Chương 2: Sóng Gió Nội Viện
Nếu biết trước bữa cơm chiều ở Lục phủ lại ngột ngạt và tanh nồng mùi khói lửa đến mức này thì Lục Thượng Thiện tuyệt đối đã tìm cớ nán lại ngoài phố phường buôn bán cho xong chuyện. Ngồi nơi góc bàn ăn bằng gỗ lim đen bóng láng, hai ngón tay Thượng Thiện khẽ siết chặt đôi đũa trúc sơn son, mắt rũ xuống nhìn chằm chằm vào bát cơm trắng ngần bốc khói nghi ngút mà đáy lòng dâng lên một nỗi chán chường vô hạn. Lão tổ mẫu Lục gia tuổi tác đã cao, lại mang bệnh phong hàn trong người nên chỉ gượng gạo ngồi vào ghế chủ tọa ăn lấy lệ đôi ba muỗng canh sâm tẩm bổ rồi thở ngắn than dài vin tay tỳ nữ lui về phòng nghỉ ngơi. Cánh cửa phòng ăn vừa khép lại sau lưng lão phu nhân chưa đầy một cái chớp mắt, gian thính đường rộng lớn lập tức trở thành bãi chiến trường không tiếng súng nhưng tràn ngập sự cay nghiệt của hai người chị dâu dòng chính.
Người ngồi bên tay trái là đại tẩu, con dâu trưởng nắm quyền quản lý chi tiêu nội viện Lục gia, xuất thân con nhà thư hương lụi bại nên phong thái lúc nào cũng ra vẻ văn nhược ôn nhu, mở miệng là kinh thư lễ nghĩa, nhìn hoa rụng lá bay ngoài hiên cũng có thể cầm khăn thút thít khóc ròng suốt nửa buổi. Thế nhưng ẩn sâu dưới vẻ ngoài mềm yếu như cành liễu trước gió ấy lại là một tâm cơ thâm hiểm, tính toán so đo từng đồng từng cắc và luôn tìm cách vơ vét bổng lộc về cho chi trưởng. Ngồi đối diện bên tay phải là nhị tẩu, con gái của một hào phú buôn bán da thú có tiếng ở mạn bắc, tính tình đanh đá chua ngoa, nóng nảy như lửa than và đặc biệt thích tranh quyền đoạt lợi nhưng đầu óc lại nông cạn, nói năng bạt mạng chẳng thèm kiêng nể ai. Cơn giận của nhị tẩu bắt nguồn từ việc cách đây mấy ngày, nhị ca vừa dùng một món tiền riêng lén lút chuộc một cô đào hát xinh đẹp dịu dàng về làm thiếp thất, khiến nhị tẩu uất ức nghẹn ứ nơi cổ họng mà không có chỗ phát tiết. Nhân bữa cơm chiều có mặt đông đủ mọi người, nhị tẩu liền mượn cớ chê bai món cá chép kho gừng của nhà bếp nêm nếm mặn chát, đập đũa xuống bàn chan chát rồi bóng gió mỉa mai đại tẩu quản gia tắc trách, dung túng cho đám đầu bếp ăn bớt dầu muối để cắt xén bạc chi tiêu.
Đại tẩu bị điểm mặt chỉ tên liền buông bát, đưa chiếc khăn lụa thêu hoa lan lên chấm khóe mắt, cất giọng nghẹn ngào nức nở than thở rằng phận dâu trưởng lao tâm khổ tứ lo cho cả trăm miệng ăn trong phủ từ sáng sớm tinh mơ đến đêm muộn mà vẫn không vừa lòng người, nếu em dâu cảm thấy mình tài giỏi thì xin mời đứng ra gánh vác chiếc chìa khóa kho thóc cho rảnh nợ. Đứng ngay phía sau lưng đại tẩu, nha hoàn thân tín Ngọc Bích vốn là kẻ lanh mồm lẹ miệng, lại cậy thế được chủ mẫu nuông chiều, liền bước lên nửa bước, cất giọng the thé nhưng lạnh như băng mà phụ họa thêm vào, lời lẽ ngoài mặt thì có vẻ khuyên can nhị thiếu phu nhân bớt giận nhưng bên trong lại châm chích thói ghen tuông lồng lộn của đàn bà buôn bán thô lỗ không biết giữ thể diện cho trượng phu. Lời qua tiếng lại, hai người đàn bà một bên khóc lóc kể lể một bên đập bàn quát tháo, gia nhân hầu hạ xung quanh sợ hãi cúi gằm mặt nín thở, khiến cho cả gian phòng ăn bao trùm một màn chướng khí mù mịt khiến người ta nghẹt thở.
Trong khi đó, đại ca và nhị ca của Thượng Thiện ngồi ở hai chiếc ghế phía trên lại làm ra vẻ mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, điềm nhiên gắp thức ăn bỏ vào miệng như thể tai điếc mắt mù trước mọi sự ồn ào xung quanh. Hai vị đích tôn được ăn học từ nhỏ, mở miệng ra là tự xưng người đọc sách thánh hiền, xem thường việc buôn bán kiếm tiền tanh mùi đồng nhưng khi trong nhà có chuyện lục đục thì lại hèn nhát rụt cổ lại, chẳng một ai dám đứng ra can gián thê tử của mình nửa lời. Thấy các huynh trưởng dòng chính đã giả câm giả điếc như vậy, một đứa con thứ xuất sinh ra từ tỳ thiếp như Thượng Thiện lại càng không có tư cách để cất tiếng can thiệp. Hắn chỉ biết lặng lẽ nuốt từng hạt cơm khô khốc vào bụng, cảm thấy dạ dày mình quặn thắt lại từng cơn đau nhức. Bữa cơm gia đình của chốn hào môn Lục phủ chưa ăn xong đã tàn tạ, miếng ăn trôi qua cổ họng mà nặng nề chẳng khác nào nuốt phải sỏi đá, ăn một bữa cơm thế này không khéo ngày mai lại phải tốn thêm bạc mua thuốc định tâm chỉ thống.
Khó khăn lắm mới chịu đựng được đến khi bữa ăn kết thúc, Thượng Thiện đặt đũa xuống, đứng dậy thi lễ qua loa với hai người ca ca rồi vội vã thoái lui ra ngoài. Hắn toan đi vòng qua dãy hành lang phía tây để đến viện của tổ mẫu hỏi thăm xem bà đã uống chén thuốc hạ sốt ban chiều hay chưa. Thế nhưng khi vừa bước chân qua khỏi góc tường hoa râm bụt, nhìn từ đằng xa dưới gốc cây mai già trụi lá, hắn bỗng thấy bóng dáng đại tẩu đang đứng tựa vào cột đá, hai vai run rẩy đưa khăn tay chấm nước mắt khóc lóc nỉ non một mình. Thượng Thiện giật mình kinh hãi, da đầu tê rần, lập tức xoay ngoắt gót chân đổi hướng bước đi thật nhanh về phía hoa viên vắng vẻ để lẩn tránh.
Hành động trốn chạy ấy tuyệt nhiên không phải vì Thượng Thiện là kẻ có trái tim sắt đá vô tình, mà là bởi hắn đã phải nếm trải quá nhiều bài học cay đắng đẫm máu từ chốn hậu viện đầy rẫy hiểm độc này. Ký ức đen tối của mười mấy năm về trước bỗng chốc ùa về rõ mồn một trong tâm trí hắn. Năm Thượng Thiện mới mười ba tuổi, tuổi đời còn non nớt ngây thơ chưa hiểu hết sự hiểm ác của lòng người. Một buổi chiều mùa hạ, hắn tình cờ đi ngang qua bờ hồ sen trong phủ, nhìn thấy đại tẩu khi ấy mới chân ướt chân ráo gả về làm dâu đang ngồi gục đầu bên lan can đá khóc lóc tủi thân. Động lòng trắc ẩn, đứa trẻ mồ côi mẹ là hắn liền tiến lại gần buông lời an ủi vài câu mộc mạc, rồi thật thà rút chiếc khăn tay bằng vải thô của mình đưa cho chị dâu lau nước mắt. Nào ngờ tấm lòng thiện lương non dại ấy lại trở thành khởi đầu cho một cơn ác mộng kinh hoàng.
Đại tẩu ngoài mặt thì im lặng nhận lấy chiếc khăn, nhưng chỉ hai ngày sau, nha hoàn Ngọc Bích đã cầm chính chiếc khăn tay ấy đến tìm Thượng Thiện, buông lời đe dọa nạt nộ rằng nếu hắn không chịu nghe lời sai bảo của đại ca, không chịu giao nộp phần tiền tiêu vặt hàng tháng ra thì nàng ta sẽ đem chiếc khăn thêu tên hắn ra bẩm báo với lão thái thái, vu cáo rằng Thượng Thiện tuy nhỏ tuổi nhưng đã có hành vi bỉ ổi trêu ghẹo dâu trưởng chốn hậu viện. Lời đe dọa tàn độc ấy giáng xuống đầu một đứa trẻ mười ba tuổi chẳng khác nào một tiếng sét giữa trời quang, khiến Thượng Thiện sợ hãi đến mức hồn xiêu phách lạc, mất ăn mất ngủ suốt nhiều ngày liền. Về sau, hắn phải bày trăm phương ngàn kế, cắn răng chịu nhịn nhục để lén lút trộm lại chiếc khăn tay đem đi thiêu rụi thành tro tàn. Sau biến cố kinh hoàng ấy, Thượng Thiện phát sốt li bì mê man suốt nửa tháng ròng, thập tử nhất sinh mới giữ được tính mạng.
Thế nhưng những trò ma quỷ nơi thâm trạch họ Lục vẫn chưa dừng lại ở đó. Càng lớn lên, Thượng Thiện càng bộc lộ sự thông minh đĩnh đạc và tài năng buôn bán vượt trội, khiến cho hai người chị dâu dòng chính ngày đêm ăn không ngon ngủ không yên vì lo sợ hắn sẽ tranh giành quyền thừa kế gia sản. Những cái bẫy mỹ nhân kế bẩn thỉu liên tục được giăng ra để hãm hại hắn. Có những đêm đi làm ăn xa trở về phòng ngủ, Thượng Thiện giật mình kinh hãi khi phát hiện trên giường của mình bỗng nhiên có thiếp thân nha hoàn của đại tẩu nằm sẵn đợi lệnh; lại có những buổi tối muộn đang ngồi đọc sách trong thư phòng, những tỳ nữ ăn mặc phong phanh mỏng manh lả lơi bước vào dâng rượu quý đã bị lén bỏ thêm xuân dược chết người nhằm ép hắn vào tội danh ô uế gia phong. Những bài học đẫm máu và nhơ nhuốc ấy đã khắc sâu vào xương tủy của Thượng Thiện, khiến hắn hình thành một thói quen phòng bị tuyệt đối trước tất cả phụ nữ chốn hào môn. Sau này, việc hắn dứt khoát đoạn tuyệt với nữ sắc, không nạp thê thiếp, ngoài nỗi đau bị người vợ trước phản bội thì những mưu mô nham hiểm chốn hậu viện Lục gia chính là nguyên nhân sâu xa nhất khiến hắn ghê tởm chốn phòng khuê.
Thượng Thiện đi vòng một vòng lớn qua khu vườn đá rồi mới rảo bước đến trước viện của tổ mẫu. Vừa bước chân đến bậc thềm, hắn đã nghe thấy tiếng cười đùa rộn rã của hai đứa cháu đích tôn vang ra từ bên trong gian phòng ấm cúng. Hắn bước vào, nhìn thấy lão tổ mẫu đang ngồi trên chiếc sập gụ lót đệm êm, khuôn mặt tươi cười rạng rỡ vừa bóc kẹo vừa âu yếm xoa đầu hai đứa cháu trai con của đại ca và nhị ca. Nghe tiếng bước chân Thượng Thiện bước vào, nụ cười trên gương mặt già nua của bà khẽ chững lại, ánh mắt nhìn hắn lướt qua một tia lạnh nhạt chiếu lệ rồi lập tức cúi xuống tiếp tục cưng nựng cháu đích tôn. Nụ cười gượng gạo trên môi Thượng Thiện dần nhạt đi, lồng ngực hắn dâng lên một nỗi chua xót nghẹn ngào. Hắn lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh, ân cần hỏi han tỳ nữ hầu hạ về thang thuốc của tổ mẫu rồi biết ý chắp tay cáo từ bước ra ngoài.
Rời khỏi Lục phủ ngột ngạt, Thượng Thiện một mình cưỡi ngựa trở về căn biệt phủ nhỏ của riêng mình nằm ở phía nam thành phố. Nơi đây tuy vắng bóng người thân, trạch viện thanh vắng lạnh lẽo nhưng ít nhất lại là giang sơn tự do thuộc về chính bản thân hắn. Ở nơi này, hắn có thể thong thả ăn một bữa cơm thanh đạm trong sự yên tĩnh, có thể ngả lưng xuống giường ngủ một giấc an lành mà không phải nơm nớp lo sợ có kẻ rình rập nhét người vào chăn để hãm hại danh tiết. Thượng Thiện hiểu rất rõ lòng dạ của người đời; lão tổ mẫu dẫu có thương xót hắn bao nhiêu thì trong mắt bà, con cháu dòng chính mới là gốc rễ của dòng họ, còn đứa con thứ xuất như hắn vĩnh viễn chỉ là thứ cỏ rác đứng bên lề mà thôi. Tổ mẫu đối xử với hắn như vậy âu cũng đã là tận lực che chở cho một đứa trẻ mồ côi mẹ rồi, hắn không thể và cũng không dám đòi hỏi nhiều hơn.
Thế nhưng điều khiến Thượng Thiện cảm thấy mệt mỏi nhất chính là việc tổ mẫu liên tục ép buộc hắn phải cưới vợ mới để quản lý nội viện cho Lục gia. Bà nhìn thấy tài năng đối ngoại xuất chúng của hắn, thấy hắn suốt mấy năm qua dốc lòng kinh doanh bù đắp lại những khoản lỗ khổng lồ do hai người ca ca gây ra, nên muốn dùng một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối để trói chặt chân hắn lại chốn này. Nhìn hai người chị dâu trong nhà, một kẻ như ngọn đèn lụi trước gió thổi là tắt, một kẻ hung hăng ngang ngược nhưng đầu óc rỗng tuếch, Thượng Thiện khẽ nhếch mép cười tự giễu. Hắn đồng ý đứng ra gánh vác việc buôn bán vải vóc của Lục phủ là vì chữ hiếu, vì không nỡ nhìn lão tổ mẫu tuổi già sức yếu phải đau lòng chứng kiến gia nghiệp tổ tiên sụp đổ. Thế nhưng đổi lại, hắn được cái gì? Suốt nửa năm ròng rã lao tâm khổ tứ, tiền tiêu vặt hàng tháng của hắn dẫu một đồng tiền kẽm cũng chẳng thấy đâu, sổ sách thì bị hai ca ca soi mói từng chữ từng nét như đề phòng phường trộm đạo.
Một mình hắn chịu đựng sự bóc lột và mệt mỏi ấy đã là quá đủ, hà cớ gì lại phải rước thêm một cô nương nhà lành về để cùng chịu đày đọa nơi chốn thâm u này. Đại tẩu là trưởng tức nắm quyền nội trợ, nếu hắn cưới vợ về, thê tử của hắn sẽ đứng ở vị trí nào giữa muôn trùng toan tính của hai người chị dâu? Rốt cuộc cũng chỉ biến người phụ nữ vô tội ấy thành một quân cờ bị sai bảo, làm tốt thì chẳng ai khen thưởng mà hễ có chút sai sót thì muôn ngàn mũi dùi lập tức chĩa vào chỉ trích. Đến khi công việc làm ăn buôn bán ổn định trở lại, một câu nói con thứ sớm ra ở riêng của tổ mẫu sẽ lập tức quét sạch mẹ con nàng ra khỏi cửa. Hắn không phải là kẻ ngu ngốc để người ta giật dây; bản thân hắn còn chưa lo nổi sự bình yên cho mình thì lấy tư cách gì để liên lụy đến cuộc đời của một người con gái khác. Mệnh của hắn từ lúc sinh ra dường như đã được định sẵn là kẻ cô độc không có một mái ấm gia đình thực sự.
Nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ trong biệt phủ, Thượng Thiện thở dài một tiếng thật sâu rồi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ chập chờn. Ngày hôm sau, hắn vừa mới tận hưởng được vài ngày thanh tịnh tại biệt phủ thì gia nhân Lục phủ lại hớt hải chạy đến truyền lời bảo tổ mẫu bệnh tình trở nặng, đòi hắn phải lập tức quay về. Thượng Thiện đành nuốt giận trở lại Lục gia, kiên nhẫn ngồi nghe tổ mẫu than ngắn thở dài, khóc lóc trách móc hắn bất hiếu, rồi một mực ép hắn phải nhận lời để bà đứng ra mai mối một thiên kim tiểu thư giàu có. Thượng Thiện kiên quyết từ chối chuyện cưới xin, nhưng để xoa dịu cơn giận của bà lão, hắn đành phải nhượng bộ một bước, đồng ý dọn đồ trở lại ở hẳn tại Lục phủ và không được tự ý bỏ về biệt viện nữa.
Hắn thừa hiểu tâm cơ của lão tổ mẫu; bà sợ hắn một khi bỏ đi thì cơ nghiệp vải vóc của Lục gia sẽ không có người gánh vác, cho nên mới muốn cưới vợ cho hắn để dùng thê nhi làm con tin trói buộc tâm trí hắn. Hắn không oán, cũng chẳng hận, chỉ cảm thấy một nỗi mệt mỏi rã rời buông xuống tận đáy lòng. Nghĩ bụng mình chẳng khác nào một gã tổng quản làm thuê không công cho Lục gia, hắn liền chọn cách sống thản nhiên buông xuôi: sáng sớm đến thỉnh an tổ mẫu theo đúng đạo hiếu, ban ngày lấy cớ bận rộn đi tuần tra các cửa tiệm và trang trại ngoại thành, đến tối muộn mới trở về phòng đóng chặt cửa đi ngủ, tuyệt nhiên không ngồi chung mâm ăn cơm với đám người dòng chính nữa.
Hôm nay, để tránh né bầu không khí ngột ngạt trong thành Khai Phong, Thượng Thiện lại lấy lý do cưỡi ngựa đến trấn Lâm Dương để kiểm tra sổ sách của tú trang Lục gia. Trấn Lâm Dương nằm ở vị trí giáp ranh giữa phủ Khai Phong và Trương gia trang, tuy quy mô không quá lớn nhưng đường sá buôn bán lại vô cùng sầm uất nhờ nằm cạnh bờ sông Hoàng Hà nước chảy hiền hòa. Tú trang của Lục gia đặt tại đây vốn là nơi thu mua tơ tằm và phân phối vải vóc cho các xưởng may trong vùng. Khi Thượng Thiện bước vào kiểm tra, hắn phát hiện sổ sách chi tiêu bị làm giả một cách cẩu thả, tiền bạc thâm hụt nghiêm trọng. Tên chưởng quỹ tú trang lôi đủ mọi lý do thời tiết dịch bệnh ra chống chế, cuối cùng còn lớn tiếng lôi danh phận của nhị thiếu phu nhân ra để hù dọa hắn, lộ rõ bản chất là kẻ tay chân thân tín do nhà mẹ đẻ của nhị tẩu cài cắm vào để bòn rút của công. Thượng Thiện chẳng buồn đôi co với loại sâu mọt ấy, hắn chỉ lạnh lùng phân phó cho đại quản sự thân tín Lục Phong ở lại tiếp tục kiểm tra đối chiếu từng trang chứng từ, dùng mọi biện pháp cứng rắn nhất để buộc tên chưởng quỹ gian ngoan kia phải nôn sạch số bạc đã biển thủ ra bồi thường.
Xong xuôi mọi việc, Thượng Thiện thong thả dắt ngựa bước ra khỏi tú trang, hít một hơi thật sâu làn gió mát lành từ dòng sông thổi tới, cảm thấy những bức bối u uất trong lồng ngực vơi đi được quá nửa. Khi đang chậm rãi cưỡi ngựa đi ngang qua cổng ngôi trường tư thục nằm ở đầu trấn, hắn bỗng nghe thấy tiếng hò hét cãi vã vô cùng ồn ào của một đám học đồng đang tụ tập bên vệ đường. Từ trên lưng ngựa cao nhìn xuống, Thượng Thiện lập tức nhận ra một bóng hình nhỏ nhắn quen thuộc đang đứng đơn độc giữa vòng vây của đám trẻ nhà giàu, trên tay đang cố sức giằng lại dây cương của một con lừa lông ngắn gầy gò. Đó chính là Trương Cẩn Ngôn, đứa con nuôi tám tuổi của Lưu nương tử mà hắn vừa mới gặp gỡ cách đây không lâu.
Cẩn Ngôn lúc này đang đứng khoanh tay, cố gắng gồng mình giữ vẻ mặt nghiêm nghị chững chạc như người lớn, ánh mắt lạnh lùng nhìn trừng trừng vào đám bạn học đang vây quanh cười nhạo chế giễu mình. Đứng đối diện với cậu là Giang Sướng Nguyên, một đứa trẻ con nhà phú thương có vóc dáng to lớn vượt trội hơn hẳn các bạn cùng lứa. Giang Sướng Nguyên một tay nắm chặt bờm con lừa của Cẩn Ngôn, một tay chỉ thẳng vào mặt cậu bé mà quát tháo om sòm, chất vấn xem ai cho phép Cẩn Ngôn dám tự ý sửa lời văn trong bài tập, ai cho phép một đứa trẻ không cha không họ như cậu dám cãi lại lời của tiên sinh đồ gàn trong lớp học. Tên học đồng to xác còn hung hãn đe dọa rằng nếu Cẩn Ngôn không chịu quỳ xuống đất dập đầu tạ tội thì hắn sẽ cùng đám bạn dùng gậy đánh chết con lừa gầy này ngay tại chỗ.
Trước sự hung hăng của đối phương, Cẩn Ngôn chẳng hề lộ ra nửa phần sợ hãi. Cậu bé khẽ nhếch mép, buông một lời mỉa mai sắc lẹm rằng hãy cẩn thận kẻo lại bị con lừa này tung vó đá cho một phát vỡ mặt, để rồi lát nữa lại phải vừa ôm mông vừa chạy vào méch tiên sinh rằng mình bị bắt nạt. Lời nói đanh thép ấy lập tức chọc trúng chỗ đau của Giang Sướng Nguyên, khiến khuôn mặt béo tốt của hắn thoắt xanh thoắt đỏ vô cùng khó coi. Nguyên lai vừa rồi trong lúc xô xát, hắn đã sơ ý bị con lừa của Cẩn Ngôn đá cho một cú ngã chổng vó xuống rãnh nước, nước mắt nước mũi trên mặt còn chưa kịp khô ráo. Đám học đồng đứng vây quanh thấy vậy liền ôm bụng cười ngả nghiêng, càng làm cho Giang Sướng Nguyên thẹn quá hóa giận. Trong cơn điên cuồng vì mất mặt trước đám đông, hắn liền nghiến răng trút toàn bộ sự độc địa vào những lời lăng mạ nhắm thẳng vào Lưu nương tử, gào thét lên rằng chính vì Cẩn Ngôn có một người mẹ lăng loàn trắc nết bị Trương gia ruồng rẫy đuổi ra khỏi cửa nên mới nuôi dạy ra một thứ tạp chủng không biết xấu hổ như cậu.
Những đứa trẻ đứng cạnh vội vàng đưa tay kéo áo can ngăn Giang Sướng Nguyên lại, nhưng tất cả đã quá muộn màng. Ở trường tư thục này, đám học đồng dẫu có trêu chọc Cẩn Ngôn thế nào đi chăng nữa cũng đều phải giữ lại một chừng mực nhất định; bởi vì bất kỳ ai từng tiếp xúc đều biết rõ, đứa trẻ lém lỉnh ấy có thể nhẫn nhịn mọi lời chê bai về bản thân, nhưng hễ có kẻ nào dám xúc phạm đến danh dự của mẹ nuôi cậu thì Cẩn Ngôn sẽ lập tức biến thành một con thú dữ liều mạng bảo vệ mẫu thân đến cùng.
Lời sỉ nhục vừa mới dứt khỏi miệng Giang Sướng Nguyên, Cẩn Ngôn đã thét lên một tiếng phẫn nộ xé lòng, hai mắt cậu bé bỗng chốc đỏ rực lên như máu. Không một chút do dự, Cẩn Ngôn lao thẳng tới như một mũi tên rời cung, vung nắm đấm giáng liên tiếp ba bốn cú đòn sấm sét vào mặt kẻ vừa sỉ nhục mẹ mình. Bị đòn đánh bất ngờ làm cho choáng váng, Giang Sướng Nguyên loạng choạng lùi lại phía sau, miệng gầm rú điên loạn vung tay đánh trả. Đám học đồng xúm lại la hét kinh hãi, có đứa lao vào ôm lấy Cẩn Ngôn để kéo ra, nhưng cậu bé tám tuổi như phát cuồng, bất chấp những cú đấm đá loạn xạ của đám bạn học lớn hơn trút xuống lưng mình, cậu nghiến chặt răng ken két, dùng toàn bộ sức mạnh của bài quyền Vịnh Xuân được mẹ chỉ dạy liên tục tung đòn hiểm nhắm thẳng vào các huyệt đạo ở vùng thắt lưng của Giang Sướng Nguyên mà đánh tới tấp.
Chứng kiến cảnh tượng đứa trẻ liều mạng ẩu đả trong cơn phẫn uất tột cùng, Thượng Thiện không thể khoanh tay đứng nhìn được nữa. Hắn tung mình nhảy phắt xuống khỏi lưng ngựa, sải những bước chân dài đầy uy lực xông thẳng vào giữa đám đông hỗn loạn. Bàn tay rắn rỏi như gọng kìm thép của hắn vươn ra tóm chặt lấy cổ tay Cẩn Ngôn nhấc bổng lên, đồng thời cất giọng quát vang như sấm sét giữa trời quang, nghiêm khắc cảnh cáo rằng học quyền cước là để rèn luyện thân thể bảo vệ bản thân, chứ không phải để đem ra đánh nhau liều chết như loài dã thú. Hắn nạt rằng Cẩn Ngôn không nghĩ cho tính mạng của chính mình thì cũng phải biết nghĩ đến tấm lòng của người mẹ đang ngày đêm ngóng đợi ở nhà chứ.
Quay sang nhìn đám học đồng đang hoảng loạn, ánh mắt Thượng Thiện sắc lạnh như băng tuyết quét qua từng khuôn mặt non nớt. Bằng một ngữ điệu đanh thép đầy uy quyền của một bậc trưởng bối từng trải, hắn lớn tiếng chỉ trích đám trẻ nhà giàu rằng bọn chúng đến trường học sách thánh hiền để học đạo làm người, cớ sao lại mở miệng buông những lời dơ bẩn nhục mạ mẫu thân của người khác, phải chăng bao nhiêu chữ nghĩa của thánh nhân đọc được đều đã trôi hết vào bụng chó cả rồi. Khí thế bức người của chàng thương nhân cao lớn cùng lời răn đe nghiêm khắc khiến cho lũ trẻ sợ hãi hồn xiêu phách lạc. Đám học đồng lập tức buông tay tháo chạy tán loạn tứ phía, ngay cả Giang Sướng Nguyên mặt mũi sưng vù, chảy máu mồm máu mũi cũng chỉ biết ôm mặt vừa khóc vừa cắm đầu cắm cổ chạy trốn, bỏ lại một khoảng sân trống trải trước cổng tư thục.
Nơi vệ đường lúc này chỉ còn lại Thượng Thiện đang nắm chặt cánh tay Cẩn Ngôn, bên cạnh là con ngựa chiến bờm đen và con lừa lông ngắn đang thở phì phì những luồng hơi ấm áp. Thượng Thiện cúi đầu nhìn đứa trẻ trước mặt, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa khôn tả xiết. Sau trận ẩu đả không cân sức với đám bạn học lớn hơn, toàn thân Cẩn Ngôn phủ đầy bụi đất lấm lem, chiếc áo vải thô bị xé rách tả tơi nhiều chỗ. Khuôn mặt nhỏ nhắn của cậu bé bị đấm trúng tím bầm một bên má, khóe miệng rách toác rướm máu tươi, còn hai dòng máu mũi đỏ thẫm vẫn đang không ngừng chảy dài xuống cằm, nhỏ từng giọt lộp độp xuống vạt áo.
Cẩn Ngôn cúi gằm mặt xuống đất, đôi vai nhỏ bé run lên bần bật, khẽ giật giật cánh tay để rút ra khỏi sự kìm kẹp của Thượng Thiện. Thấy vậy, Thượng Thiện liền nhẹ nhàng buông tay ra. Cậu bé khịt khịt mũi, cố gắng nuốt ngược những giọt nước mắt uất ức vào trong lồng ngực, cất giọng ấp úng ngọng nghịu tạ ơn Lục công tử đã ra tay can thiệp và thừa nhận rằng bản thân mình đã làm sai. Nhìn thấy một đứa trẻ mới lên tám tuổi mà đã biết nhẫn nhịn, biết kiềm chế cảm xúc và hiểu chuyện đến mức đau lòng như thế, trái tim sắt đá của Thượng Thiện lập tức mềm nhũn ra. Hắn im lặng thò tay vào trong tay áo, rút ra một chiếc khăn lụa trắng sạch sẽ, cúi người xuống dịu dàng lau đi những vệt máu tươi và bụi bẩn bám trên mũi, trên khóe miệng của Cẩn Ngôn.
Cẩn Ngôn chắp hai tay lại thi lễ một cách vụng về, rồi tập tễnh bước lại gần dắt lấy dây cương của con lừa gầy định quay đầu trở về trang tử. Nhìn bóng dáng xiêu vẹo của đứa trẻ, Thượng Thiện cất giọng ôn tồn dỗ dành rằng nếu cậu cứ mang bộ dạng tàn tạ, áo rách mặt bê bết máu thế này mà bước chân về nhà thì làm sao tránh khỏi việc khiến cho mẫu thân phải đau lòng rơi nước mắt. Hắn đề nghị Cẩn Ngôn hãy theo chân hắn quay trở lại tú trang Lục gia cách đó không xa để rửa ráy mặt mũi, thoa chút cao dược giảm đau và tìm một bộ y phục mới tinh tươm thay đổi cho đàng hoàng rồi hãy về.
Cẩn Ngôn ngập ngừng suy nghĩ một lát, khuôn mặt nhỏ nhắn thoáng hiện lên vẻ e ngại và ngượng ngùng. Cậu bé lí nhí thưa rằng làm phiền Lục công tử nhiều lần như vậy thực sự là điều không nên. Thượng Thiện khẽ mỉm cười xoa đầu cậu bé, trong đáy mắt chợt lướt qua một tia đau đớn xa xăm; hắn thầm nghĩ nếu năm xưa người vợ trước không phạm phải lỗi lầm phản bội, thì đứa con của hai người nếu còn sống đến hôm nay có lẽ cũng đã khôn lớn trạc tuổi cậu bé này rồi. Hắn dịu dàng bảo rằng chỉ là việc rửa mặt cho sạch bụi đất và thay một chiếc áo mới thì có gì đáng gọi là phiền hà đâu.
Nghe những lời vỗ về ấm áp ấy, Cẩn Ngôn dẫu có gan dạ kiên cường đến đâu thì bản chất sâu xa vẫn chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Suốt từ nãy đến giờ, toàn thân cậu bé đau nhức ê ẩm như muốn rụng rời từng khớp xương. Một mình cậu phải đương đầu chống chọi với cả đám học đồng hung hãn to xác hơn mình, làm sao trong lòng không có nỗi sợ hãi tột cùng. Những lần trước bị bạn học ức hiếp hay đánh lén, mỗi khi cậu vừa khóc vừa chạy về nhà kể lại, mẫu thân cậu lại đau lòng ôm chặt lấy cậu mà khóc còn to hơn, thậm chí còn phẫn uất bảo rằng không cần đến trường tư thục học chữ nữa mà sẽ mời thầy đồ về tận nhà dạy dỗ. Thế nhưng những vị tiên sinh đồ gàn trong vùng hễ nghe danh tiếng người mẹ là phụ nữ bị nhà chồng viết giấy hưu bỏ thì đều tìm đủ mọi lý do khinh khỉnh từ chối không chịu bước chân vào cửa.
Mẹ của cậu rốt cuộc có lỗi lầm gì đâu chứ? Trong tâm trí non nớt của Cẩn Ngôn, câu hỏi ấy đã day dứt cậu suốt bao năm tháng qua mà không có lời giải đáp. Mọi người lớn trong vùng đều cho rằng cậu còn quá nhỏ dại nên sẽ chẳng thể nào nhớ được những chuyện kinh hoàng xảy ra từ thuở lên hai lên ba. Thế nhưng trong những giấc ác mộng chập chờn hàng đêm, Cẩn Ngôn vẫn thường xuyên mơ thấy cảnh tượng hãi hùng năm xưa: người cha ruột nghiện ngập hung bạo túm lấy mái tóc dài của mẹ nuôi đập liên tiếp xuống nền đá hoa cương lạnh lẽo, máu tươi chảy đầm đìa nhuộm đỏ cả vạt áo trắng. Rõ ràng là người cha ruột kia tàn ác xấu xa, cớ sao miệng đời bên ngoài lại luôn buông lời cay nghiệt đổ hết mọi điều tiếng nhơ nhuốc lên đầu người mẹ hiền từ của cậu? Mẹ của cậu có chỗ nào không tốt, có điểm nào đáng bị người ta nguyền rủa khinh khi?
Kể từ sau những ký ức kinh hoàng đầy máu me ấy, Cẩn Ngôn sinh ra một nỗi chán ghét và thù địch sâu sắc đối với tất cả những người đàn ông lớn tuổi; mỗi khi nhìn thấy họ, cậu luôn ngửi thấy một mùi tanh tưởi rỉ sắt tựa như mùi máu tươi bốc lên từ những trận bạo hành năm nào. Thế nhưng đứng trước mặt chàng công tử họ Lục phong nhã tuấn tú này, Cẩn Ngôn lại tuyệt nhiên không hề cảm nhận được thứ mùi vị ghê sợ khiến người ta chán ghét ấy. Ngược lại, từ cử chỉ ân cần, ánh mắt bao dung cho đến hơi ấm từ bàn tay Thượng Thiện đều mang lại cho cậu một cảm giác an toàn và tin cậy đến kỳ lạ. Cậu bé mấp máy đôi môi sưng vù định cất tiếng nói lời cảm tạ, thế nhưng chưa kịp thốt ra được câu nào thì hai hàng nước mắt tủi thân kìm nén bấy lâu đã òa ra, lăn dài trên đôi gò má lấm lem cát bụi. Cẩn Ngôn vội vàng đưa ống tay áo rách lên lau vội, khiến cho vệt máu khô hòa cùng nước mắt biến thành một mảng lem luốc nhơ nhuốc trên mặt.
Thượng Thiện nhìn cảnh tượng ấy mà lồng ngực thắt lại từng cơn xót xa. Hắn không nói thêm lời nào nữa, khom lưng dang rộng đôi tay vững chãi ôm bổng Cẩn Ngôn đặt ngồi ngay ngắn lên phía trước yên ngựa của mình, sau đó một tay cầm chắc dây cương ngựa chiến, một tay dắt theo con lừa lông ngắn gầy gò. Hắn khẽ vỗ nhẹ vào vai đứa trẻ, cất giọng trầm ấm dặn dò Cẩn Ngôn hãy ngồi cho thật vững vàng, rồi thúc ngựa thong dong quay trở lại hướng đi về phía tú trang Lâm Dương, lòng thầm quyết tâm phải giúp đứa trẻ tội nghiệp này rửa sạch mọi vết thương thể xác lẫn tâm hồn trước khi đưa cậu bình an trở về bên vòng tay người mẹ.
Ngồi gọn gàng trong vòng tay vững chãi của Thượng Thiện trên lưng ngựa chiến, Cẩn Ngôn ban đầu còn có chút rụt rè ngượng nghịu, hai bàn tay nhỏ bé nắm chặt lấy mép bờm ngựa không dám nhúc nhích. Thế nhưng hơi ấm từ lồng ngực rộng lớn cùng nhịp tim đập đều đặn, khoan thai phía sau lưng đã nhanh chóng xua tan đi sự cảnh giác và lạnh lẽo đang bao trùm lấy tâm can cậu bé. Gió chiều từ sông Hoàng Hà thổi qua hàng liễu rủ ven đường mát rượi, mang theo mùi ngai ngái của đất ải và hương hoa dại nở muộn. Thượng Thiện ghìm ngựa đi thật chậm để cậu bé không bị xóc nảy làm động đến vết thương, thỉnh thoảng lại cúi đầu ân cần hỏi han xem cậu có thấy chóng mặt hay tức ngực ở đâu không. Cẩn Ngôn lắc đầu nhè nhẹ, đưa đôi mắt to tròn long lanh nhìn ngắm những mái ngói rêu phong và dòng người tấp nập ngược xuôi trên con phố chính của trấn Lâm Dương, cảm thấy nỗi sợ hãi ban nãy dường như đã bay biến tự bao giờ.
Cưỡi ngựa song hành cùng con lừa gầy đi qua từng dãy phố lát đá quen thuộc, Thượng Thiện nhìn đỉnh đầu tròn trịa của Cẩn Ngôn mà lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc phức tạp. Suốt hơn ba mươi năm cuộc đời bôn ba gió bụi, hắn chưa từng nghĩ rằng mình lại có lúc gắn bó và kiên nhẫn chở che cho một đứa trẻ xa lạ đến nhường này. Tiếng vó ngựa lộc cộc gõ nhịp trên nền đá hoa cương vang lên đều đặn, tựa như một khúc ca xoa dịu đi những vết thương rỉ máu nơi đáy lòng của cả hai con người cô độc. Hắn tự nhủ với lòng mình rằng, dẫu nhân gian này có muôn vàn trắc trở, dẫu chốn hào môn Lục phủ có toan tính lạnh lùng đến đâu, thì sự ngây thơ và lòng hiếu thảo quật cường của đứa trẻ này cùng bản lĩnh kiên trinh của người mẹ nơi thôn dã kia chính là những điều thuần khiết, đáng trân trọng nhất mà hắn nhất định phải dốc lòng gìn giữ.
Khi bóng ngựa dừng lại trước cánh cổng gỗ sơn đỏ của tú trang Lục gia, đại quản sự Lục Phong đang đứng trông nom việc bốc dỡ vải vóc giật mình vội vàng chạy ra nghênh đón. Trông thấy công tử nhà mình ôm một đứa trẻ mặt mày bê bết máu bước xuống ngựa, Lục Phong tròn xoe đôi mắt kinh ngạc, toan cất tiếng hỏi han thì Thượng Thiện đã khẽ phất tay ra hiệu giữ im lặng. Thượng Thiện nhẹ nhàng bế Cẩn Ngôn đặt xuống chiếc ghế tựa bọc đệm êm ái trong sảnh đường, sau đó lập tức phân phó cho Lục Phong đi đun một chậu nước ấm sạch sẽ, mang theo chiếc khăn bông mềm mại cùng hũ cao dược trị thương tốt nhất của tú trang đến đây. Nhìn bóng dáng ân cần của Thượng Thiện tự tay xắn tay áo chuẩn bị lau rửa vết thương cho mình, hốc mắt Cẩn Ngôn lại một lần nữa cay xè, thầm nghĩ trong lòng rằng nếu người đàn ông này thực sự là cha ruột của cậu thì cuộc đời này sẽ ấm áp và hạnh phúc biết bao nhiêu.
Nếu biết trước bữa cơm chiều ở Lục phủ lại ngột ngạt và tanh nồng mùi khói lửa đến mức này thì Lục Thượng Thiện tuyệt đối đã tìm cớ nán lại ngoài phố phường buôn bán cho xong chuyện. Ngồi nơi góc bàn ăn bằng gỗ lim đen bóng láng, hai ngón tay Thượng Thiện khẽ siết chặt đôi đũa trúc sơn son, mắt rũ xuống nhìn chằm chằm vào bát cơm trắng ngần bốc khói nghi ngút mà đáy lòng dâng lên một nỗi chán chường vô hạn. Lão tổ mẫu Lục gia tuổi tác đã cao, lại mang bệnh phong hàn trong người nên chỉ gượng gạo ngồi vào ghế chủ tọa ăn lấy lệ đôi ba muỗng canh sâm tẩm bổ rồi thở ngắn than dài vin tay tỳ nữ lui về phòng nghỉ ngơi. Cánh cửa phòng ăn vừa khép lại sau lưng lão phu nhân chưa đầy một cái chớp mắt, gian thính đường rộng lớn lập tức trở thành bãi chiến trường không tiếng súng nhưng tràn ngập sự cay nghiệt của hai người chị dâu dòng chính.
Người ngồi bên tay trái là đại tẩu, con dâu trưởng nắm quyền quản lý chi tiêu nội viện Lục gia, xuất thân con nhà thư hương lụi bại nên phong thái lúc nào cũng ra vẻ văn nhược ôn nhu, mở miệng là kinh thư lễ nghĩa, nhìn hoa rụng lá bay ngoài hiên cũng có thể cầm khăn thút thít khóc ròng suốt nửa buổi. Thế nhưng ẩn sâu dưới vẻ ngoài mềm yếu như cành liễu trước gió ấy lại là một tâm cơ thâm hiểm, tính toán so đo từng đồng từng cắc và luôn tìm cách vơ vét bổng lộc về cho chi trưởng. Ngồi đối diện bên tay phải là nhị tẩu, con gái của một hào phú buôn bán da thú có tiếng ở mạn bắc, tính tình đanh đá chua ngoa, nóng nảy như lửa than và đặc biệt thích tranh quyền đoạt lợi nhưng đầu óc lại nông cạn, nói năng bạt mạng chẳng thèm kiêng nể ai. Cơn giận của nhị tẩu bắt nguồn từ việc cách đây mấy ngày, nhị ca vừa dùng một món tiền riêng lén lút chuộc một cô đào hát xinh đẹp dịu dàng về làm thiếp thất, khiến nhị tẩu uất ức nghẹn ứ nơi cổ họng mà không có chỗ phát tiết. Nhân bữa cơm chiều có mặt đông đủ mọi người, nhị tẩu liền mượn cớ chê bai món cá chép kho gừng của nhà bếp nêm nếm mặn chát, đập đũa xuống bàn chan chát rồi bóng gió mỉa mai đại tẩu quản gia tắc trách, dung túng cho đám đầu bếp ăn bớt dầu muối để cắt xén bạc chi tiêu.
Đại tẩu bị điểm mặt chỉ tên liền buông bát, đưa chiếc khăn lụa thêu hoa lan lên chấm khóe mắt, cất giọng nghẹn ngào nức nở than thở rằng phận dâu trưởng lao tâm khổ tứ lo cho cả trăm miệng ăn trong phủ từ sáng sớm tinh mơ đến đêm muộn mà vẫn không vừa lòng người, nếu em dâu cảm thấy mình tài giỏi thì xin mời đứng ra gánh vác chiếc chìa khóa kho thóc cho rảnh nợ. Đứng ngay phía sau lưng đại tẩu, nha hoàn thân tín Ngọc Bích vốn là kẻ lanh mồm lẹ miệng, lại cậy thế được chủ mẫu nuông chiều, liền bước lên nửa bước, cất giọng the thé nhưng lạnh như băng mà phụ họa thêm vào, lời lẽ ngoài mặt thì có vẻ khuyên can nhị thiếu phu nhân bớt giận nhưng bên trong lại châm chích thói ghen tuông lồng lộn của đàn bà buôn bán thô lỗ không biết giữ thể diện cho trượng phu. Lời qua tiếng lại, hai người đàn bà một bên khóc lóc kể lể một bên đập bàn quát tháo, gia nhân hầu hạ xung quanh sợ hãi cúi gằm mặt nín thở, khiến cho cả gian phòng ăn bao trùm một màn chướng khí mù mịt khiến người ta nghẹt thở.
Trong khi đó, đại ca và nhị ca của Thượng Thiện ngồi ở hai chiếc ghế phía trên lại làm ra vẻ mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, điềm nhiên gắp thức ăn bỏ vào miệng như thể tai điếc mắt mù trước mọi sự ồn ào xung quanh. Hai vị đích tôn được ăn học từ nhỏ, mở miệng ra là tự xưng người đọc sách thánh hiền, xem thường việc buôn bán kiếm tiền tanh mùi đồng nhưng khi trong nhà có chuyện lục đục thì lại hèn nhát rụt cổ lại, chẳng một ai dám đứng ra can gián thê tử của mình nửa lời. Thấy các huynh trưởng dòng chính đã giả câm giả điếc như vậy, một đứa con thứ xuất sinh ra từ tỳ thiếp như Thượng Thiện lại càng không có tư cách để cất tiếng can thiệp. Hắn chỉ biết lặng lẽ nuốt từng hạt cơm khô khốc vào bụng, cảm thấy dạ dày mình quặn thắt lại từng cơn đau nhức. Bữa cơm gia đình của chốn hào môn Lục phủ chưa ăn xong đã tàn tạ, miếng ăn trôi qua cổ họng mà nặng nề chẳng khác nào nuốt phải sỏi đá, ăn một bữa cơm thế này không khéo ngày mai lại phải tốn thêm bạc mua thuốc định tâm chỉ thống.
Khó khăn lắm mới chịu đựng được đến khi bữa ăn kết thúc, Thượng Thiện đặt đũa xuống, đứng dậy thi lễ qua loa với hai người ca ca rồi vội vã thoái lui ra ngoài. Hắn toan đi vòng qua dãy hành lang phía tây để đến viện của tổ mẫu hỏi thăm xem bà đã uống chén thuốc hạ sốt ban chiều hay chưa. Thế nhưng khi vừa bước chân qua khỏi góc tường hoa râm bụt, nhìn từ đằng xa dưới gốc cây mai già trụi lá, hắn bỗng thấy bóng dáng đại tẩu đang đứng tựa vào cột đá, hai vai run rẩy đưa khăn tay chấm nước mắt khóc lóc nỉ non một mình. Thượng Thiện giật mình kinh hãi, da đầu tê rần, lập tức xoay ngoắt gót chân đổi hướng bước đi thật nhanh về phía hoa viên vắng vẻ để lẩn tránh.
Hành động trốn chạy ấy tuyệt nhiên không phải vì Thượng Thiện là kẻ có trái tim sắt đá vô tình, mà là bởi hắn đã phải nếm trải quá nhiều bài học cay đắng đẫm máu từ chốn hậu viện đầy rẫy hiểm độc này. Ký ức đen tối của mười mấy năm về trước bỗng chốc ùa về rõ mồn một trong tâm trí hắn. Năm Thượng Thiện mới mười ba tuổi, tuổi đời còn non nớt ngây thơ chưa hiểu hết sự hiểm ác của lòng người. Một buổi chiều mùa hạ, hắn tình cờ đi ngang qua bờ hồ sen trong phủ, nhìn thấy đại tẩu khi ấy mới chân ướt chân ráo gả về làm dâu đang ngồi gục đầu bên lan can đá khóc lóc tủi thân. Động lòng trắc ẩn, đứa trẻ mồ côi mẹ là hắn liền tiến lại gần buông lời an ủi vài câu mộc mạc, rồi thật thà rút chiếc khăn tay bằng vải thô của mình đưa cho chị dâu lau nước mắt. Nào ngờ tấm lòng thiện lương non dại ấy lại trở thành khởi đầu cho một cơn ác mộng kinh hoàng.
Đại tẩu ngoài mặt thì im lặng nhận lấy chiếc khăn, nhưng chỉ hai ngày sau, nha hoàn Ngọc Bích đã cầm chính chiếc khăn tay ấy đến tìm Thượng Thiện, buông lời đe dọa nạt nộ rằng nếu hắn không chịu nghe lời sai bảo của đại ca, không chịu giao nộp phần tiền tiêu vặt hàng tháng ra thì nàng ta sẽ đem chiếc khăn thêu tên hắn ra bẩm báo với lão thái thái, vu cáo rằng Thượng Thiện tuy nhỏ tuổi nhưng đã có hành vi bỉ ổi trêu ghẹo dâu trưởng chốn hậu viện. Lời đe dọa tàn độc ấy giáng xuống đầu một đứa trẻ mười ba tuổi chẳng khác nào một tiếng sét giữa trời quang, khiến Thượng Thiện sợ hãi đến mức hồn xiêu phách lạc, mất ăn mất ngủ suốt nhiều ngày liền. Về sau, hắn phải bày trăm phương ngàn kế, cắn răng chịu nhịn nhục để lén lút trộm lại chiếc khăn tay đem đi thiêu rụi thành tro tàn. Sau biến cố kinh hoàng ấy, Thượng Thiện phát sốt li bì mê man suốt nửa tháng ròng, thập tử nhất sinh mới giữ được tính mạng.
Thế nhưng những trò ma quỷ nơi thâm trạch họ Lục vẫn chưa dừng lại ở đó. Càng lớn lên, Thượng Thiện càng bộc lộ sự thông minh đĩnh đạc và tài năng buôn bán vượt trội, khiến cho hai người chị dâu dòng chính ngày đêm ăn không ngon ngủ không yên vì lo sợ hắn sẽ tranh giành quyền thừa kế gia sản. Những cái bẫy mỹ nhân kế bẩn thỉu liên tục được giăng ra để hãm hại hắn. Có những đêm đi làm ăn xa trở về phòng ngủ, Thượng Thiện giật mình kinh hãi khi phát hiện trên giường của mình bỗng nhiên có thiếp thân nha hoàn của đại tẩu nằm sẵn đợi lệnh; lại có những buổi tối muộn đang ngồi đọc sách trong thư phòng, những tỳ nữ ăn mặc phong phanh mỏng manh lả lơi bước vào dâng rượu quý đã bị lén bỏ thêm xuân dược chết người nhằm ép hắn vào tội danh ô uế gia phong. Những bài học đẫm máu và nhơ nhuốc ấy đã khắc sâu vào xương tủy của Thượng Thiện, khiến hắn hình thành một thói quen phòng bị tuyệt đối trước tất cả phụ nữ chốn hào môn. Sau này, việc hắn dứt khoát đoạn tuyệt với nữ sắc, không nạp thê thiếp, ngoài nỗi đau bị người vợ trước phản bội thì những mưu mô nham hiểm chốn hậu viện Lục gia chính là nguyên nhân sâu xa nhất khiến hắn ghê tởm chốn phòng khuê.
Thượng Thiện đi vòng một vòng lớn qua khu vườn đá rồi mới rảo bước đến trước viện của tổ mẫu. Vừa bước chân đến bậc thềm, hắn đã nghe thấy tiếng cười đùa rộn rã của hai đứa cháu đích tôn vang ra từ bên trong gian phòng ấm cúng. Hắn bước vào, nhìn thấy lão tổ mẫu đang ngồi trên chiếc sập gụ lót đệm êm, khuôn mặt tươi cười rạng rỡ vừa bóc kẹo vừa âu yếm xoa đầu hai đứa cháu trai con của đại ca và nhị ca. Nghe tiếng bước chân Thượng Thiện bước vào, nụ cười trên gương mặt già nua của bà khẽ chững lại, ánh mắt nhìn hắn lướt qua một tia lạnh nhạt chiếu lệ rồi lập tức cúi xuống tiếp tục cưng nựng cháu đích tôn. Nụ cười gượng gạo trên môi Thượng Thiện dần nhạt đi, lồng ngực hắn dâng lên một nỗi chua xót nghẹn ngào. Hắn lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh, ân cần hỏi han tỳ nữ hầu hạ về thang thuốc của tổ mẫu rồi biết ý chắp tay cáo từ bước ra ngoài.
Rời khỏi Lục phủ ngột ngạt, Thượng Thiện một mình cưỡi ngựa trở về căn biệt phủ nhỏ của riêng mình nằm ở phía nam thành phố. Nơi đây tuy vắng bóng người thân, trạch viện thanh vắng lạnh lẽo nhưng ít nhất lại là giang sơn tự do thuộc về chính bản thân hắn. Ở nơi này, hắn có thể thong thả ăn một bữa cơm thanh đạm trong sự yên tĩnh, có thể ngả lưng xuống giường ngủ một giấc an lành mà không phải nơm nớp lo sợ có kẻ rình rập nhét người vào chăn để hãm hại danh tiết. Thượng Thiện hiểu rất rõ lòng dạ của người đời; lão tổ mẫu dẫu có thương xót hắn bao nhiêu thì trong mắt bà, con cháu dòng chính mới là gốc rễ của dòng họ, còn đứa con thứ xuất như hắn vĩnh viễn chỉ là thứ cỏ rác đứng bên lề mà thôi. Tổ mẫu đối xử với hắn như vậy âu cũng đã là tận lực che chở cho một đứa trẻ mồ côi mẹ rồi, hắn không thể và cũng không dám đòi hỏi nhiều hơn.
Thế nhưng điều khiến Thượng Thiện cảm thấy mệt mỏi nhất chính là việc tổ mẫu liên tục ép buộc hắn phải cưới vợ mới để quản lý nội viện cho Lục gia. Bà nhìn thấy tài năng đối ngoại xuất chúng của hắn, thấy hắn suốt mấy năm qua dốc lòng kinh doanh bù đắp lại những khoản lỗ khổng lồ do hai người ca ca gây ra, nên muốn dùng một cuộc hôn nhân môn đăng hộ đối để trói chặt chân hắn lại chốn này. Nhìn hai người chị dâu trong nhà, một kẻ như ngọn đèn lụi trước gió thổi là tắt, một kẻ hung hăng ngang ngược nhưng đầu óc rỗng tuếch, Thượng Thiện khẽ nhếch mép cười tự giễu. Hắn đồng ý đứng ra gánh vác việc buôn bán vải vóc của Lục phủ là vì chữ hiếu, vì không nỡ nhìn lão tổ mẫu tuổi già sức yếu phải đau lòng chứng kiến gia nghiệp tổ tiên sụp đổ. Thế nhưng đổi lại, hắn được cái gì? Suốt nửa năm ròng rã lao tâm khổ tứ, tiền tiêu vặt hàng tháng của hắn dẫu một đồng tiền kẽm cũng chẳng thấy đâu, sổ sách thì bị hai ca ca soi mói từng chữ từng nét như đề phòng phường trộm đạo.
Một mình hắn chịu đựng sự bóc lột và mệt mỏi ấy đã là quá đủ, hà cớ gì lại phải rước thêm một cô nương nhà lành về để cùng chịu đày đọa nơi chốn thâm u này. Đại tẩu là trưởng tức nắm quyền nội trợ, nếu hắn cưới vợ về, thê tử của hắn sẽ đứng ở vị trí nào giữa muôn trùng toan tính của hai người chị dâu? Rốt cuộc cũng chỉ biến người phụ nữ vô tội ấy thành một quân cờ bị sai bảo, làm tốt thì chẳng ai khen thưởng mà hễ có chút sai sót thì muôn ngàn mũi dùi lập tức chĩa vào chỉ trích. Đến khi công việc làm ăn buôn bán ổn định trở lại, một câu nói con thứ sớm ra ở riêng của tổ mẫu sẽ lập tức quét sạch mẹ con nàng ra khỏi cửa. Hắn không phải là kẻ ngu ngốc để người ta giật dây; bản thân hắn còn chưa lo nổi sự bình yên cho mình thì lấy tư cách gì để liên lụy đến cuộc đời của một người con gái khác. Mệnh của hắn từ lúc sinh ra dường như đã được định sẵn là kẻ cô độc không có một mái ấm gia đình thực sự.
Nằm trên chiếc giường gỗ đơn sơ trong biệt phủ, Thượng Thiện thở dài một tiếng thật sâu rồi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ chập chờn. Ngày hôm sau, hắn vừa mới tận hưởng được vài ngày thanh tịnh tại biệt phủ thì gia nhân Lục phủ lại hớt hải chạy đến truyền lời bảo tổ mẫu bệnh tình trở nặng, đòi hắn phải lập tức quay về. Thượng Thiện đành nuốt giận trở lại Lục gia, kiên nhẫn ngồi nghe tổ mẫu than ngắn thở dài, khóc lóc trách móc hắn bất hiếu, rồi một mực ép hắn phải nhận lời để bà đứng ra mai mối một thiên kim tiểu thư giàu có. Thượng Thiện kiên quyết từ chối chuyện cưới xin, nhưng để xoa dịu cơn giận của bà lão, hắn đành phải nhượng bộ một bước, đồng ý dọn đồ trở lại ở hẳn tại Lục phủ và không được tự ý bỏ về biệt viện nữa.
Hắn thừa hiểu tâm cơ của lão tổ mẫu; bà sợ hắn một khi bỏ đi thì cơ nghiệp vải vóc của Lục gia sẽ không có người gánh vác, cho nên mới muốn cưới vợ cho hắn để dùng thê nhi làm con tin trói buộc tâm trí hắn. Hắn không oán, cũng chẳng hận, chỉ cảm thấy một nỗi mệt mỏi rã rời buông xuống tận đáy lòng. Nghĩ bụng mình chẳng khác nào một gã tổng quản làm thuê không công cho Lục gia, hắn liền chọn cách sống thản nhiên buông xuôi: sáng sớm đến thỉnh an tổ mẫu theo đúng đạo hiếu, ban ngày lấy cớ bận rộn đi tuần tra các cửa tiệm và trang trại ngoại thành, đến tối muộn mới trở về phòng đóng chặt cửa đi ngủ, tuyệt nhiên không ngồi chung mâm ăn cơm với đám người dòng chính nữa.
Hôm nay, để tránh né bầu không khí ngột ngạt trong thành Khai Phong, Thượng Thiện lại lấy lý do cưỡi ngựa đến trấn Lâm Dương để kiểm tra sổ sách của tú trang Lục gia. Trấn Lâm Dương nằm ở vị trí giáp ranh giữa phủ Khai Phong và Trương gia trang, tuy quy mô không quá lớn nhưng đường sá buôn bán lại vô cùng sầm uất nhờ nằm cạnh bờ sông Hoàng Hà nước chảy hiền hòa. Tú trang của Lục gia đặt tại đây vốn là nơi thu mua tơ tằm và phân phối vải vóc cho các xưởng may trong vùng. Khi Thượng Thiện bước vào kiểm tra, hắn phát hiện sổ sách chi tiêu bị làm giả một cách cẩu thả, tiền bạc thâm hụt nghiêm trọng. Tên chưởng quỹ tú trang lôi đủ mọi lý do thời tiết dịch bệnh ra chống chế, cuối cùng còn lớn tiếng lôi danh phận của nhị thiếu phu nhân ra để hù dọa hắn, lộ rõ bản chất là kẻ tay chân thân tín do nhà mẹ đẻ của nhị tẩu cài cắm vào để bòn rút của công. Thượng Thiện chẳng buồn đôi co với loại sâu mọt ấy, hắn chỉ lạnh lùng phân phó cho đại quản sự thân tín Lục Phong ở lại tiếp tục kiểm tra đối chiếu từng trang chứng từ, dùng mọi biện pháp cứng rắn nhất để buộc tên chưởng quỹ gian ngoan kia phải nôn sạch số bạc đã biển thủ ra bồi thường.
Xong xuôi mọi việc, Thượng Thiện thong thả dắt ngựa bước ra khỏi tú trang, hít một hơi thật sâu làn gió mát lành từ dòng sông thổi tới, cảm thấy những bức bối u uất trong lồng ngực vơi đi được quá nửa. Khi đang chậm rãi cưỡi ngựa đi ngang qua cổng ngôi trường tư thục nằm ở đầu trấn, hắn bỗng nghe thấy tiếng hò hét cãi vã vô cùng ồn ào của một đám học đồng đang tụ tập bên vệ đường. Từ trên lưng ngựa cao nhìn xuống, Thượng Thiện lập tức nhận ra một bóng hình nhỏ nhắn quen thuộc đang đứng đơn độc giữa vòng vây của đám trẻ nhà giàu, trên tay đang cố sức giằng lại dây cương của một con lừa lông ngắn gầy gò. Đó chính là Trương Cẩn Ngôn, đứa con nuôi tám tuổi của Lưu nương tử mà hắn vừa mới gặp gỡ cách đây không lâu.
Cẩn Ngôn lúc này đang đứng khoanh tay, cố gắng gồng mình giữ vẻ mặt nghiêm nghị chững chạc như người lớn, ánh mắt lạnh lùng nhìn trừng trừng vào đám bạn học đang vây quanh cười nhạo chế giễu mình. Đứng đối diện với cậu là Giang Sướng Nguyên, một đứa trẻ con nhà phú thương có vóc dáng to lớn vượt trội hơn hẳn các bạn cùng lứa. Giang Sướng Nguyên một tay nắm chặt bờm con lừa của Cẩn Ngôn, một tay chỉ thẳng vào mặt cậu bé mà quát tháo om sòm, chất vấn xem ai cho phép Cẩn Ngôn dám tự ý sửa lời văn trong bài tập, ai cho phép một đứa trẻ không cha không họ như cậu dám cãi lại lời của tiên sinh đồ gàn trong lớp học. Tên học đồng to xác còn hung hãn đe dọa rằng nếu Cẩn Ngôn không chịu quỳ xuống đất dập đầu tạ tội thì hắn sẽ cùng đám bạn dùng gậy đánh chết con lừa gầy này ngay tại chỗ.
Trước sự hung hăng của đối phương, Cẩn Ngôn chẳng hề lộ ra nửa phần sợ hãi. Cậu bé khẽ nhếch mép, buông một lời mỉa mai sắc lẹm rằng hãy cẩn thận kẻo lại bị con lừa này tung vó đá cho một phát vỡ mặt, để rồi lát nữa lại phải vừa ôm mông vừa chạy vào méch tiên sinh rằng mình bị bắt nạt. Lời nói đanh thép ấy lập tức chọc trúng chỗ đau của Giang Sướng Nguyên, khiến khuôn mặt béo tốt của hắn thoắt xanh thoắt đỏ vô cùng khó coi. Nguyên lai vừa rồi trong lúc xô xát, hắn đã sơ ý bị con lừa của Cẩn Ngôn đá cho một cú ngã chổng vó xuống rãnh nước, nước mắt nước mũi trên mặt còn chưa kịp khô ráo. Đám học đồng đứng vây quanh thấy vậy liền ôm bụng cười ngả nghiêng, càng làm cho Giang Sướng Nguyên thẹn quá hóa giận. Trong cơn điên cuồng vì mất mặt trước đám đông, hắn liền nghiến răng trút toàn bộ sự độc địa vào những lời lăng mạ nhắm thẳng vào Lưu nương tử, gào thét lên rằng chính vì Cẩn Ngôn có một người mẹ lăng loàn trắc nết bị Trương gia ruồng rẫy đuổi ra khỏi cửa nên mới nuôi dạy ra một thứ tạp chủng không biết xấu hổ như cậu.
Những đứa trẻ đứng cạnh vội vàng đưa tay kéo áo can ngăn Giang Sướng Nguyên lại, nhưng tất cả đã quá muộn màng. Ở trường tư thục này, đám học đồng dẫu có trêu chọc Cẩn Ngôn thế nào đi chăng nữa cũng đều phải giữ lại một chừng mực nhất định; bởi vì bất kỳ ai từng tiếp xúc đều biết rõ, đứa trẻ lém lỉnh ấy có thể nhẫn nhịn mọi lời chê bai về bản thân, nhưng hễ có kẻ nào dám xúc phạm đến danh dự của mẹ nuôi cậu thì Cẩn Ngôn sẽ lập tức biến thành một con thú dữ liều mạng bảo vệ mẫu thân đến cùng.
Lời sỉ nhục vừa mới dứt khỏi miệng Giang Sướng Nguyên, Cẩn Ngôn đã thét lên một tiếng phẫn nộ xé lòng, hai mắt cậu bé bỗng chốc đỏ rực lên như máu. Không một chút do dự, Cẩn Ngôn lao thẳng tới như một mũi tên rời cung, vung nắm đấm giáng liên tiếp ba bốn cú đòn sấm sét vào mặt kẻ vừa sỉ nhục mẹ mình. Bị đòn đánh bất ngờ làm cho choáng váng, Giang Sướng Nguyên loạng choạng lùi lại phía sau, miệng gầm rú điên loạn vung tay đánh trả. Đám học đồng xúm lại la hét kinh hãi, có đứa lao vào ôm lấy Cẩn Ngôn để kéo ra, nhưng cậu bé tám tuổi như phát cuồng, bất chấp những cú đấm đá loạn xạ của đám bạn học lớn hơn trút xuống lưng mình, cậu nghiến chặt răng ken két, dùng toàn bộ sức mạnh của bài quyền Vịnh Xuân được mẹ chỉ dạy liên tục tung đòn hiểm nhắm thẳng vào các huyệt đạo ở vùng thắt lưng của Giang Sướng Nguyên mà đánh tới tấp.
Chứng kiến cảnh tượng đứa trẻ liều mạng ẩu đả trong cơn phẫn uất tột cùng, Thượng Thiện không thể khoanh tay đứng nhìn được nữa. Hắn tung mình nhảy phắt xuống khỏi lưng ngựa, sải những bước chân dài đầy uy lực xông thẳng vào giữa đám đông hỗn loạn. Bàn tay rắn rỏi như gọng kìm thép của hắn vươn ra tóm chặt lấy cổ tay Cẩn Ngôn nhấc bổng lên, đồng thời cất giọng quát vang như sấm sét giữa trời quang, nghiêm khắc cảnh cáo rằng học quyền cước là để rèn luyện thân thể bảo vệ bản thân, chứ không phải để đem ra đánh nhau liều chết như loài dã thú. Hắn nạt rằng Cẩn Ngôn không nghĩ cho tính mạng của chính mình thì cũng phải biết nghĩ đến tấm lòng của người mẹ đang ngày đêm ngóng đợi ở nhà chứ.
Quay sang nhìn đám học đồng đang hoảng loạn, ánh mắt Thượng Thiện sắc lạnh như băng tuyết quét qua từng khuôn mặt non nớt. Bằng một ngữ điệu đanh thép đầy uy quyền của một bậc trưởng bối từng trải, hắn lớn tiếng chỉ trích đám trẻ nhà giàu rằng bọn chúng đến trường học sách thánh hiền để học đạo làm người, cớ sao lại mở miệng buông những lời dơ bẩn nhục mạ mẫu thân của người khác, phải chăng bao nhiêu chữ nghĩa của thánh nhân đọc được đều đã trôi hết vào bụng chó cả rồi. Khí thế bức người của chàng thương nhân cao lớn cùng lời răn đe nghiêm khắc khiến cho lũ trẻ sợ hãi hồn xiêu phách lạc. Đám học đồng lập tức buông tay tháo chạy tán loạn tứ phía, ngay cả Giang Sướng Nguyên mặt mũi sưng vù, chảy máu mồm máu mũi cũng chỉ biết ôm mặt vừa khóc vừa cắm đầu cắm cổ chạy trốn, bỏ lại một khoảng sân trống trải trước cổng tư thục.
Nơi vệ đường lúc này chỉ còn lại Thượng Thiện đang nắm chặt cánh tay Cẩn Ngôn, bên cạnh là con ngựa chiến bờm đen và con lừa lông ngắn đang thở phì phì những luồng hơi ấm áp. Thượng Thiện cúi đầu nhìn đứa trẻ trước mặt, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa khôn tả xiết. Sau trận ẩu đả không cân sức với đám bạn học lớn hơn, toàn thân Cẩn Ngôn phủ đầy bụi đất lấm lem, chiếc áo vải thô bị xé rách tả tơi nhiều chỗ. Khuôn mặt nhỏ nhắn của cậu bé bị đấm trúng tím bầm một bên má, khóe miệng rách toác rướm máu tươi, còn hai dòng máu mũi đỏ thẫm vẫn đang không ngừng chảy dài xuống cằm, nhỏ từng giọt lộp độp xuống vạt áo.
Cẩn Ngôn cúi gằm mặt xuống đất, đôi vai nhỏ bé run lên bần bật, khẽ giật giật cánh tay để rút ra khỏi sự kìm kẹp của Thượng Thiện. Thấy vậy, Thượng Thiện liền nhẹ nhàng buông tay ra. Cậu bé khịt khịt mũi, cố gắng nuốt ngược những giọt nước mắt uất ức vào trong lồng ngực, cất giọng ấp úng ngọng nghịu tạ ơn Lục công tử đã ra tay can thiệp và thừa nhận rằng bản thân mình đã làm sai. Nhìn thấy một đứa trẻ mới lên tám tuổi mà đã biết nhẫn nhịn, biết kiềm chế cảm xúc và hiểu chuyện đến mức đau lòng như thế, trái tim sắt đá của Thượng Thiện lập tức mềm nhũn ra. Hắn im lặng thò tay vào trong tay áo, rút ra một chiếc khăn lụa trắng sạch sẽ, cúi người xuống dịu dàng lau đi những vệt máu tươi và bụi bẩn bám trên mũi, trên khóe miệng của Cẩn Ngôn.
Cẩn Ngôn chắp hai tay lại thi lễ một cách vụng về, rồi tập tễnh bước lại gần dắt lấy dây cương của con lừa gầy định quay đầu trở về trang tử. Nhìn bóng dáng xiêu vẹo của đứa trẻ, Thượng Thiện cất giọng ôn tồn dỗ dành rằng nếu cậu cứ mang bộ dạng tàn tạ, áo rách mặt bê bết máu thế này mà bước chân về nhà thì làm sao tránh khỏi việc khiến cho mẫu thân phải đau lòng rơi nước mắt. Hắn đề nghị Cẩn Ngôn hãy theo chân hắn quay trở lại tú trang Lục gia cách đó không xa để rửa ráy mặt mũi, thoa chút cao dược giảm đau và tìm một bộ y phục mới tinh tươm thay đổi cho đàng hoàng rồi hãy về.
Cẩn Ngôn ngập ngừng suy nghĩ một lát, khuôn mặt nhỏ nhắn thoáng hiện lên vẻ e ngại và ngượng ngùng. Cậu bé lí nhí thưa rằng làm phiền Lục công tử nhiều lần như vậy thực sự là điều không nên. Thượng Thiện khẽ mỉm cười xoa đầu cậu bé, trong đáy mắt chợt lướt qua một tia đau đớn xa xăm; hắn thầm nghĩ nếu năm xưa người vợ trước không phạm phải lỗi lầm phản bội, thì đứa con của hai người nếu còn sống đến hôm nay có lẽ cũng đã khôn lớn trạc tuổi cậu bé này rồi. Hắn dịu dàng bảo rằng chỉ là việc rửa mặt cho sạch bụi đất và thay một chiếc áo mới thì có gì đáng gọi là phiền hà đâu.
Nghe những lời vỗ về ấm áp ấy, Cẩn Ngôn dẫu có gan dạ kiên cường đến đâu thì bản chất sâu xa vẫn chỉ là một đứa trẻ thơ dại. Suốt từ nãy đến giờ, toàn thân cậu bé đau nhức ê ẩm như muốn rụng rời từng khớp xương. Một mình cậu phải đương đầu chống chọi với cả đám học đồng hung hãn to xác hơn mình, làm sao trong lòng không có nỗi sợ hãi tột cùng. Những lần trước bị bạn học ức hiếp hay đánh lén, mỗi khi cậu vừa khóc vừa chạy về nhà kể lại, mẫu thân cậu lại đau lòng ôm chặt lấy cậu mà khóc còn to hơn, thậm chí còn phẫn uất bảo rằng không cần đến trường tư thục học chữ nữa mà sẽ mời thầy đồ về tận nhà dạy dỗ. Thế nhưng những vị tiên sinh đồ gàn trong vùng hễ nghe danh tiếng người mẹ là phụ nữ bị nhà chồng viết giấy hưu bỏ thì đều tìm đủ mọi lý do khinh khỉnh từ chối không chịu bước chân vào cửa.
Mẹ của cậu rốt cuộc có lỗi lầm gì đâu chứ? Trong tâm trí non nớt của Cẩn Ngôn, câu hỏi ấy đã day dứt cậu suốt bao năm tháng qua mà không có lời giải đáp. Mọi người lớn trong vùng đều cho rằng cậu còn quá nhỏ dại nên sẽ chẳng thể nào nhớ được những chuyện kinh hoàng xảy ra từ thuở lên hai lên ba. Thế nhưng trong những giấc ác mộng chập chờn hàng đêm, Cẩn Ngôn vẫn thường xuyên mơ thấy cảnh tượng hãi hùng năm xưa: người cha ruột nghiện ngập hung bạo túm lấy mái tóc dài của mẹ nuôi đập liên tiếp xuống nền đá hoa cương lạnh lẽo, máu tươi chảy đầm đìa nhuộm đỏ cả vạt áo trắng. Rõ ràng là người cha ruột kia tàn ác xấu xa, cớ sao miệng đời bên ngoài lại luôn buông lời cay nghiệt đổ hết mọi điều tiếng nhơ nhuốc lên đầu người mẹ hiền từ của cậu? Mẹ của cậu có chỗ nào không tốt, có điểm nào đáng bị người ta nguyền rủa khinh khi?
Kể từ sau những ký ức kinh hoàng đầy máu me ấy, Cẩn Ngôn sinh ra một nỗi chán ghét và thù địch sâu sắc đối với tất cả những người đàn ông lớn tuổi; mỗi khi nhìn thấy họ, cậu luôn ngửi thấy một mùi tanh tưởi rỉ sắt tựa như mùi máu tươi bốc lên từ những trận bạo hành năm nào. Thế nhưng đứng trước mặt chàng công tử họ Lục phong nhã tuấn tú này, Cẩn Ngôn lại tuyệt nhiên không hề cảm nhận được thứ mùi vị ghê sợ khiến người ta chán ghét ấy. Ngược lại, từ cử chỉ ân cần, ánh mắt bao dung cho đến hơi ấm từ bàn tay Thượng Thiện đều mang lại cho cậu một cảm giác an toàn và tin cậy đến kỳ lạ. Cậu bé mấp máy đôi môi sưng vù định cất tiếng nói lời cảm tạ, thế nhưng chưa kịp thốt ra được câu nào thì hai hàng nước mắt tủi thân kìm nén bấy lâu đã òa ra, lăn dài trên đôi gò má lấm lem cát bụi. Cẩn Ngôn vội vàng đưa ống tay áo rách lên lau vội, khiến cho vệt máu khô hòa cùng nước mắt biến thành một mảng lem luốc nhơ nhuốc trên mặt.
Thượng Thiện nhìn cảnh tượng ấy mà lồng ngực thắt lại từng cơn xót xa. Hắn không nói thêm lời nào nữa, khom lưng dang rộng đôi tay vững chãi ôm bổng Cẩn Ngôn đặt ngồi ngay ngắn lên phía trước yên ngựa của mình, sau đó một tay cầm chắc dây cương ngựa chiến, một tay dắt theo con lừa lông ngắn gầy gò. Hắn khẽ vỗ nhẹ vào vai đứa trẻ, cất giọng trầm ấm dặn dò Cẩn Ngôn hãy ngồi cho thật vững vàng, rồi thúc ngựa thong dong quay trở lại hướng đi về phía tú trang Lâm Dương, lòng thầm quyết tâm phải giúp đứa trẻ tội nghiệp này rửa sạch mọi vết thương thể xác lẫn tâm hồn trước khi đưa cậu bình an trở về bên vòng tay người mẹ.
Ngồi gọn gàng trong vòng tay vững chãi của Thượng Thiện trên lưng ngựa chiến, Cẩn Ngôn ban đầu còn có chút rụt rè ngượng nghịu, hai bàn tay nhỏ bé nắm chặt lấy mép bờm ngựa không dám nhúc nhích. Thế nhưng hơi ấm từ lồng ngực rộng lớn cùng nhịp tim đập đều đặn, khoan thai phía sau lưng đã nhanh chóng xua tan đi sự cảnh giác và lạnh lẽo đang bao trùm lấy tâm can cậu bé. Gió chiều từ sông Hoàng Hà thổi qua hàng liễu rủ ven đường mát rượi, mang theo mùi ngai ngái của đất ải và hương hoa dại nở muộn. Thượng Thiện ghìm ngựa đi thật chậm để cậu bé không bị xóc nảy làm động đến vết thương, thỉnh thoảng lại cúi đầu ân cần hỏi han xem cậu có thấy chóng mặt hay tức ngực ở đâu không. Cẩn Ngôn lắc đầu nhè nhẹ, đưa đôi mắt to tròn long lanh nhìn ngắm những mái ngói rêu phong và dòng người tấp nập ngược xuôi trên con phố chính của trấn Lâm Dương, cảm thấy nỗi sợ hãi ban nãy dường như đã bay biến tự bao giờ.
Cưỡi ngựa song hành cùng con lừa gầy đi qua từng dãy phố lát đá quen thuộc, Thượng Thiện nhìn đỉnh đầu tròn trịa của Cẩn Ngôn mà lòng dâng trào muôn vàn cảm xúc phức tạp. Suốt hơn ba mươi năm cuộc đời bôn ba gió bụi, hắn chưa từng nghĩ rằng mình lại có lúc gắn bó và kiên nhẫn chở che cho một đứa trẻ xa lạ đến nhường này. Tiếng vó ngựa lộc cộc gõ nhịp trên nền đá hoa cương vang lên đều đặn, tựa như một khúc ca xoa dịu đi những vết thương rỉ máu nơi đáy lòng của cả hai con người cô độc. Hắn tự nhủ với lòng mình rằng, dẫu nhân gian này có muôn vàn trắc trở, dẫu chốn hào môn Lục phủ có toan tính lạnh lùng đến đâu, thì sự ngây thơ và lòng hiếu thảo quật cường của đứa trẻ này cùng bản lĩnh kiên trinh của người mẹ nơi thôn dã kia chính là những điều thuần khiết, đáng trân trọng nhất mà hắn nhất định phải dốc lòng gìn giữ.
Khi bóng ngựa dừng lại trước cánh cổng gỗ sơn đỏ của tú trang Lục gia, đại quản sự Lục Phong đang đứng trông nom việc bốc dỡ vải vóc giật mình vội vàng chạy ra nghênh đón. Trông thấy công tử nhà mình ôm một đứa trẻ mặt mày bê bết máu bước xuống ngựa, Lục Phong tròn xoe đôi mắt kinh ngạc, toan cất tiếng hỏi han thì Thượng Thiện đã khẽ phất tay ra hiệu giữ im lặng. Thượng Thiện nhẹ nhàng bế Cẩn Ngôn đặt xuống chiếc ghế tựa bọc đệm êm ái trong sảnh đường, sau đó lập tức phân phó cho Lục Phong đi đun một chậu nước ấm sạch sẽ, mang theo chiếc khăn bông mềm mại cùng hũ cao dược trị thương tốt nhất của tú trang đến đây. Nhìn bóng dáng ân cần của Thượng Thiện tự tay xắn tay áo chuẩn bị lau rửa vết thương cho mình, hốc mắt Cẩn Ngôn lại một lần nữa cay xè, thầm nghĩ trong lòng rằng nếu người đàn ông này thực sự là cha ruột của cậu thì cuộc đời này sẽ ấm áp và hạnh phúc biết bao nhiêu.