những người lính từng xông pha trận mạc. Mặc dù tuổi tác của cả năm người đều đã bước qua tuổi ngũ tuần, mái tóc hoa râm bết dính gió bụi, nhưng ai nấy thân hình vẫn rắn rỏi vạm vỡ như cây lim cây sến, làm việc đồng áng hay tuần tra đêm ngày không hề có lấy nửa phần trễ nải cẩu thả. Điều khiến Thượng Thiện xúc động nhất chính là tình cảm thân thiết như ruột thịt giữa chủ và tớ nơi đây; mẹ con Lưu nương tử đối đãi với các lão bộc vô cùng cung kính, không hề có chút kiêu căng trịch thượng của kẻ bề trên, còn Cẩn Ngôn mỗi khi gặp mặt đều ngoan ngoãn khoanh tay cất tiếng gọi một tiếng gia gia vô cùng ngọt ngào.
Về sau qua những lời kể mộc mạc của Tứ Hỉ Nhi, Thượng Thiện mới bàng hoàng biết được rằng năm lão bộc này nguyên là những tinh binh dũng mãnh từng vào sinh ra tử trong các chiến dịch tiễu trừ giặc Oa khấu ngoài duyên hải phương đông. Thế nhưng triều đình mục nát, đám quan lại tham lam nơi tiền tuyến đã nhẫn tâm nuốt trọn chiến công của binh lính, tước đoạt toàn bộ tiền trợ cấp thương tật của những người tàn phế. Trở về quê hương trong cảnh nghèo đói cùng cực, gia đình ly tán ruộng đất chẳng còn, năm người cựu binh già đành phải dắt díu nhau lưu lạc khắp nẻo đường ngõ hẻm của thành Khai Phong làm ăn mày để kiếm miếng cơm thừa qua ngày. Có một mùa đông lạnh giá buốt xương, người huynh đệ nhỏ tuổi nhất trong số họ phát bệnh phong hàn nguy kịch, lão Tôn bá đã phải quỳ rạp trước bậc thềm của một hiệu thuốc lớn suốt hai ngày đêm, dập đầu đến mức trán chảy máu tươi chỉ mong cầu xin một thang thuốc cứu mạng bạn mình.
Đúng vào lúc tuyệt vọng nhất ấy, Lưu nương tử trong trang phục cải trang thành phụ nhân nghèo khổ đi mua thức ăn tình cờ bắt gặp. Nàng không hề ghê tởm mùi hôi hám bẩn thỉu của đám ăn mày, mà lập tức móc túi đưa bạc mời vị đại phu giỏi nhất đến cứu chữa, lại chu cấp tiền cơm áo suốt mấy tháng liền cho họ bình phục. Đám cựu binh vốn là những người lính giàu lòng tự trọng và khí phách kiên trung, thấy ơn cứu mạng như trời biển bèn tự nguyện kéo nhau đến dựng lều trước cổng nhà cũ của Trương lão gia, ngày đêm trông coi xua đuổi đám lưu manh vô lại đến quấy nhiễu để báo đáp ân tình. Nhận thấy phẩm chất trung trinh hiếm có ấy, Lưu nương tử liền dứt khoát làm khế ước thuê mướn họ về làm gia bộc chính thức trong nhà, chăm lo cho họ từng bữa ăn tấm áo như người thân.
Thế nhưng Cẩn Ngôn thuở ấy còn quá nhỏ nên không hề hay biết rằng, khi bọn họ còn ở trong Trương phủ, Triệu di nương vì muốn tìm cách hãm hại mẹ con Lưu nương tử nên đã dùng mọi thủ đoạn ép buộc đày ải năm lão bộc này ra các điền trang hẻo lánh ngoài rìa thành phố, để rồi sau đó mới xảy ra biến cố kinh hoàng khiến cậu bé suýt chút nữa chết đuối trong trận lũ lụt năm ấy. Đến khi Lưu nương tử dứt khoát nhận tờ hưu thư rời khỏi nhà chồng, điều kiện duy nhất mà nàng kiên quyết đòi lại cho bằng được chính là mang theo năm người lão bộc trung thành này đi cùng, khẩn khoản xin họ tiếp tục ở lại che chở cho đứa con côi cút của mình.
Thượng Thiện là người từng lăn lộn nhiều năm nơi chốn thâm trạch đại viện, chỉ cần nghe qua vài câu chuyện vụn vặt là đã có thể đoán định được mười phần sự hiểm ác của lòng người. Hắn khẽ thở dài sườn sượt, trong lòng dâng lên niềm cảm phục sâu sắc trước sự dũng cảm và tấm lòng bồ tát của người phụ nữ mang trên mình vết sẹo kiên cường ấy, lại càng thêm yêu thương đứa trẻ Cẩn Ngôn chịu nhiều thiệt thòi từ thuở lọt lòng.
Sống chung trong một trạch viện, chuyện sớm tối chạm mặt nhau giữa Thượng Thiện và Lưu nương tử là điều không thể nào tránh khỏi. Ban đầu, sau cuộc cãi vã nảy lửa và màn hiểu lầm tai hại về chứng bệnh kín khó nói của hắn, cả hai người đều có chút gượng gạo mất tự nhiên. Mỗi khi tình cờ giáp mặt nơi ngõ trúc hay bên bờ giếng, Lưu nương tử chỉ mỉm cười gật đầu chào hỏi một câu lấy lệ rồi viện cớ bận rộn tránh đi nơi khác; còn Thượng Thiện cũng giữ đúng bổn phận khách quý, không dám buông lời suồng sã làm phiền đến sự thanh tịnh của nàng.
Thế nhưng thời gian tựa như dòng nước chảy êm đềm xoa dịu mọi rào cản ngăn cách. Càng ngày, Thượng Thiện càng cảm thấy gắn bó và say mê cái cảm giác được lui tới trang tử họ Lưu. Ở nơi này, tuyệt nhiên không có một ai coi hắn là đứa con thứ xuất thấp hèn, không có những ánh mắt soi mói ghen ghét của các huynh trưởng, cũng chẳng có những mưu mô toan tính tranh giành tài sản như ở Lục phủ. Bước chân qua cánh cổng gỗ rợp bóng tre, hắn như trút bỏ được toàn bộ chiếc áo giáp phòng bị nặng nề để đắm mình vào một bầu không khí lười nhác, thanh thản và ngập tràn hơi ấm gia đình.
Trong khuôn viên trang tử có rất nhiều vật dụng và cảnh quan độc đáo, kỳ lạ nhưng lại vô cùng thú vị do chính tay Lưu nương tử tự tay thiết kế và chỉ dẫn gia nhân làm ra. Đáng kể nhất chính là chiếc xích đu khổng lồ được đặt dưới bóng mát của rặng liễu cổ thụ bên hông nhà giữa. Chiếc xích đu này rộng rãi đến mức có thể cho bốn người lớn cùng ngồi thoải mái, ở chính giữa còn được thiết kế một chiếc bàn trà nhỏ bằng gỗ thông phẳng phiu. Khi đu dây nhẹ nhàng đung đưa trong làn gió thoảng, người ngồi trên có thể thong thả bày biện điểm tâm, hoa quả và nhấp từng ngụm trà thơm mát. Toàn bộ phần khung xích đu được bao phủ kín mít bởi những giàn dây kim ngân đằng sum suê cành lá; mỗi độ hè về, hàng ngàn đóa hoa kim ngân trắng muốt xen lẫn sắc vàng óng ả đua nhau nở rộ, tỏa ra một làn hương thơm ngọt ngào dễ chịu, biến nơi đây thành góc nghỉ ngơi yêu thích nhất của hai mẹ con Lưu nương tử.
Những ngày đầu mới đến, Thượng Thiện còn câu nệ phép tắc ngồi đối diện cách nàng một khoảng bàn trà, cảm thấy việc nha hoàn Tứ Hỉ Nhi bưng đĩa bánh ngọt ra rồi thản nhiên ngồi bệt xuống chiếc ghế bên cạnh cùng ăn với chủ mẫu là điều vô cùng thất lễ trái với gia giáo. Thế nhưng nhìn thấy vẻ mặt tự nhiên, thoải mái của Lưu nương tử và tiếng cười giòn tan của mọi người trong nhà, Thượng Thiện dần dần cũng học cách nhập gia tùy tục, buông bỏ những khuôn vàng thước ngọc cứng nhắc để hòa mình vào nếp sống mộc mạc ấy.
Có những buổi chiều râm mát, Cẩn Ngôn ngồi trong lòng mẹ làm nũng, hai mẹ con ríu rít đấu khẩu trêu đùa nhau bằng những câu từ hóm hỉnh lạ lùng, Thượng Thiện ngồi bên cạnh vừa nhấp ngụm trà thảo mộc vừa lắng nghe mà không khỏi bật cười thành tiếng. Nhìn cảnh tượng mẫu từ tình thâm ấm áp rạng ngời ấy, cõi lòng người đàn ông từng chịu cảnh mồ côi mẹ từ thuở ấu thơ bỗng dâng trào một niềm khao khát và ngưỡng mộ tột cùng. Hắn thèm muốn biết bao một mái ấm gia đình thực sự, nơi con người ta đối đãi với nhau bằng tấm lòng chân thật chứ không phải bằng những toan tính lạnh lùng của tiền tài và danh vọng.
Những lúc Cẩn Ngôn ngồi nắn nót làm bài tập trong thư phòng, Thượng Thiện lại ngồi bên chiếc bàn con cạnh cửa sổ thong thả lật từng trang sách cổ. Cánh cửa sổ mở rộng nhìn thẳng ra rặng trúc xanh rì rào đón từng cơn gió hè mát rượi, phía xa xa là nửa mẫu ruộng trồng hoa hướng dương đang kỳ nở rộ, hàng ngàn đóa hoa vàng rực rỡ như những vầng mặt trời nhỏ nghiêng mình đón nắng. Dưới ánh tà dương vàng cam ấm áp, Lưu nương tử đội chiếc mũ rơm rộng vành, khoác chiếc áo vải thô màu xanh nhạt giản dị, trên tay cầm chiếc kéo sắt sắc bén tỉ mỉ cắt tỉa từng cành hoa sâu bệnh. Bóng dáng mảnh mai của người phụ nữ hòa lẫn giữa biển hoa vàng bạt ngàn tạo nên một bức tranh điền viên tuyệt mỹ, trong trẻo và thanh bình đến nao lòng. Từ trong gian phòng nhỏ, tiếng đọc sách non nớt của Cẩn Ngôn vang lên kiều nộn, ngọt ngào và êm ái tựa như một khúc nhạc ru xua tan đi mọi mệt mỏi trần ai.
Càng quan sát, Thượng Thiện lại càng kinh ngạc trước tài năng giáo dục và sự thông tuệ xuất chúng của Lưu nương tử. Ở bên ngoài xã hội, nàng phải gánh chịu ác danh hạ đường thê bị gia tộc ruồng bỏ, miệng đời cay nghiệt xoi mói đủ điều; thế nhưng những gia đình nông hộ và tiểu thương buôn bán quanh vùng Trương gia trang lại tranh nhau đem con gái trong nhà đến xin làm nha hoàn phục vụ cho nàng. Thực chất số lượng người tìm đến xin học rất đông, nàng tuyệt nhiên không nhận một đồng học phí nào, cũng không trả tiền công hàng tháng; mỗi tháng nàng chỉ yêu cầu các cô nương đến trang tử làm việc vặt trong vài ngày để rèn luyện tính cần cù, thời gian còn lại nàng dành trọn để dạy dỗ họ nên người.
Buổi sáng, các thiếu nữ nghe theo sự cắt đặt của Tứ Hỉ Nhi quét tước nhà cửa, giặt giũ phơi phóng; đến trưa thì tập trung tại nhà bếp học cách nấu nướng những món ăn dinh dưỡng, học cách phân biệt các loại gia vị và thảo mộc chữa bệnh thông thường; buổi chiều là thời gian học chữ và học tính toán sổ sách. Vì giấy mực thời bấy giờ vô cùng đắt đỏ, là thứ xa xỉ phẩm mà con nhà nghèo không bao giờ dám mơ tới, Lưu nương tử đã sáng tạo ra một phương pháp học tập độc nhất vô nhị: nàng cho thợ mộc đóng những chiếc bàn dài bằng gỗ tạp quét sơn màu đỏ au láng bóng, phát cho mỗi cô nương một cây bút lông thỏ rẻ tiền rồi dạy họ nhúng đầu bút vào bát nước lã viết trực tiếp lên mặt bàn. Nước lã thấm lên nền sơn đỏ hiện rõ từng nét chữ đen nhánh, chỉ chốc lát sau gió thổi nước khô đi thì mặt bàn lại sạch bóng như mới, có thể viết đi viết lại hàng ngàn hàng vạn lần mà chẳng tốn lấy nửa đồng mua giấy mực.
Giáo trình giảng dạy của nàng lại càng khiến Thượng Thiện kinh ngạc hơn nữa. Nàng cho người dùng những tấm vải thô khổ lớn nhuộm màu chàm, dùng chỉ ngũ sắc thêu nổi từng chữ Hán thật to và rõ ràng rồi treo trang trọng lên vách đất thính đường để làm bảng dạy học. Có ba bộ vải thêu lớn như thế: một bộ là Tam Tự Kinh dạy đạo lý làm người và lịch sử sơ lược, một bộ là Bách Gia Tính dạy mặt chữ và các dòng họ trong thiên hạ, và một bộ là Kim Cương Kinh dạy về sự thanh thản buông bỏ của tâm hồn. Mỗi một cô nương muốn được công nhận là đã hoàn thành khóa học tại Lưu gia thì trước khi xuất giá đều phải tự tay thêu trọn vẹn một bộ Tam Tự Kinh hoặc Kim Cương Kinh bằng chính đường kim mũi chỉ của mình để làm của hồi môn mang về nhà chồng, vừa là vật chứng minh phẩm hạnh được rèn giũa từ Lưu gia, lại vừa là tài liệu quý giá để sau này dạy dỗ con cái mình khôn lớn.
Một buổi chiều, nhìn thấy những cô thôn nữ chăm chú ngồi nắn nót viết từng nét chữ trên mặt bàn đỏ, Thượng Thiện không kìm được sự tò mò bèn bước lại gần Lưu nương tử đang ngồi nhấp trà hoa cúc bên hiên, buột miệng hỏi xem cớ sao trong suốt các khóa học nàng lại tuyệt nhiên không hề giảng dạy cuốn Nữ Giới vốn là khuôn vàng thước ngọc bắt buộc cho phụ nữ đương thời.
Lưu nương tử khẽ nâng mí mắt nhìn hắn, khóe môi nhếch lên một nụ cười thản nhiên nhưng ánh mắt lại sắc lạnh lạ thường. Nàng chậm rãi đáp rằng dạy thứ sách giáo điều sáo rỗng ấy để làm gì; cuốn Nữ Giới ấy vốn dĩ chỉ là công cụ do những kẻ có tâm cơ thâm độc chốn quyền quý nghĩ ra để kìm kẹp, trói buộc và thuần hóa phụ nữ trở thành những kẻ cam chịu phục tùng mà thôi, người dân lương thiện thẳng thắn sống nơi thôn dã cần gì phải học những thứ giả tạo ấy. Chi bằng dạy cho họ những kiến thức thực tế và hữu dụng nhất trong đời: biết đọc thông viết thạo dăm ba chữ để không bị quan lại lừa gạt, nhìn hiểu từng trang sổ sách chi tiêu để biết vun vén kinh tế gia đình, và quan trọng nhất là sau này có đủ tri thức để tự tay dạy dỗ vỡ lòng cho con cái mình, như thế chẳng phải là thiết thực hơn trăm ngàn lần hay sao. Nàng còn cười bảo rằng phụ nữ thời nay đâu có được phép đi thi trạng nguyên làm quan lớn, việc gì phải học những thứ quy củ lễ giáo cứng nhắc của đám hủ nho làm gì cho mệt mỏi tâm can.
Thượng Thiện vốn là người có tư tưởng cởi mở phóng khoáng, nghe nàng phân tích cặn kẽ từng lời từng chữ bỗng thấy giật mình kinh hãi, trong lòng dâng lên một nỗi rúng động sâu sắc. Những gia đình đến đây học chữ toàn là những tiểu môn tiểu hộ nghèo khổ, nếu những người phụ nữ làm mẹ trong gia đình đều biết chữ nghĩa, biết tính toán và có hiểu biết sâu rộng như thế này, thì thế hệ con cái sinh ra sẽ được giáo dục đàng hoàng ngay từ trong nôi mà không cần phải tốn kém mời thầy đồ về dạy. Vạn sự đều hướng tới sự thực dụng và ích nước lợi dân, không nuôi dạy ra những gã thư sinh trói gà không chặt vô dụng cho xã hội, con gái lớn lên lại có chữ nghĩa làm của hồi môn truyền đời. Cứ tiếp nối ba đời như thế, chẳng phải phong khí văn hóa của cả vùng Khai Phong này sẽ trở nên thịnh vượng rực rỡ vượt bậc hay sao.
Như chạm đúng vào nỗi uất ức đè nén bấy lâu trong lòng, Lưu nương tử đặt mạnh chén trà hoa cúc xuống bàn, cất giọng đanh thép phê phán rằng cái câu nói nữ tử vô tài mới là đức lưu truyền trong dân gian thực chất chỉ là những lời dối trá lừa bịp của đám đàn ông ích kỷ. Nàng nhấn mạnh rằng người mẹ mà yếu kém, dốt nát thì vận mệnh của gia đình và quốc gia tất sẽ rơi vào cảnh suy vong trì trệ. Đối tượng đầu tiên và quan trọng nhất mà một đứa trẻ tiếp xúc từ thuở lọt lòng chính là người mẹ; nếu người mẹ một chữ bẻ đôi không biết, đầu óc nông cạn chỉ biết khóc lóc ghen tuông thì sẽ làm lỡ dở biết bao cơ hội học tập và định hình nhân cách của đứa trẻ. Đàn ông phong kiến cố tình nuôi nhốt phụ nữ nơi thâm khuê, biến họ thành những kẻ vô tri để dễ bề sai bảo, khiến cho xã hội ngày càng suy đồi nguy nan, đó chính là tội lỗi tày trời do đám nam nhân gia trưởng gây ra.
Nói một tràng đầy nhiệt huyết xong xuôi, Lưu nương tử bĩu môi một cái rồi mới sực nhớ ra mà ngẩng đầu nhìn lên. Bắt gặp ánh mắt sững sờ kinh ngạc của Thượng Thiện đang dán chặt vào mặt mình, nàng bỗng giật mình thảng thốt, nhận ra bản thân vừa lỡ miệng nói ra những tư tưởng hiện đại vượt quá khuôn khổ của thời đại này. Ở trong trang tử của mình, nàng thường có thói quen lẩm bẩm nói chuyện một mình và hành xử phóng khoáng thoải mái, nhất thời quên mất rằng bên cạnh mình lúc này còn có một người đàn ông xuất thân từ thế gia vọng tộc Lục phủ đang ngồi đó. Một luồng mồ hôi lạnh bất giác chảy ròng ròng sau lưng, khiến nàng xấu hổ đến mức mặt mày đỏ bừng lên.
Thượng Thiện thấy nàng hoảng hốt bèn nở một nụ cười vô cùng ấm áp, nhẹ giọng trấn an rằng những lời gan ruột như thế nàng tuyệt đối không nên tùy tiện nói ra trước mặt người ngoài kẻo rước lấy tai họa, thế nhưng trong lòng hắn thực sự vô cùng khâm phục tầm nhìn xa rộng và sự hiểu biết phi thường của nàng. Lưu nương tử ngượng ngùng gượng cười hai tiếng chữa thẹn, vội vàng vin cớ phải đi đánh thức Cẩn Ngôn dậy kẻo cậu bé ngủ trưa quá giấc rồi ba chân bốn cẳng chạy trốn ra phía sau vườn. Nhìn bóng dáng người phụ nữ tài trí đĩnh đạc bỗng chốc trở nên luống cuống vụng về như một cô thiếu nữ mới lớn, Thượng Thiện ngồi lại trên chiếc xích đu hoa kim ngân mà không kìm được nụ cười mỉm thích thú nơi khóe môi.
Thế nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, khi bóng hoàng hôn dần buông xuống và Thượng Thiện phải cưỡi ngựa trở về Lục phủ, cõi lòng hắn lại nặng trĩu những nỗi phiền muộn u uất. Hắn biết rõ việc mình thường xuyên lui tới trang tử họ Lưu đã bắt đầu làm dấy lên những lời đồn thổi thị phi nhơ nhuốc ngoài phố xá; thậm chí có kẻ còn ác ý thêu dệt rằng Lưu nương tử chính là phòng ngoài ngoại thất do hắn lén lút bao nuôi. Mỗi lần bước chân trở lại cổng lớn Lục phủ, nhìn thấy ánh mắt ghen ghét đề phòng của hai người ca ca, những nụ cười giả tạo của hai chị dâu và vẻ mặt lạnh nhạt của lão tổ mẫu, Thượng Thiện cảm thấy ngột ngạt đến mức nghẹt thở. Đỉnh điểm là trong một lần hắn đứng ra khuyên can hai đứa cháu đích tôn đang ẩu đả giành đồ chơi, đứa cháu lớn con của đại ca đã dám giơ chân đá thẳng vào đầu gối hắn, lớn tiếng chửi rủa rằng hắn chỉ là thứ con thứ thấp hèn không có tên trong từ đường Lục gia thì lấy tư cách gì dám quản chuyện của tiểu gia.
Lời nói hỗn xược của đứa trẻ ranh ma ấy giáng xuống đầu Thượng Thiện chẳng khác nào một nhát dao nhọn đâm xuyên qua tim. Năm xưa khi hắn mười sáu tuổi đỗ tú tài, mẹ cả vì sợ hắn lấn lướt con đẻ của bà nên đã làm ầm ĩ một trận kinh thiên động địa, trước khi lâm chung còn để lại di mệnh tuyệt đối cấm tiệt không cho hắn được ghi tên vào gia phả dòng họ. Cho đến tận hôm nay, dẫu hắn đã ba mươi tuổi, dẫu hắn đã dốc cạn tâm lực và tài sản của mình để gánh vác cơ nghiệp vải vóc cứu sống cả gia tộc họ Lục khỏi bờ vực khánh kiệt, hắn vẫn hoàn toàn không có lấy nửa phần tư cách để bước chân vào bái tế tổ tiên nơi từ đường. Hắn tự hỏi vì sao bản thân lại phải cam chịu làm trâu làm ngựa cho một gia tộc tàn nhẫn và bất nghĩa đến nhường này. Nỗi uất ức đè nén không thể giải tỏa chỉ khiến hắn càng thêm khao khát được chạy trốn đến trang tử họ Lưu, nơi duy nhất mang lại cho hắn cảm giác được tôn trọng và được hít thở bầu không khí thanh sạch của tình người.
Một buổi chiều nọ, không nén nổi sự áy náy trong lòng, Thượng Thiện đã chủ động ngỏ lời xin lỗi Lưu nương tử vì những lời đồn đại xấu xa ngoài phố phường đang bủa vây lấy nàng. Lưu nương tử nghe xong liền trừng mắt nhìn hắn bằng vẻ mặt cổ quái, thản nhiên cắn một hạt dưa rồi cười bảo rằng thanh danh của một kẻ bị hưu như nàng vốn đã nát bấy rồi, còn có thể kém hơn được nữa sao. Nàng bảo rằng Cẩn Ngôn nhà nàng rất quý mến hắn, hắn lại là người có học thức đàng hoàng thương yêu đứa trẻ, như thế là quá tốt rồi; nàng chỉ lo lắng một đứa trẻ mồ côi cha nếu không có bàn tay dạy bảo của người đàn ông thì sau này lớn lên sẽ trở nên yếu mềm đầy nữ khí mà thôi. Nàng nghiêng đầu hỏi nếu hắn thực sự ngại miệng đời thì cứ việc dứt khoát không đến nữa. Thượng Thiện lập tức cúi đầu, dứt khoát trả lời rằng bản thân hắn tuyệt đối không hề e ngại. Lưu nương tử gật đầu cười tươi rói, bảo rằng bằng hữu của con trai cũng chính là bằng hữu của nàng, thị phi trên đời ngày nào chẳng có, không thèm để tai thì tự khắc sẽ tiêu tan.
Nàng đứng dậy, hào hứng khoe rằng Cẩn Ngôn sắp làm xong bài tập, bảo cậu bé lát nữa sẽ ra đánh một ván cờ vây với hắn, còn bản thân nàng vừa mới mày mò nướng xong một mẻ bánh thích phong thơm lừng trong bếp, lát nữa sẽ mang ra cho hai chú cháu cùng thưởng thức. Thượng Thiện nhìn theo bóng lưng nàng thầm mỉm cười; người phụ nữ này rõ ràng tuổi tác còn kém hắn đến bảy tám tuổi, vậy mà mở miệng ra lúc nào cũng xưng hô bá mẫu và xem hắn như một đứa trẻ cần được vỗ về dỗ dành. Nàng vận chiếc áo vải thô màu xanh nhạt mộc mạc không thêu hoa văn, mái tóc cài trâm gỗ đơn sơ, trên gương mặt tròn trịa không hề thoa một hạt phấn son nào, để lộ vết sẹo dài xám trắng kinh tâm động phách nhưng thần thái lại vô cùng thanh thản và tự tại. Một người phụ nữ không có tư sắc mỹ miều nhưng lại sở hữu một tâm hồn phóng khoáng và trí tuệ trác tuyệt như thế, toát lên một sức hút kỳ lạ khiến ánh mắt Thượng Thiện không thể nào rời khỏi nàng.
Thấy Thượng Thiện cứ đứng nhìn chằm chằm vào mặt mình suốt một hồi lâu, Lưu nương tử ngạc nhiên đưa tay lên xoa má, ngỡ rằng mặt mình bị dính nhọ nồi dưới bếp. Lúc này Thượng Thiện mới giật mình nhận ra sự thất lễ của bản thân, hai gò má hắn bỗng chốc nóng bừng lên như lửa đốt. Trong cơn bối rối luống cuống, hắn liền buột miệng thanh minh rằng mình đang suy nghĩ xem có loại thuốc cao nào trên đời có thể xóa mờ đi vết sẹo dài trên má nàng hay không.
Lời nói vô tình ấy vừa thốt ra, nụ cười trên môi Lưu nương tử bỗng chốc đông cứng lại. Nàng khẽ đưa bàn tay thon dài lên che đi vết sẹo dài trên má trái, khóe môi nở một nụ cười gượng gạo đầy cay đắng và mất tự nhiên. Nàng quay đầu sang một bên, cất giọng trầm buồn tự trách rằng bản thân vô ý để lộ gương mặt xấu xí tàn tạ làm cho công tử phải khó chịu trong lòng. Thượng Thiện hốt hoảng cuống cuồng lớn tiếng thanh minh rằng mình tuyệt đối không hề có ý chê bai dung mạo của nàng, thế nhưng Lưu nương tử chỉ kéo thấp vành mũ rơm xuống, lí nhí bảo rằng mình phải xuống bếp canh chừng kẻo mẻ bánh thích phong bị cháy khét rồi vội vã quay người bước nhanh đi mất.
Lần bỏ đi ấy của nàng kéo dài suốt hai ngày ròng rã, Lưu nương tử tuyệt nhiên không hề bước chân ra khỏi tú lâu để gặp mặt Thượng Thiện nửa lời. Thượng Thiện ngồi trong gian nhà giữa mà lòng dạ cồn cào như lửa đốt, hắn vô cùng phiền muộn và ân hận tột cùng. Là một thương nhân lọc lõi từng đi khắp thiên hạ, khéo ăn khéo nói gặp người nói lời người gặp quỷ nói lời quỷ, cớ sao đối diện với người phụ nữ này hắn lại có thể hồ đồ buốt miệng chạm đúng vào nỗi đau dung nhan sâu kín nhất của nàng như thế. Nữ nhân trên đời dẫu có kiên cường quật cường đến đâu thì ai mà chẳng trân quý nhan sắc của mình; vết sẹo ấy là dấu tích của một trận đòn roi tàn độc suýt mất mạng, là minh chứng cho sự phản bội đớn đau của người chồng cũ, hắn nhắc đến nó chẳng khác nào cầm dao đâm thêm một nhát vào vết thương lòng của nàng.
Đang lúc Thượng Thiện ngồi thất thần ngẩn ngơ bên bàn cờ, Cẩn Ngôn từ ngoài sân chạy vào, tay cầm một đĩa bánh thích phong xốp mềm thơm phức mùi lá dứa và mật ong rừng. Cậu bé háo hức cắn một miếng lớn rồi ngạc nhiên hỏi Thượng Thiện xem cớ sao bánh ngọt ngon như thế này mà thúc thúc lại không ăn. Cẩn Ngôn thật thà kể rằng, mẹ bảo Lục thúc thúc là người không thích ăn đồ ngọt, cho nên mẻ bánh này mẹ đã cố tình giảm bớt đường phèn đi rất nhiều để vừa miệng thúc thúc, chỉ có cậu là thích ngọt nên mới phải chan thêm một thìa mật ong lên trên.
Nghe những lời nói ngây thơ của đứa trẻ, Thượng Thiện bàng hoàng sững sờ, trái tim hắn đập liên hồi dữ dội trong lồng ngực. Nàng vậy mà lại chú ý đến từng sở thích ăn uống nhỏ nhặt nhất của hắn, âm thầm làm riêng một đĩa bánh thanh đạm cho hắn, vậy mà hắn lại đền đáp tấm chân tình ấy bằng một câu nói vô tâm làm tổn thương nàng sâu sắc. Hắn vội vàng lắc đầu xua tan những ý nghĩ hỗn loạn trong đầu, tự mắng mình là kẻ đọc sách thánh hiền mà lại để tâm tư xao động trước người mẹ nuôi của Cẩn Ngôn.
Thấy sắc mặt Thượng Thiện biến đổi thất thường, Cẩn Ngôn lo lắng hỏi xem có phải Lục thúc thúc cũng bị sinh bệnh giống như mẹ của cậu hay không. Thượng Thiện giật mình kinh hãi, vội vàng gặng hỏi xem Lưu nương tử đã mắc phải bệnh gì. Cẩn Ngôn xót xa kể lại rằng, tỷ tỷ Tứ Hỉ Nhi bảo mẹ đang mắc chứng tâm bệnh; suốt hai ngày nay mẹ cứ nhốt mình trên căn gác tú lâu, đêm đêm lại ngồi trước gương soi nhìn vào vết sẹo mà khóc thầm một mình, cơm nước cũng chẳng buồn đụng đến một hột, cậu đòi đi mời đại phu nhưng mẹ nhất quyết không cho.
Từng lời nói của đứa trẻ như ngàn mũi kim châm vào lồng ngực Thượng Thiện, hắn nắm chặt hai bàn tay lại thành quyền, hận không thể tự rút gươm chém mình vài nhát để tạ tội. Hắn nhìn thẳng vào đôi mắt trong veo của Cẩn Ngôn, hạ giọng hỏi xem trong mắt cậu, mẹ cậu có phải là một người phụ nữ xinh đẹp hay không. Cẩn Ngôn dõng dạc khẳng định ngay tức khắc rằng mẹ cậu là người phụ nữ đẹp nhất trên cõi đời này, đặc biệt là mỗi buổi tối khi mẹ xõa mái tóc dài đen mượt ra thì trông dịu dàng và đẹp đẽ khôn tả xiết.
Thượng Thiện ngượng ngùng hắng giọng xua đi hình ảnh người phụ nữ xõa tóc trong tâm trí, rồi ân cần hỏi tiếp xem Cẩn Ngôn có cảm thấy sợ hãi trước vết sẹo dài trên mặt mẹ hay không. Cẩn Ngôn lắc đầu nguầy nguậy, kiên quyết bảo rằng cậu chưa từng sợ hãi, khuôn mặt của mẹ dẫu có vết sẹo thì ở chỗ nào cũng đều vô cùng đáng yêu và thân thương. Thượng Thiện mỉm cười gật đầu tán thưởng, hắn nhẹ nhàng dỗ dành cậu bé rằng trên mặt mẹ có vết sẹo ấy, thực chất chẳng khác nào một đường hoa văn thêu tinh xảo độc nhất vô nhị trên một tấm khăn lụa quý giá. Những người phụ nữ bình thường khác khuôn mặt ai nấy đều trơn nhẵn giống nhau, duy chỉ có mẹ của cậu là sở hữu một nét thêu đặc biệt và dũng cảm đến nhường ấy, đó chính là minh chứng cho tình yêu thương và sự hy sinh vĩ đại của nàng. Cẩn Ngôn nghe xong vui sướng reo hò, lập tức bê đĩa bánh chạy vội lên tú lâu để đem những lời an ủi tuyệt vời ấy kể lại cho mẹ nghe, để lại Thượng Thiện ngồi lại một mình bên khung cửa sổ ngập tràn nắng ấm, lòng thầm mong rằng vết thương lòng của đóa mai kiên cường kia sẽ sớm được xoa dịu bởi sự chân thành và tình yêu thương vô bờ của đứa con thơ.
Lắng tai nghe tiếng bước chân ríu rít của Cẩn Ngôn chạy lên từng bậc cầu thang gỗ, rồi nghe thấy tiếng thủ thỉ non nớt cùng tiếng cười khúc khích dịu dàng quen thuộc của Lưu nương tử từ trên căn gác vọng xuống, tảng đá nặng trĩu đè nặng trong lồng ngực Thượng Thiện suốt hai ngày qua bỗng chốc được trút bỏ hoàn toàn. Hắn khẽ mỉm cười, đứng dậy bước ra ngoài khoảng sân rợp bóng mát, ngắm nhìn giàn hoa kim ngân đang đung đưa đón gió và những đóa hướng dương vàng rực rỡ dưới ánh tà dương. Trong cõi lòng người lữ khách từng phiêu bạt khắp bốn bể chân trời, một niềm hạnh phúc bình dị mà sâu lắng đang âm thầm bén rễ, sưởi ấm tâm hồn hắn giữa những tháng ngày trần gian đầy giông bão.

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Ta Bày Sạp Bói Dạo Ở Thế Giới Song Song Đô Thị HOT 17

Ta Bày Sạp Bói Dạo Ở Thế Giới Song Song

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Thế Giới Nhỏ Ngôn Tình 12

Thế Giới Nhỏ

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.
Phong Thần Châu Tiên Hiệp HOT 26

Phong Thần Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 18 ch.
Tịch Biên Gia Sản: Áo Bông Cũ Cứu Phu Quân Ngôn Tình 14

Tịch Biên Gia Sản: Áo Bông Cũ Cứu Phu Quân

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta Tiên Hiệp 14

Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Nữ Thần Diễn Xuất Ngôn Tình 7

Nữ Thần Diễn Xuất

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.