Chương 1: Biến Cố Trương Gia
Cửa sau khu nhà cũ của Trương gia nằm sâu trong một con ngõ lát đá xanh rêu phong ở góc thành Khai Phong hôm nay bỗng nhiên trở nên huyên náo dịu thường. Khắp đầu ngõ cuối phố, tiếng bước chân vội vã, tiếng đòn gánh kẽo kẹt cùng tiếng xì xào bàn tán của đám phu phen và những người dân láng giềng tò mò túm năm tụm ba tạo nên một bầu không khí hỗn độn khác hẳn vẻ tĩnh mịch thường ngày. Nguyên lai, khu trạch viện cổ kính rộng lớn này vốn dĩ được dành riêng cho Tam thiếu phu nhân Lưu thị đưa tiểu công tử từ kinh thành xuôi về phương bắc chịu tang lão tổ tông rồi nương lại nơi đây dưỡng bệnh. Thế nhưng chuyện đời trớ trêu ai ngờ, tang lễ lão tổ tông vừa mới vãn hồi chưa được bao lâu, trong phủ đã rộ lên tin dữ rằng Tam thiếu phu nhân vì mắc phải ác tật khó dung thứ mà bị gia tộc thẳng tay viết giấy hưu thê tống khứ ra khỏi cửa, thậm chí ngay cả đứa trẻ con nuôi nhỏ dại theo chân nàng cũng bị trừ bỏ tên họ ra khỏi tộc tịch trăm năm của Trương gia. Ấy vậy mà sáng nay, khi nàng cùng tỳ nữ thân cận quay về thu dọn tư trang đồ đạc để chuẩn bị dời đến một trang tử nhỏ nơi thôn dã, tuyệt nhiên chẳng có lấy một tên gia bộc nào dám đứng ra làm khó hay buông lời cay nghiệt. Ngược lại, đám tôi tớ cũ trong nhà vẫn giữ nguyên vẻ cung kính ân cần như xưa, người người tranh nhau phụ giúp gồng gánh hòm xiểng, khuân vác các bao tải lương thực lên xe kéo, thậm chí có vài bà vú già từng chịu ơn cứu mạng năm xưa còn len lén nép sau gốc cây hòe đưa vạt áo thô lên lau nước mắt rấm rứt. Những người hiếu kỳ đứng vây quanh xem náo nhiệt bên ngoài cổng vòm cũng chỉ dám thì thầm to nhỏ với nhau, thỉnh thoảng lại để lọt ra những tiếng thở dài ngao ngán cùng mấy câu chê trách việc sủng thiếp diệt thê thất đức của chốn hào môn.
Đứng ngay bậc thềm đá cửa sau, chưởng quỹ Trương Minh tay cầm sổ sách, đôi lông mày nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, mắt không ngừng đảo quanh đốc thúc việc xếp đặt hàng chục bao gạo trắng ngần cùng những tấm chăn bông dày dặn lên ba cỗ xe bò đang chờ sẵn. Đôi vai hơi còng của người đàn ông trung niên khẽ run rẩy theo từng hơi thở dài nặng nhọc, đáy mắt chất chứa nỗi u hoài khôn tả xiết. Vừa lúc đó, Lục Quý, một gã gia nhân lanh lợi phục vụ dưới trướng Lục gia, dắt ngựa đi ngang qua định bàn chuyện thu mua một lô vải vóc, thấy cảnh tượng lạ lùng bèn ghìm cương đứng lại, thuận miệng cười trêu chọc một câu. Lục Quý chỉ tay về phía những bao tải xếp cao ngất ngưởng trên thùng xe, giọng đầy vẻ ngạc nhiên mà hỏi rằng Trương đại chưởng quỹ chuẩn bị đến mười mấy bao gạo đầy ắp thế kia, ngần ấy lương thảo e là đủ cho một gia đình ăn ròng rã suốt mấy mùa, cớ sao vẫn còn muốn chất thêm chăn đệm nhiều như vậy. Thuận đà câu chuyện, Lục Quý liền hạ thấp giọng dò hỏi xem Trương gia vốn dĩ là thế gia vọng tộc danh giá bậc nhất vùng, cớ sự gì bỗng dưng lại xảy ra chuyện hưu thê đuổi con nhốn nháo cả một góc phố như thế này.
Nghe lời hỏi thăm, Trương Minh khẽ lắc đầu, nụ cười trên môi đắng ngắt như vừa nhấm phải quả bồ hòn. Lão thở hắt ra một hơi, chậm rãi nói rằng thân phận mình chỉ là họ hàng xa ngoài năm đời, xét về mặt địa vị thì làm sao dám can dự hay tỏ tường hết mọi uẩn khúc trong nội viện của các bậc chủ tử nơi kinh thành. Tuy nhiên, thê tử của lão trước đây vốn là đại nha hoàn đắc ý nhất hầu hạ bên cạnh lão tổ tông, sau này lại được cắt cử theo phò tá Tam thiếu phu nhân, cho nên chút tình nghĩa cùng nỗi oan khuất của người thì lão hiểu rõ hơn ai hết. Giờ đây người đã nhận hưu thư, danh phận chẳng còn, mọi người ra ngoài cũng chỉ có thể gọi một tiếng Lưu nương tử mà thôi. Trương Minh ngậm ngùi giãi bày rằng vị thiếu phu nhân này thực chất là một bậc kỳ nữ hiền lương thấu đáo, tính tình độ lượng bao dung hiếm có trên đời; nhưng dù có lương thiện, có chu toàn đến đâu đi chăng nữa thì ở chốn thâm trạch đại viện đầy rẫy mưu mô toan tính, nàng cũng chẳng thể nào trốn thoát khỏi cái nạn sủng thiếp diệt thê tàn độc. Nếu không phải vì sự bất công thấu trời ấy, một người đoan chính như nàng làm sao có thể rơi vào kết cục thảm thương, chịu tiếng bị ruồng bỏ như ngày hôm nay.
Lời nói của Trương Minh khiến Lục Quý không khỏi giật mình kinh ngạc. Hắn nhớ rất rõ Trương lão gia nhiều năm trước đã đem theo phần lớn gia quyến rời phủ Khai Phong để dời lên kinh thành định cư, chỉ để lại nơi quê nhà một vài cửa hàng buôn bán cùng khu trạch viện cũ này. Những năm trước, việc làm ăn buôn bán của Trương gia ở Khai Phong thoạt nhìn vô cùng ảm đạm lụi tàn, tựa như đống pháo nổ dở ẩm ướt sau đêm giao thừa. Thế nhưng kể từ khi Tam thiếu phu nhân Lưu thị được đưa về nhà cũ với danh nghĩa tĩnh dưỡng bệnh tật, các cửa hiệu bỏ hoang bỗng nhiên khởi sắc một cách diệu kỳ, trong suốt ba năm qua mối lái tấp nập, tài lộc dồi dào, thậm chí việc kinh doanh còn phát đạt rực rỡ hơn cả thời kỳ hưng thịnh trước kia. Người ngoài phố nhìn vào ai nấy đều thầm khen ngợi tài dùng người khéo léo cùng con mắt tinh tường của vị dâu thứ nhà họ Trương, mà tấm gương của đại chưởng quỹ Trương Minh chính là bằng chứng rõ ràng nhất. Lục Quý vốn dĩ lần này phụng mệnh chủ nhân đến đây để bàn tính chuyện bắt tay liên kết làm ăn buôn bán lâu dài với Trương gia, thế nhưng vừa trông thấy cảnh gia phong đảo lộn, đối xử bạc bẽo với hiền thê như thế này, trong lòng hắn không khỏi dâng lên một mối hoài nghi sâu sắc cùng nỗi thất vọng não nề.
Không nén nổi tính tò mò, Lục Quý liền tiến lại gần thêm một bước, thấp giọng thăm dò cặn kẽ ngọn ngành nguyên do. Trương Minh nhìn quanh quất một hồi, thấy đám gia bộc đang bận rộn buộc dây thừng chuyển đồ, bèn kéo Lục Quý bước vào gian phòng nhỏ bên cạnh thềm cửa rót chén trà nóng đãi khách. Đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ mộc, Trương Minh thở dài sườn sượt, trong lòng trào dâng nỗi xót xa khôn tả. Vợ chồng lão nhiều năm trước từng chịu ơn cứu mạng và cưu mang sâu nặng của Lưu nương tử, nếu không có bàn tay che chở của nàng thì hôm nay cả nhà lão đã sớm vùi thây nơi đất khách quê người, làm sao có được cơ ngơi đàng hoàng như ngày hôm nay. Nghĩ đến chuyện lão tổ tông vừa mới nhắm mắt xuôi tay, lão thái thái trong kinh thành đã lộ rõ bản chất cay nghiệt độc đoán, chỉ một mực dung túng cho đứa con trai trụy lạc của mình mà thẳng tay ép buộc viết hưu thư ruồng rẫy thiếu phu nhân, Trương Minh cảm thấy lồng ngực mình nghẹn thắt lại từng cơn. Người ta đuổi nàng đi mà chẳng thèm mảy may đoái hoài xem thanh danh của một nữ nhân bị hưu sau này sẽ ra sao, tương lai nương tựa vào đâu để sống, thậm chí ngay cả đứa cháu nhỏ vô tội lớn lên bên gối nàng cũng bị tước đoạt sạch trơn tộc tịch danh phận.
Nhấp một ngụm trà chát đắng, Trương Minh bắt đầu kể lại chuỗi ngày cay đắng mà Lưu nương tử phải gánh chịu kể từ ngày bước chân qua ngưỡng cửa Trương gia. Năm xưa khi Tam công tử Trương Minh thành thân, nhà họ Trương đã làm một chuyện trái khuấy rúng động cả kinh kỳ khi đồng thời nâng hai cỗ kiệu hoa qua cửa trong cùng một ngày, một kiệu rước chính thất Lưu thị, còn một kiệu rước quý thiếp Triệu di nương. Vị Triệu di nương kia vốn là biểu muội ruột thịt của Tam công tử, lại là cháu gái cưng của bà cô mẫu đương kim lão thái thái, cậy thế có hậu thuẫn vững chắc nên vừa bước vào cửa đã diễu võ giương oai, không coi ai ra gì. Suốt những năm tháng làm dâu, Lưu nương tử phải nhẫn nhục chịu đựng đủ mọi sự hắt hủi và ủy khuất đắng cay. Thế nhưng nàng lại là người có tấm lòng quảng đại, hiểu lễ nghĩa và thấu tình đạt lý đến mức phi thường. Về sau, Tam công tử tính tình trăng hoa liên tục nạp thêm các phòng thiếp thất khác vào hậu viện, một tay Lưu nương tử đứng ra sắp xếp chu toàn từng chỗ ăn chốn ở, khuyên bảo đối đãi công bằng khiến cho cả chốn nội đình luôn giữ được vẻ ngoài hòa thuận êm ấm.
Nói đến đây, Trương Minh bất giác hạ thấp giọng xuống chỉ còn như tiếng gió thoảng qua kẽ lá, vẻ mặt lộ rõ sự kinh hãi bí hiểm. Lão ghé sát tai Lục Quý mà tiết lộ rằng, Trương gia trên danh nghĩa có ba vị công tử quyền quý, thế nhưng các phòng của đại công tử và nhị công tử con nối dõi vô cùng gian nan, các thai phụ trong hậu viện nếu không sảy thai bất thường thì con trẻ sinh ra cũng yểu mệnh chết non một cách đầy uẩn khúc. Duy chỉ có phòng của Tam công tử dưới sự quản lý nghiêm cẩn, công bằng và che chở của Lưu nương tử là có được ba nam một nữ bình an khôn lớn qua khỏi tuổi ấu thơ. Lục Quý nghe xong khẽ gật đầu, trong lòng không khỏi rùng mình thán phục. Chuyện tranh giành con nối dõi trong chốn thâm cung hào môn từ xưa đến nay vốn là cuộc chiến ngầm đẫm máu không tiếng súng, nếu vị Tam thiếu phu nhân này không phải là bậc túc trí đa mưu, có tài trị gia xuất chúng và bản lĩnh vững vàng như núi đá thì làm sao có thể giữ gìn cho đàn con thơ của các thiếp thất được vẹn toàn giữa muôn vàn cạm bẫy trùng trùng như thế được.
Thấy vậy, Lục Quý lại càng thêm thắc mắc không hiểu vì lẽ gì một người vợ hiền đức, có công lao to lớn như thế lại bị bức bách đến bước đường cùng. Trương Minh lại thở dài một hơi thật dài, mắt lão đỏ hoe khi nhắc đến thảm kịch năm xưa. Vốn dĩ sau bao năm tháng nhẫn nhịn và dùng đức hạnh cảm hóa, quan hệ tình cảm phu thê giữa Lưu nương tử và Tam công tử đã bắt đầu có chiều hướng chuyển biến tốt đẹp, dần dần thấu hiểu và gắn bó cùng nhau. Nào ngờ tai họa ập đến khi Tam công tử bị đám bạn bè xấu rủ rê dính vào thứ khói phù dung nha phiến chết người. Đó là thứ độc dược làm băng hoại nhân tâm, khiến con người ta mất hết lý trí và nhân tính. Tam công tử sau khi đốt sạch toàn bộ bổng lộc và của cải riêng của mình vào làn khói đen tăm tối, liền quay sang ép buộc Tam thiếu phu nhân phải mở rương lấy hết của hồi môn ra cống nạp cho cơn nghiện. Lưu nương tử khóc lóc khổ sở khuyên lơn trượng phu quay đầu là bờ, hết lời can gián hắn dừng lại trước bờ vực thẳm. Thế nhưng đáp lại tấm chân tình ấy chỉ là những trận đòn roi tàn độc trút xuống như mưa bão. Trong một cơn cuồng loạn vì thiếu thuốc, hắn đã túm tóc đánh đập nàng dã man đến mức mặt mày bê bết máu tươi, khiến cái thai trong bụng nàng bị trụy xuống, vĩnh viễn tước đoạt đi thiên chức làm mẹ của một người phụ nữ.
Lục Quý nghe đến đây thì rợn cả tóc gáy, hai bàn tay bất giác siết chặt lại thành quyền, buột miệng hỏi dồn xem gia đình mẹ đẻ của nàng chẳng lẽ trơ mắt đứng nhìn mà không lên tiếng đòi lại công đạo hay sao. Trương Minh lắc đầu ngao ngán, chua chát trả lời rằng gia đình mẹ đẻ của Lưu nương tử vốn là dòng dõi quan lại đã suy tàn từ lâu, tính tình nhu nhược yếu hèn, chỉ sợ đắc tội với quyền thế Trương gia nên dẫu con gái ruột bị đánh đến mức dở sống dở chết cũng chỉ biết cắn răng nhẫn nhịn ngậm bồ hòn làm ngọt. Sau trận biến cố kinh hoàng ấy, Lưu nương tử mang thương tật đầy mình, thân thể bị tổn hại nặng nề đến mức các đại phu đều lắc đầu bảo rằng nàng cả đời này không thể hoài thai được nữa. Nhân cơ hội đó, Tam công tử dưới sự xúi giục của Triệu di nương liền làm ầm ĩ đòi phế bỏ thê tử. Lão tổ tông nhìn thấy tình cảnh ngang trái ấy, trong lòng biết rõ dâu hiền chịu oan khuất ngập trời nhưng vì bất lực trước sự suy đồi của đứa cháu trai nên đành bảo nàng tạm thời dời về nhà cũ ở Khai Phong tĩnh dưỡng. Trước khi nàng lên đường, một nha hoàn thông phòng trong viện vì khó sinh mà qua đời, bỏ lại một đứa con đỏ hỏn mới lên hai tuổi. Đứa trẻ tội nghiệp ấy từ khi lọt lòng mẹ đã do một tay Lưu nương tử ẵm bồng chăm bẵm, thấy nàng thu dọn đồ đạc liền túm chặt lấy vạt áo nàng khóc lóc thảm thiết đòi đi cùng. Giữa lúc thân thể mang trọng bệnh thập tử nhất sinh, Lưu nương tử vẫn gắng gượng dắt đứa bé đến trước giường lão tổ tông dập đầu cầu xin, khẩn khoản xin được mang đứa con côi cút ấy theo mình để sớm hôm chăm sóc.
Nghe đến đoạn này, Lục Quý không khỏi thở dài cảm thán rằng Lưu nương tử quả thực là người có tâm bồ tát, mà lão tổ tông nhà họ Trương cũng là người thấu suốt tỏ tường mọi sự. Trương Minh gật đầu đồng tình, bảo rằng cũng may là năm xưa lão tổ tông mềm lòng đồng ý cho nàng dắt đứa trẻ đi cùng, bằng không nếu bỏ lại chốn hậu viện kinh thành đầy rẫy tranh sủng độc địa kia thì đứa nhỏ đáng thương ấy e rằng cũng đã sớm trở thành một nấm mồ vô danh như bao đứa trẻ khác. Nghĩ đến cảnh tượng rùng rợn ấy, Lục Quý khẽ rùng mình, hoàn toàn từ bỏ ý định hợp tác làm ăn với một gia tộc có thói sủng thiếp diệt thê và tàn nhẫn như vậy. Hắn đứng dậy cáo từ Trương Minh, nhanh chóng cưỡi ngựa trở về bẩm báo lại toàn bộ đầu đuôi câu chuyện cho chủ nhân của mình là Lục Thượng Thiện.
Lục Thượng Thiện ngồi trong thư phòng tĩnh lặng, tay mân mê chén trà thanh ngọc, trầm ngâm lắng nghe từng lời tường thuật của Lục Quý. Hắn khẽ thở dài một tiếng, thản nhiên nhận xét rằng một kẻ trượng phu bại hoại gia phong, nghiện ngập đánh đập thê tử như Trương gia Tam công tử thì tuyệt đối không phải là đối tượng có thể đặt niềm tin để hợp tác buôn bán. Thế rồi, như sực nhớ ra điều gì, khóe môi Thượng Thiện bỗng cong lên một nụ cười hóm hỉnh, hắn quay sang nhìn Lục Quý trêu đùa rằng nghe đồn các nha hoàn do Lưu nương tử đích thân dạy dỗ đều là những cô nương hiểu biết chữ nghĩa, nết na thùy mị, người người trong vùng đều tranh nhau muốn dạm hỏi về làm vợ, nay tuổi của Lục Quý cũng không còn nhỏ nữa, hay là để hắn đứng ra lo liệu một phần sính lễ giúp gia nhân đi kết duyên lành. Mặt Lục Quý lập tức ửng đỏ lên vì ngượng ngùng, vội vàng xua tay phân trần rằng bản thân phận hèn mọn, đâu dám mơ tưởng trèo cao tới những cô nương quý giá ấy. Hai chủ tớ trêu chọc nhau đôi ba câu rồi Lục Quý khéo léo chuyển hướng nhắc đến chuyện chung thân đại sự của chính Thượng Thiện, khiến nụ cười trên gương mặt hắn dần thu liễm lại, phất tay bảo gia nhân lui ra ngoài để mình được yên tĩnh.
Lục Thượng Thiện, tên tự là Trì Doanh, vốn là con của người thiếp thất thất sủng trong Lục phủ. Mẹ đẻ của hắn phận mỏng qua đời từ thuở hắn còn ẵm ngửa, may nhờ có lòng thương xót của lão tổ mẫu mà hắn mới có thể bình an lớn lên giữa chốn hào môn đầy rẫy hiểm nguy. Năm mười sáu tuổi, Thượng Thiện đã sớm bộc lộ tư chất thông minh đỗ đạt tú tài, thế nhưng hắn lại sớm nhìn thấu sự giả tạo của chốn quan trường và thói đời bạc bẽo, bèn dứt khoát từ bỏ con đường cử nghiệp để dấn thân vào chốn thương trường, vào nam ra bắc làm một nho thương phong lưu tự tại. Năm mười tám tuổi, hắn vâng lời tổ mẫu thành thân với một thiên kim nhà đại phú thương dung mạo kiều diễm. Thế nhưng vì công việc làm ăn bận rộn quanh năm suốt tháng phải bôn ba ngoài ngàn dặm, người vợ trẻ chốn thâm khuê cô đơn tịch mịch đã không giữ tròn đạo tiết hạnh, tư thông với người ngoài mang thai trong lúc hắn vắng nhà suốt bảy tháng ròng. Khi sự việc vỡ lở, Lục phủ nhốn nháo suýt làm tổ mẫu tức giận mà qua đời, nhưng Thượng Thiện lại chọn cách xử lý bao dung và điềm tĩnh đến lạ thường. Hắn không đánh đập, không làm nhục thê tử, mà chỉ lặng lẽ cười khổ, chủ động viết giấy hòa ly êm thắm để nàng mang toàn bộ của hồi môn trở về nhà mẹ đẻ rồi tái giá với người khác. Bản thân hắn từng chứng kiến nỗi đau của mẹ đẻ làm thiếp thất chịu cảnh lạnh nhạt năm xưa nên thấu hiểu sự cô quạnh của nữ nhân; dẫu cảm giác bị phản bội cay đắng khôn cùng, nhưng việc làm khó một người phụ nữ yếu đuối thì có gì vẻ vang đâu. Kể từ ngày ấy, Thượng Thiện đoạn tuyệt hẳn với nữ sắc, không nạp thê thiếp, dành trọn tâm trí cho những chuyến buôn đường dài. Đêm nay, trước khi khép lại trang sách để chìm vào giấc ngủ, hình bóng của người phụ nữ mang danh hạ đường thê chịu nhiều oan khuất nơi Trương gia bất giác lướt qua tâm trí hắn, để lại một tiếng thở dài man mác giữa đêm đông lạnh giá.
Mấy ngày sau, Thượng Thiện nhận lời mời của một vài người bạn cũ cùng đi du ngoạn trên sông. Khi đoàn người cưỡi ngựa đi ngang qua khu vực Trương gia trang, hắn bỗng thấy phía trước có một đám đông tụ tập nhốn nháo chắn ngang cả lối đi, tiếng la hét chửi bới om sòm vang lên không ngớt. Thượng Thiện ghìm cương ngựa, sai tiểu tư đi nghe ngóng tình hình thì được biết đó chính là cổng trang tử của Lưu nương tử. Đám người đang đứng hò hét mồm năm miệng mười kia toàn là những kẻ thân thích vô lại của Trương gia kéo đến, vu khống nàng sau khi bị hưu đã tẩu tán chiếm đoạt gia sản tổ tiên của bọn họ, đòi nàng phải nôn hết tiền bạc ra trả lại, trong lời nói không ngớt tuôn ra những từ ngữ dơ bẩn lăng mạ nhân phẩm. Thượng Thiện nhíu chặt đôi mày, cảm thấy phường vô lại ỷ thế hiếp đáp cô nhi quả phụ thật đáng khinh bỉ, đang định sai người của mình tiến lên can thiệp thì cánh cổng gỗ trang tử cọt kẹt mở toang.
Từ bên trong bước ra là một phụ nhân trạc ngoài hai mươi tuổi, thân vận một bộ y phục bằng vải thô màu trắng ngà mộc mạc, mái tóc búi gọn cài một chiếc trâm gỗ đơn sơ. Khuôn mặt nàng tròn trịa với làn da bánh mật khỏe khoắn, toát lên một vẻ đoan trang, dịu dàng nhưng đôi lông mày rậm lại ánh lên nét quật cường kiên định lạ thường. Đáng chú ý và xót xa nhất chính là bên mắt trái của nàng có một vết sẹo dài xám trắng kéo dài từ mi mắt xuống tận gò má, trông vừa kinh tâm động phách lại vừa lộ rõ khí chất phong trần của người từng bước qua cõi chết. Trên tay nàng cầm chắc một cây Tề Mi côn dài ngang trán, đôi mắt sáng như sao lạnh lùng quét qua đám đông nhốn nháo trước mặt. Bằng một giọng nói trong trẻo đanh thép, nàng cất tiếng hỏi thẳng rằng đây là đất họ Lưu, đám người kia mang họ Trương thì lấy tư cách gì dám đến trước cửa nhà nàng lớn tiếng la hét càn quấy.
Đám vô lại Trương gia thấy một phụ nữ bước ra liền cười ồ lên bỉ ổi, thi nhau buông lời trêu ghẹo sàm sỡ, thậm chí có hai gã to con định nhào tới giở trò động tay động chân. Nhìn thấy cảnh tượng đó, Thượng Thiện không kìm được cơn giận, lớn tiếng quát bảo tiểu tư Lục gia lập tức xông lên đuổi bọn chúng đi. Thế nhưng hắn chưa kịp dứt lời thì Lưu nương tử đã ra tay trước. Cây Tề Mi côn trong tay nàng vung lên vun vút, ngọn côn biến ảo khôn lường lúc đánh sang trái lúc quét sang phải, chỉ trong chớp mắt đã đánh ngã lăn ba tên vô lại xuống đất ôm đầu rên rỉ. Đám tiểu tư của Lục gia theo Thượng Thiện vào nam ra bắc vốn có chút thân thủ cũng nhanh chóng ùa vào tiếp ứng, chẳng mấy chốc đã đánh cho bảy tám kẻ còn lại ngã dúi dụi, quần áo xộc xệch nằm bò la liệt trên mặt đất. Thượng Thiện thấy tình hình đã được kiểm soát bèn cất tiếng can ngăn, bảo chỉ cần cho bọn chúng một bài học cảnh cáo là đủ, chớ nên gây ra án mạng rắc rối.
Lưu nương tử nghe vậy liền thu côn lại, cười lạnh một tiếng đầy khí phách. Nàng chỉ ngọn côn vào mặt đám lưu manh đang run rẩy dưới đất, bảo rằng bọn chúng nên tạ ơn vị công tử cưỡi ngựa kia đã kịp thời lên tiếng, bằng không hôm nay nàng đã phế sạch đôi chân của từng tên một. Nói đoạn, nàng xoay tròn cây Tề Mi côn trên tay, dùng hết sức bình sinh nện mạnh một phát như trời giáng vào khối đá buộc ngựa lớn nhất đặt bên thềm cửa. Một tiếng động chát chúa vang lên, khối đá to bằng chiếc cối xay bỗng chốc vỡ vụn thành nhiều mảnh nhỏ. Nàng quét ánh mắt sắc như dao cau nhìn quanh đám đông đứng xem náo nhiệt, gằn giọng hỏi xem bọn chúng muốn đầu mình cứng hơn hay tảng đá này cứng hơn. Chứng kiến cảnh tượng người phụ nữ vung côn dũng mãnh chẳng khác nào Dạ Xoa giáng trần, đám người hiếu kỳ sợ hãi hét lên một tiếng rồi cắm đầu cắm cổ bỏ chạy tán loạn, chỉ còn lại đoàn người của Lục Thượng Thiện đứng đối diện với Lưu nương tử trước cổng trang tử.
Lưu nương tử lúc này mới buông côn, nhẹ nhàng nâng vạt áo thô cúi mình thi lễ tạ ơn theo đúng phép tắc của một khuê nữ hiểu lễ nghĩa. Thượng Thiện lập tức nhảy xuống ngựa, chắp tay hoàn lễ đáp lại. Khi liếc mắt nhìn xuống những mảnh đá vỡ vụn vương vãi trên nền đất, khóe miệng hắn bất giác giật giật, trong lòng dâng lên một nỗi buồn cười khôn xiết. Vốn là một thương nhân từng đi khắp thiên hạ, tầm mắt rộng mở, hắn chỉ cần liếc qua là nhận ra ngay khối đá buộc ngựa kia thực chất đã được đập vỡ từ trước rồi dùng hồ dán lại một cách khéo léo để thị uy dọa người mà thôi. Người phụ nữ này quả thực có một sự cơ trí và khôi hài vượt xa tưởng tượng của hắn. Thượng Thiện cố nén nụ cười trong bụng, cất giọng ôn hòa nhắc nhở rằng tảng đá vỡ này nàng nên sớm sai người dọn dẹp đi kẻo lại làm vấp ngã người qua đường. Lưu nương tử hơi ngây người ra một chút rồi lập tức nở một nụ cười ngầm hiểu, biết mánh khóe của mình đã bị chàng công tử tinh đời này nhìn thấu. Nàng quay đầu gọi nha hoàn Tứ Hỉ Nhi ra thu dọn rồi rải chút nước muối trừ tà, sau đó một lần nữa cúi đầu tạ ơn sự tương trợ của Thượng Thiện. Thượng Thiện mỉm cười bảo rằng đó chỉ là chuyện nhấc tay chi lao, rồi lên ngựa dẫn đoàn người thong dong rời đi.
Đi được một đoạn, thư đồng Thị Mặc tủm tỉm cười nói với chủ nhân rằng côn pháp của Lưu nương tử quả thực rất mực tề chỉnh, chỉ tiếc là sức lực của đàn bà con gái có hạn nên đòn đánh chưa đủ uy lực. Thượng Thiện bật cười bảo nếu nàng thực sự có sức mạnh ngút trời thì đã chẳng cần phải dùng hồ dán tảng đá giả làm gì. Tuy nhiên trong lòng hắn lại dấy lên một nỗi băn khoăn khó hiểu; nhìn những bước di chuyển linh hoạt của nàng, rõ ràng là người từng luyện võ thuật phòng thân từ nhỏ, cớ sao năm xưa lại để cho gã trượng phu nghiện ngập đánh đập đến mức sảy thai và để lại vết sẹo kinh tâm động phách trên mặt như thế được. Thị Mặc thở dài than rằng làm người đôi khi không nên quá mức hiền lương, một côn dũng mãnh kia năm xưa đáng lý ra nàng phải giáng thẳng vào đầu gã chồng nhẫn tâm của mình mới phải lẽ. Thượng Thiện khẽ liếc nhìn tiểu thư đồng một cái rồi thúc ngựa phi nhanh, để lại làn bụi mờ bay lơ lửng trên con đường thôn dã.
Khoảng một tháng sau đó, Thượng Thiện vốn định thu xếp công việc buôn bán để tiếp tục những chuyến đi xa, thế nhưng cơn bạo bệnh bất ngờ của lão tổ mẫu đã buộc hắn phải ở lại thành Khai Phong. Lục gia vốn có nghề kinh doanh tơ lụa vải vóc lâu đời, nắm giữ nhiều xưởng nhuộm và trang trại trù phú, thế nhưng sau khi phụ thân và đại nương qua đời, sản nghiệp ngày một sa sút dưới sự quản lý vụng về của hai người ca ca dòng chính. Tổ mẫu vì muốn giữ chân Thượng Thiện để hắn chèo chống cơ nghiệp gia đình nên liên tục khóc lóc van nài, ép hắn phải ra mặt trông nom sổ sách. Thượng Thiện vì chữ hiếu đành nhận lời, nhưng trong lòng luôn cảm thấy bức bối ngột ngạt khi hai người ca ca học đòi thói phong lưu của kẻ sĩ diện hão suốt ngày dè chừng, soi mói sổ sách hòng đề phòng hắn thâu tóm gia sản. Chán ngán cảnh huynh đệ tương tàn, Thượng Thiện thường xuyên lấy cớ đi kiểm tra các điền trang và cửa tiệm ngoại thành để hít thở bầu không khí thanh sạch của đất trời.
Một buổi trưa hè oi ả, sau khi đi tuần trang xong xuôi và đang thong thả cưỡi ngựa trở về, Thượng Thiện bỗng nhìn thấy phía trước có hai bóng người một lớn một nhỏ đang thong dong cưỡi trên lưng hai con lừa gầy. Đứa trẻ ngồi trên con lừa đi trước cất giọng đọc sách lảnh lót, thanh âm non nớt trẻ thơ vang vọng khắp bờ ruộng vắng lặng. Đứa bé đọc từng câu trong bài Lục Nga thuộc phần Tiểu Nhã của Kinh Thi, ca ngợi công ơn sinh thành dưỡng dục cực nhọc của cha mẹ, rồi bỗng ngập ngừng quay đầu lại hỏi người mẹ đi phía sau xem câu tiếp theo là gì. Tiếng đáp lời của người phụ nữ vang lên trong trẻo nhưng lại mang một ngữ điệu vô cùng quen thuộc: bình chi khánh hĩ, duy lôi chi sỉ. Thượng Thiện nhướng mày ngạc nhiên, ngẩng đầu nhìn kỹ thì nhận ra bóng lưng quen thuộc của Lưu nương tử.
Hai mẹ con vừa đi vừa rôm rả đàm đạo về ý nghĩa của câu thơ cổ. Đứa trẻ ngây thơ hỏi vì sao bình rượu nhỏ cạn thì lại là lỗi của vò rượu lớn, người mẹ liền giải thích theo lối ví von hóm hỉnh rằng đó chỉ là cách nói hoa mỹ của những văn nhân cổ hủ thích dùng lời lẽ bóng bẩy mà thôi. Thấy con trai lo lắng bảo mẹ nói xấu văn nhân như vậy lỡ đến tai tiên sinh dạy học sẽ bị phạt, Lưu nương tử liền trêu chọc hỏi xem cậu là con trai của nàng hay là con trai của tiên sinh, rốt cuộc là muốn đứng về phe nào. Đứa trẻ lập tức dõng dạc tuyên bố mình đứng về phía lẽ phải chứ không màng tình thân, khiến nàng tức mình mắng yêu con là đồ bất hiếu, đồ không ra gì. Cậu bé liền nở một nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời ban mai, lém lỉnh chơi chữ đáp lại rằng mình đang cười tươi thế này thì sao gọi là bất tiếu được. Hai mẹ con cứ thế trêu đùa nhau bằng những từ ngữ kỳ lạ như cấm vận kinh tế hay làm việc không màng quan hệ, khiến Thượng Thiện ngồi trên lưng ngựa đi phía sau không nhịn được mà bật cười thành tiếng.
Tiếng cười bất ngờ của hắn làm kinh động đôi mẫu tử phía trước. Con đường đất giữa ruộng lúa vốn nhỏ hẹp chỉ vừa đủ cho hai con lừa đi song song, cỗ ngựa lớn của Thượng Thiện không thể vượt lên được. Thấy có người lạ, hai mẹ con lập tức thu lại nụ cười đùa giỡn, nghiêm túc nép vào vệ cỏ nhường đường. Thượng Thiện ghìm ngựa lại gần, lịch thiệp chắp tay chào hỏi Lưu nương tử rồi đưa mắt nhìn cậu bé Cẩn Ngôn. Cậu bé tuy nước da hơi ngăm đen vì dãi nắng dầm sương nhưng khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, sống mũi cao thẳng và toát lên một vẻ thông minh đĩnh đạc hiếm thấy ở lứa tuổi lên tám. Thượng Thiện tự giới thiệu tên mình là Lục Thượng Thiện, nhã nhặn mời hai mẹ con cùng đồng hành trò chuyện cho vui vẻ. Cậu bé Cẩn Ngôn tuy còn nhỏ tuổi nhưng lại cố tình bắt chước dáng vẻ chững chạc của người lớn, chắp tay thưa gửi vô cùng lễ phép khiến Thượng Thiện càng thêm yêu mến.
Vừa đi vừa chuyện trò, Thượng Thiện biết được tên của cậu bé là Cẩn Ngôn do chính tay Lưu nương tử đặt cho, trong lòng hắn không khỏi dâng lên niềm cảm khái sâu xa. Hắn thấu hiểu sâu sắc thân phận con thứ mồ côi mẹ thiệt thòi biết bao nhiêu; nếu Cẩn Ngôn không may mắn có được một người mẹ cả nhân từ, thương yêu như con ruột dắt đi khỏi vũng lầy năm xưa thì giờ này tính mạng của cậu bé chưa biết sẽ trôi dạt về phương trời nào. Cảm mến tư chất thông minh và sự hiếu thảo của cậu bé, Thượng Thiện liền đưa tay vào thắt lưng, tháo ra một miếng ngọc bội tùy thân bằng ngọc bích sáng bóng chạm khắc hoa văn tinh xảo, nhã nhặn ngỏ ý muốn trao tặng cho Cẩn Ngôn làm kỷ niệm tao ngộ đầu tiên giữa hai người.
Cẩn Ngôn nhìn miếng ngọc bội quý giá rồi lại quay sang nhìn mẹ, cậu bé hắng giọng một tiếng làm dáng người lớn, chắp tay khéo léo từ chối rằng người xưa có dạy vô công bất hưởng lộc, tâm ý của Lục công tử cậu xin ghi nhận nhưng đồ vật quý giá như thế này tuyệt đối không dám nhận bừa. Thượng Thiện cười lớn, dẫn ra câu nói trưởng giả ban thưởng không thể từ chối trong Lễ Ký để trêu chọc cậu bé. Cẩn Ngôn chưa học tới thiên sách ấy nên bối rối quay sang cầu cứu mẹ, khiến Lưu nương tử cũng phải bật cười theo, bèn gật đầu bảo con hãy cung kính nhận lấy tấm lòng thơm thảo của Lục công tử. Cậu bé ngoan ngoãn cúi đầu tạ ơn rồi cẩn thận cất miếng ngọc bội vào túi áo ngực.
Đến ngã ba đường chia tay, Cẩn Ngôn thở phào một hơi than thở rằng nói chuyện với những người đọc sách chữ nghĩa quả thực vô cùng mệt mỏi, chẳng thể nào tự nhiên thoải mái được. Lưu nương tử liền cười bảo con hãy dẹp bỏ mộng tưởng thi đỗ làm quan để mang mũ phượng áo choàng về cho mẹ đi, chi bằng ngoan ngoãn ở nhà cày cấy làm ruộng cho an lành. Cẩn Ngôn lập tức cãi lại rằng mình đọc sách không quên làm ruộng mà làm ruộng cũng chẳng quên việc đọc sách, quyết tâm sau này thi đỗ làm một viên quan coi việc nông nghiệp để vẻ vang gia môn. Hai mẹ con cứ thế vừa thúc lừa đi xa vừa tiếp tục đấu khẩu chí thúy, tiếng cười đùa rộn rã hòa lẫn trong tiếng bước chân lừa lộc cộc gõ nhịp trên nền đất khô.
Lục Thượng Thiện ghìm chặt dây cương ngựa, đứng sững lại bên bờ ruộng nhìn theo bóng lưng hai mẹ con dần khuất sau rặng tre xanh ngắt. Khói lam chiều từ những mái nhà tranh ven sông bắt đầu bốc lên lững lờ trong làn gió mát, ánh hoàng hôn dát một màu vàng cam ấm áp lên khắp các cánh đồng lúa đang thì con gái. Những lời nói đùa giỡn mộc mạc mà chan chứa tình thân ruột thịt ấy cứ văng vẳng bên tai hắn, rót vào tâm hồn người lãng tử một cảm giác ấm áp lạ kỳ mà suốt ba mươi năm qua hắn chưa từng được nếm trải. Mãi đến khi bóng dáng hai mẹ con hoàn toàn chìm vào ráng chiều xa xăm, Thượng Thiện mới khẽ buông một tiếng thở dài man mác, chậm rãi quay đầu ngựa hướng về phía thành Khai Phong hoa lệ nhưng lạnh lẽo vô tình, lòng thầm nghĩ rằng đóa mai kiên cường vượt qua bão tuyết kia quả thực là một kỳ tích tuyệt diệu của nhân gian.
Cửa sau khu nhà cũ của Trương gia nằm sâu trong một con ngõ lát đá xanh rêu phong ở góc thành Khai Phong hôm nay bỗng nhiên trở nên huyên náo dịu thường. Khắp đầu ngõ cuối phố, tiếng bước chân vội vã, tiếng đòn gánh kẽo kẹt cùng tiếng xì xào bàn tán của đám phu phen và những người dân láng giềng tò mò túm năm tụm ba tạo nên một bầu không khí hỗn độn khác hẳn vẻ tĩnh mịch thường ngày. Nguyên lai, khu trạch viện cổ kính rộng lớn này vốn dĩ được dành riêng cho Tam thiếu phu nhân Lưu thị đưa tiểu công tử từ kinh thành xuôi về phương bắc chịu tang lão tổ tông rồi nương lại nơi đây dưỡng bệnh. Thế nhưng chuyện đời trớ trêu ai ngờ, tang lễ lão tổ tông vừa mới vãn hồi chưa được bao lâu, trong phủ đã rộ lên tin dữ rằng Tam thiếu phu nhân vì mắc phải ác tật khó dung thứ mà bị gia tộc thẳng tay viết giấy hưu thê tống khứ ra khỏi cửa, thậm chí ngay cả đứa trẻ con nuôi nhỏ dại theo chân nàng cũng bị trừ bỏ tên họ ra khỏi tộc tịch trăm năm của Trương gia. Ấy vậy mà sáng nay, khi nàng cùng tỳ nữ thân cận quay về thu dọn tư trang đồ đạc để chuẩn bị dời đến một trang tử nhỏ nơi thôn dã, tuyệt nhiên chẳng có lấy một tên gia bộc nào dám đứng ra làm khó hay buông lời cay nghiệt. Ngược lại, đám tôi tớ cũ trong nhà vẫn giữ nguyên vẻ cung kính ân cần như xưa, người người tranh nhau phụ giúp gồng gánh hòm xiểng, khuân vác các bao tải lương thực lên xe kéo, thậm chí có vài bà vú già từng chịu ơn cứu mạng năm xưa còn len lén nép sau gốc cây hòe đưa vạt áo thô lên lau nước mắt rấm rứt. Những người hiếu kỳ đứng vây quanh xem náo nhiệt bên ngoài cổng vòm cũng chỉ dám thì thầm to nhỏ với nhau, thỉnh thoảng lại để lọt ra những tiếng thở dài ngao ngán cùng mấy câu chê trách việc sủng thiếp diệt thê thất đức của chốn hào môn.
Đứng ngay bậc thềm đá cửa sau, chưởng quỹ Trương Minh tay cầm sổ sách, đôi lông mày nhíu chặt lại thành một đường thẳng tắp, mắt không ngừng đảo quanh đốc thúc việc xếp đặt hàng chục bao gạo trắng ngần cùng những tấm chăn bông dày dặn lên ba cỗ xe bò đang chờ sẵn. Đôi vai hơi còng của người đàn ông trung niên khẽ run rẩy theo từng hơi thở dài nặng nhọc, đáy mắt chất chứa nỗi u hoài khôn tả xiết. Vừa lúc đó, Lục Quý, một gã gia nhân lanh lợi phục vụ dưới trướng Lục gia, dắt ngựa đi ngang qua định bàn chuyện thu mua một lô vải vóc, thấy cảnh tượng lạ lùng bèn ghìm cương đứng lại, thuận miệng cười trêu chọc một câu. Lục Quý chỉ tay về phía những bao tải xếp cao ngất ngưởng trên thùng xe, giọng đầy vẻ ngạc nhiên mà hỏi rằng Trương đại chưởng quỹ chuẩn bị đến mười mấy bao gạo đầy ắp thế kia, ngần ấy lương thảo e là đủ cho một gia đình ăn ròng rã suốt mấy mùa, cớ sao vẫn còn muốn chất thêm chăn đệm nhiều như vậy. Thuận đà câu chuyện, Lục Quý liền hạ thấp giọng dò hỏi xem Trương gia vốn dĩ là thế gia vọng tộc danh giá bậc nhất vùng, cớ sự gì bỗng dưng lại xảy ra chuyện hưu thê đuổi con nhốn nháo cả một góc phố như thế này.
Nghe lời hỏi thăm, Trương Minh khẽ lắc đầu, nụ cười trên môi đắng ngắt như vừa nhấm phải quả bồ hòn. Lão thở hắt ra một hơi, chậm rãi nói rằng thân phận mình chỉ là họ hàng xa ngoài năm đời, xét về mặt địa vị thì làm sao dám can dự hay tỏ tường hết mọi uẩn khúc trong nội viện của các bậc chủ tử nơi kinh thành. Tuy nhiên, thê tử của lão trước đây vốn là đại nha hoàn đắc ý nhất hầu hạ bên cạnh lão tổ tông, sau này lại được cắt cử theo phò tá Tam thiếu phu nhân, cho nên chút tình nghĩa cùng nỗi oan khuất của người thì lão hiểu rõ hơn ai hết. Giờ đây người đã nhận hưu thư, danh phận chẳng còn, mọi người ra ngoài cũng chỉ có thể gọi một tiếng Lưu nương tử mà thôi. Trương Minh ngậm ngùi giãi bày rằng vị thiếu phu nhân này thực chất là một bậc kỳ nữ hiền lương thấu đáo, tính tình độ lượng bao dung hiếm có trên đời; nhưng dù có lương thiện, có chu toàn đến đâu đi chăng nữa thì ở chốn thâm trạch đại viện đầy rẫy mưu mô toan tính, nàng cũng chẳng thể nào trốn thoát khỏi cái nạn sủng thiếp diệt thê tàn độc. Nếu không phải vì sự bất công thấu trời ấy, một người đoan chính như nàng làm sao có thể rơi vào kết cục thảm thương, chịu tiếng bị ruồng bỏ như ngày hôm nay.
Lời nói của Trương Minh khiến Lục Quý không khỏi giật mình kinh ngạc. Hắn nhớ rất rõ Trương lão gia nhiều năm trước đã đem theo phần lớn gia quyến rời phủ Khai Phong để dời lên kinh thành định cư, chỉ để lại nơi quê nhà một vài cửa hàng buôn bán cùng khu trạch viện cũ này. Những năm trước, việc làm ăn buôn bán của Trương gia ở Khai Phong thoạt nhìn vô cùng ảm đạm lụi tàn, tựa như đống pháo nổ dở ẩm ướt sau đêm giao thừa. Thế nhưng kể từ khi Tam thiếu phu nhân Lưu thị được đưa về nhà cũ với danh nghĩa tĩnh dưỡng bệnh tật, các cửa hiệu bỏ hoang bỗng nhiên khởi sắc một cách diệu kỳ, trong suốt ba năm qua mối lái tấp nập, tài lộc dồi dào, thậm chí việc kinh doanh còn phát đạt rực rỡ hơn cả thời kỳ hưng thịnh trước kia. Người ngoài phố nhìn vào ai nấy đều thầm khen ngợi tài dùng người khéo léo cùng con mắt tinh tường của vị dâu thứ nhà họ Trương, mà tấm gương của đại chưởng quỹ Trương Minh chính là bằng chứng rõ ràng nhất. Lục Quý vốn dĩ lần này phụng mệnh chủ nhân đến đây để bàn tính chuyện bắt tay liên kết làm ăn buôn bán lâu dài với Trương gia, thế nhưng vừa trông thấy cảnh gia phong đảo lộn, đối xử bạc bẽo với hiền thê như thế này, trong lòng hắn không khỏi dâng lên một mối hoài nghi sâu sắc cùng nỗi thất vọng não nề.
Không nén nổi tính tò mò, Lục Quý liền tiến lại gần thêm một bước, thấp giọng thăm dò cặn kẽ ngọn ngành nguyên do. Trương Minh nhìn quanh quất một hồi, thấy đám gia bộc đang bận rộn buộc dây thừng chuyển đồ, bèn kéo Lục Quý bước vào gian phòng nhỏ bên cạnh thềm cửa rót chén trà nóng đãi khách. Đặt chén trà xuống mặt bàn gỗ mộc, Trương Minh thở dài sườn sượt, trong lòng trào dâng nỗi xót xa khôn tả. Vợ chồng lão nhiều năm trước từng chịu ơn cứu mạng và cưu mang sâu nặng của Lưu nương tử, nếu không có bàn tay che chở của nàng thì hôm nay cả nhà lão đã sớm vùi thây nơi đất khách quê người, làm sao có được cơ ngơi đàng hoàng như ngày hôm nay. Nghĩ đến chuyện lão tổ tông vừa mới nhắm mắt xuôi tay, lão thái thái trong kinh thành đã lộ rõ bản chất cay nghiệt độc đoán, chỉ một mực dung túng cho đứa con trai trụy lạc của mình mà thẳng tay ép buộc viết hưu thư ruồng rẫy thiếu phu nhân, Trương Minh cảm thấy lồng ngực mình nghẹn thắt lại từng cơn. Người ta đuổi nàng đi mà chẳng thèm mảy may đoái hoài xem thanh danh của một nữ nhân bị hưu sau này sẽ ra sao, tương lai nương tựa vào đâu để sống, thậm chí ngay cả đứa cháu nhỏ vô tội lớn lên bên gối nàng cũng bị tước đoạt sạch trơn tộc tịch danh phận.
Nhấp một ngụm trà chát đắng, Trương Minh bắt đầu kể lại chuỗi ngày cay đắng mà Lưu nương tử phải gánh chịu kể từ ngày bước chân qua ngưỡng cửa Trương gia. Năm xưa khi Tam công tử Trương Minh thành thân, nhà họ Trương đã làm một chuyện trái khuấy rúng động cả kinh kỳ khi đồng thời nâng hai cỗ kiệu hoa qua cửa trong cùng một ngày, một kiệu rước chính thất Lưu thị, còn một kiệu rước quý thiếp Triệu di nương. Vị Triệu di nương kia vốn là biểu muội ruột thịt của Tam công tử, lại là cháu gái cưng của bà cô mẫu đương kim lão thái thái, cậy thế có hậu thuẫn vững chắc nên vừa bước vào cửa đã diễu võ giương oai, không coi ai ra gì. Suốt những năm tháng làm dâu, Lưu nương tử phải nhẫn nhục chịu đựng đủ mọi sự hắt hủi và ủy khuất đắng cay. Thế nhưng nàng lại là người có tấm lòng quảng đại, hiểu lễ nghĩa và thấu tình đạt lý đến mức phi thường. Về sau, Tam công tử tính tình trăng hoa liên tục nạp thêm các phòng thiếp thất khác vào hậu viện, một tay Lưu nương tử đứng ra sắp xếp chu toàn từng chỗ ăn chốn ở, khuyên bảo đối đãi công bằng khiến cho cả chốn nội đình luôn giữ được vẻ ngoài hòa thuận êm ấm.
Nói đến đây, Trương Minh bất giác hạ thấp giọng xuống chỉ còn như tiếng gió thoảng qua kẽ lá, vẻ mặt lộ rõ sự kinh hãi bí hiểm. Lão ghé sát tai Lục Quý mà tiết lộ rằng, Trương gia trên danh nghĩa có ba vị công tử quyền quý, thế nhưng các phòng của đại công tử và nhị công tử con nối dõi vô cùng gian nan, các thai phụ trong hậu viện nếu không sảy thai bất thường thì con trẻ sinh ra cũng yểu mệnh chết non một cách đầy uẩn khúc. Duy chỉ có phòng của Tam công tử dưới sự quản lý nghiêm cẩn, công bằng và che chở của Lưu nương tử là có được ba nam một nữ bình an khôn lớn qua khỏi tuổi ấu thơ. Lục Quý nghe xong khẽ gật đầu, trong lòng không khỏi rùng mình thán phục. Chuyện tranh giành con nối dõi trong chốn thâm cung hào môn từ xưa đến nay vốn là cuộc chiến ngầm đẫm máu không tiếng súng, nếu vị Tam thiếu phu nhân này không phải là bậc túc trí đa mưu, có tài trị gia xuất chúng và bản lĩnh vững vàng như núi đá thì làm sao có thể giữ gìn cho đàn con thơ của các thiếp thất được vẹn toàn giữa muôn vàn cạm bẫy trùng trùng như thế được.
Thấy vậy, Lục Quý lại càng thêm thắc mắc không hiểu vì lẽ gì một người vợ hiền đức, có công lao to lớn như thế lại bị bức bách đến bước đường cùng. Trương Minh lại thở dài một hơi thật dài, mắt lão đỏ hoe khi nhắc đến thảm kịch năm xưa. Vốn dĩ sau bao năm tháng nhẫn nhịn và dùng đức hạnh cảm hóa, quan hệ tình cảm phu thê giữa Lưu nương tử và Tam công tử đã bắt đầu có chiều hướng chuyển biến tốt đẹp, dần dần thấu hiểu và gắn bó cùng nhau. Nào ngờ tai họa ập đến khi Tam công tử bị đám bạn bè xấu rủ rê dính vào thứ khói phù dung nha phiến chết người. Đó là thứ độc dược làm băng hoại nhân tâm, khiến con người ta mất hết lý trí và nhân tính. Tam công tử sau khi đốt sạch toàn bộ bổng lộc và của cải riêng của mình vào làn khói đen tăm tối, liền quay sang ép buộc Tam thiếu phu nhân phải mở rương lấy hết của hồi môn ra cống nạp cho cơn nghiện. Lưu nương tử khóc lóc khổ sở khuyên lơn trượng phu quay đầu là bờ, hết lời can gián hắn dừng lại trước bờ vực thẳm. Thế nhưng đáp lại tấm chân tình ấy chỉ là những trận đòn roi tàn độc trút xuống như mưa bão. Trong một cơn cuồng loạn vì thiếu thuốc, hắn đã túm tóc đánh đập nàng dã man đến mức mặt mày bê bết máu tươi, khiến cái thai trong bụng nàng bị trụy xuống, vĩnh viễn tước đoạt đi thiên chức làm mẹ của một người phụ nữ.
Lục Quý nghe đến đây thì rợn cả tóc gáy, hai bàn tay bất giác siết chặt lại thành quyền, buột miệng hỏi dồn xem gia đình mẹ đẻ của nàng chẳng lẽ trơ mắt đứng nhìn mà không lên tiếng đòi lại công đạo hay sao. Trương Minh lắc đầu ngao ngán, chua chát trả lời rằng gia đình mẹ đẻ của Lưu nương tử vốn là dòng dõi quan lại đã suy tàn từ lâu, tính tình nhu nhược yếu hèn, chỉ sợ đắc tội với quyền thế Trương gia nên dẫu con gái ruột bị đánh đến mức dở sống dở chết cũng chỉ biết cắn răng nhẫn nhịn ngậm bồ hòn làm ngọt. Sau trận biến cố kinh hoàng ấy, Lưu nương tử mang thương tật đầy mình, thân thể bị tổn hại nặng nề đến mức các đại phu đều lắc đầu bảo rằng nàng cả đời này không thể hoài thai được nữa. Nhân cơ hội đó, Tam công tử dưới sự xúi giục của Triệu di nương liền làm ầm ĩ đòi phế bỏ thê tử. Lão tổ tông nhìn thấy tình cảnh ngang trái ấy, trong lòng biết rõ dâu hiền chịu oan khuất ngập trời nhưng vì bất lực trước sự suy đồi của đứa cháu trai nên đành bảo nàng tạm thời dời về nhà cũ ở Khai Phong tĩnh dưỡng. Trước khi nàng lên đường, một nha hoàn thông phòng trong viện vì khó sinh mà qua đời, bỏ lại một đứa con đỏ hỏn mới lên hai tuổi. Đứa trẻ tội nghiệp ấy từ khi lọt lòng mẹ đã do một tay Lưu nương tử ẵm bồng chăm bẵm, thấy nàng thu dọn đồ đạc liền túm chặt lấy vạt áo nàng khóc lóc thảm thiết đòi đi cùng. Giữa lúc thân thể mang trọng bệnh thập tử nhất sinh, Lưu nương tử vẫn gắng gượng dắt đứa bé đến trước giường lão tổ tông dập đầu cầu xin, khẩn khoản xin được mang đứa con côi cút ấy theo mình để sớm hôm chăm sóc.
Nghe đến đoạn này, Lục Quý không khỏi thở dài cảm thán rằng Lưu nương tử quả thực là người có tâm bồ tát, mà lão tổ tông nhà họ Trương cũng là người thấu suốt tỏ tường mọi sự. Trương Minh gật đầu đồng tình, bảo rằng cũng may là năm xưa lão tổ tông mềm lòng đồng ý cho nàng dắt đứa trẻ đi cùng, bằng không nếu bỏ lại chốn hậu viện kinh thành đầy rẫy tranh sủng độc địa kia thì đứa nhỏ đáng thương ấy e rằng cũng đã sớm trở thành một nấm mồ vô danh như bao đứa trẻ khác. Nghĩ đến cảnh tượng rùng rợn ấy, Lục Quý khẽ rùng mình, hoàn toàn từ bỏ ý định hợp tác làm ăn với một gia tộc có thói sủng thiếp diệt thê và tàn nhẫn như vậy. Hắn đứng dậy cáo từ Trương Minh, nhanh chóng cưỡi ngựa trở về bẩm báo lại toàn bộ đầu đuôi câu chuyện cho chủ nhân của mình là Lục Thượng Thiện.
Lục Thượng Thiện ngồi trong thư phòng tĩnh lặng, tay mân mê chén trà thanh ngọc, trầm ngâm lắng nghe từng lời tường thuật của Lục Quý. Hắn khẽ thở dài một tiếng, thản nhiên nhận xét rằng một kẻ trượng phu bại hoại gia phong, nghiện ngập đánh đập thê tử như Trương gia Tam công tử thì tuyệt đối không phải là đối tượng có thể đặt niềm tin để hợp tác buôn bán. Thế rồi, như sực nhớ ra điều gì, khóe môi Thượng Thiện bỗng cong lên một nụ cười hóm hỉnh, hắn quay sang nhìn Lục Quý trêu đùa rằng nghe đồn các nha hoàn do Lưu nương tử đích thân dạy dỗ đều là những cô nương hiểu biết chữ nghĩa, nết na thùy mị, người người trong vùng đều tranh nhau muốn dạm hỏi về làm vợ, nay tuổi của Lục Quý cũng không còn nhỏ nữa, hay là để hắn đứng ra lo liệu một phần sính lễ giúp gia nhân đi kết duyên lành. Mặt Lục Quý lập tức ửng đỏ lên vì ngượng ngùng, vội vàng xua tay phân trần rằng bản thân phận hèn mọn, đâu dám mơ tưởng trèo cao tới những cô nương quý giá ấy. Hai chủ tớ trêu chọc nhau đôi ba câu rồi Lục Quý khéo léo chuyển hướng nhắc đến chuyện chung thân đại sự của chính Thượng Thiện, khiến nụ cười trên gương mặt hắn dần thu liễm lại, phất tay bảo gia nhân lui ra ngoài để mình được yên tĩnh.
Lục Thượng Thiện, tên tự là Trì Doanh, vốn là con của người thiếp thất thất sủng trong Lục phủ. Mẹ đẻ của hắn phận mỏng qua đời từ thuở hắn còn ẵm ngửa, may nhờ có lòng thương xót của lão tổ mẫu mà hắn mới có thể bình an lớn lên giữa chốn hào môn đầy rẫy hiểm nguy. Năm mười sáu tuổi, Thượng Thiện đã sớm bộc lộ tư chất thông minh đỗ đạt tú tài, thế nhưng hắn lại sớm nhìn thấu sự giả tạo của chốn quan trường và thói đời bạc bẽo, bèn dứt khoát từ bỏ con đường cử nghiệp để dấn thân vào chốn thương trường, vào nam ra bắc làm một nho thương phong lưu tự tại. Năm mười tám tuổi, hắn vâng lời tổ mẫu thành thân với một thiên kim nhà đại phú thương dung mạo kiều diễm. Thế nhưng vì công việc làm ăn bận rộn quanh năm suốt tháng phải bôn ba ngoài ngàn dặm, người vợ trẻ chốn thâm khuê cô đơn tịch mịch đã không giữ tròn đạo tiết hạnh, tư thông với người ngoài mang thai trong lúc hắn vắng nhà suốt bảy tháng ròng. Khi sự việc vỡ lở, Lục phủ nhốn nháo suýt làm tổ mẫu tức giận mà qua đời, nhưng Thượng Thiện lại chọn cách xử lý bao dung và điềm tĩnh đến lạ thường. Hắn không đánh đập, không làm nhục thê tử, mà chỉ lặng lẽ cười khổ, chủ động viết giấy hòa ly êm thắm để nàng mang toàn bộ của hồi môn trở về nhà mẹ đẻ rồi tái giá với người khác. Bản thân hắn từng chứng kiến nỗi đau của mẹ đẻ làm thiếp thất chịu cảnh lạnh nhạt năm xưa nên thấu hiểu sự cô quạnh của nữ nhân; dẫu cảm giác bị phản bội cay đắng khôn cùng, nhưng việc làm khó một người phụ nữ yếu đuối thì có gì vẻ vang đâu. Kể từ ngày ấy, Thượng Thiện đoạn tuyệt hẳn với nữ sắc, không nạp thê thiếp, dành trọn tâm trí cho những chuyến buôn đường dài. Đêm nay, trước khi khép lại trang sách để chìm vào giấc ngủ, hình bóng của người phụ nữ mang danh hạ đường thê chịu nhiều oan khuất nơi Trương gia bất giác lướt qua tâm trí hắn, để lại một tiếng thở dài man mác giữa đêm đông lạnh giá.
Mấy ngày sau, Thượng Thiện nhận lời mời của một vài người bạn cũ cùng đi du ngoạn trên sông. Khi đoàn người cưỡi ngựa đi ngang qua khu vực Trương gia trang, hắn bỗng thấy phía trước có một đám đông tụ tập nhốn nháo chắn ngang cả lối đi, tiếng la hét chửi bới om sòm vang lên không ngớt. Thượng Thiện ghìm cương ngựa, sai tiểu tư đi nghe ngóng tình hình thì được biết đó chính là cổng trang tử của Lưu nương tử. Đám người đang đứng hò hét mồm năm miệng mười kia toàn là những kẻ thân thích vô lại của Trương gia kéo đến, vu khống nàng sau khi bị hưu đã tẩu tán chiếm đoạt gia sản tổ tiên của bọn họ, đòi nàng phải nôn hết tiền bạc ra trả lại, trong lời nói không ngớt tuôn ra những từ ngữ dơ bẩn lăng mạ nhân phẩm. Thượng Thiện nhíu chặt đôi mày, cảm thấy phường vô lại ỷ thế hiếp đáp cô nhi quả phụ thật đáng khinh bỉ, đang định sai người của mình tiến lên can thiệp thì cánh cổng gỗ trang tử cọt kẹt mở toang.
Từ bên trong bước ra là một phụ nhân trạc ngoài hai mươi tuổi, thân vận một bộ y phục bằng vải thô màu trắng ngà mộc mạc, mái tóc búi gọn cài một chiếc trâm gỗ đơn sơ. Khuôn mặt nàng tròn trịa với làn da bánh mật khỏe khoắn, toát lên một vẻ đoan trang, dịu dàng nhưng đôi lông mày rậm lại ánh lên nét quật cường kiên định lạ thường. Đáng chú ý và xót xa nhất chính là bên mắt trái của nàng có một vết sẹo dài xám trắng kéo dài từ mi mắt xuống tận gò má, trông vừa kinh tâm động phách lại vừa lộ rõ khí chất phong trần của người từng bước qua cõi chết. Trên tay nàng cầm chắc một cây Tề Mi côn dài ngang trán, đôi mắt sáng như sao lạnh lùng quét qua đám đông nhốn nháo trước mặt. Bằng một giọng nói trong trẻo đanh thép, nàng cất tiếng hỏi thẳng rằng đây là đất họ Lưu, đám người kia mang họ Trương thì lấy tư cách gì dám đến trước cửa nhà nàng lớn tiếng la hét càn quấy.
Đám vô lại Trương gia thấy một phụ nữ bước ra liền cười ồ lên bỉ ổi, thi nhau buông lời trêu ghẹo sàm sỡ, thậm chí có hai gã to con định nhào tới giở trò động tay động chân. Nhìn thấy cảnh tượng đó, Thượng Thiện không kìm được cơn giận, lớn tiếng quát bảo tiểu tư Lục gia lập tức xông lên đuổi bọn chúng đi. Thế nhưng hắn chưa kịp dứt lời thì Lưu nương tử đã ra tay trước. Cây Tề Mi côn trong tay nàng vung lên vun vút, ngọn côn biến ảo khôn lường lúc đánh sang trái lúc quét sang phải, chỉ trong chớp mắt đã đánh ngã lăn ba tên vô lại xuống đất ôm đầu rên rỉ. Đám tiểu tư của Lục gia theo Thượng Thiện vào nam ra bắc vốn có chút thân thủ cũng nhanh chóng ùa vào tiếp ứng, chẳng mấy chốc đã đánh cho bảy tám kẻ còn lại ngã dúi dụi, quần áo xộc xệch nằm bò la liệt trên mặt đất. Thượng Thiện thấy tình hình đã được kiểm soát bèn cất tiếng can ngăn, bảo chỉ cần cho bọn chúng một bài học cảnh cáo là đủ, chớ nên gây ra án mạng rắc rối.
Lưu nương tử nghe vậy liền thu côn lại, cười lạnh một tiếng đầy khí phách. Nàng chỉ ngọn côn vào mặt đám lưu manh đang run rẩy dưới đất, bảo rằng bọn chúng nên tạ ơn vị công tử cưỡi ngựa kia đã kịp thời lên tiếng, bằng không hôm nay nàng đã phế sạch đôi chân của từng tên một. Nói đoạn, nàng xoay tròn cây Tề Mi côn trên tay, dùng hết sức bình sinh nện mạnh một phát như trời giáng vào khối đá buộc ngựa lớn nhất đặt bên thềm cửa. Một tiếng động chát chúa vang lên, khối đá to bằng chiếc cối xay bỗng chốc vỡ vụn thành nhiều mảnh nhỏ. Nàng quét ánh mắt sắc như dao cau nhìn quanh đám đông đứng xem náo nhiệt, gằn giọng hỏi xem bọn chúng muốn đầu mình cứng hơn hay tảng đá này cứng hơn. Chứng kiến cảnh tượng người phụ nữ vung côn dũng mãnh chẳng khác nào Dạ Xoa giáng trần, đám người hiếu kỳ sợ hãi hét lên một tiếng rồi cắm đầu cắm cổ bỏ chạy tán loạn, chỉ còn lại đoàn người của Lục Thượng Thiện đứng đối diện với Lưu nương tử trước cổng trang tử.
Lưu nương tử lúc này mới buông côn, nhẹ nhàng nâng vạt áo thô cúi mình thi lễ tạ ơn theo đúng phép tắc của một khuê nữ hiểu lễ nghĩa. Thượng Thiện lập tức nhảy xuống ngựa, chắp tay hoàn lễ đáp lại. Khi liếc mắt nhìn xuống những mảnh đá vỡ vụn vương vãi trên nền đất, khóe miệng hắn bất giác giật giật, trong lòng dâng lên một nỗi buồn cười khôn xiết. Vốn là một thương nhân từng đi khắp thiên hạ, tầm mắt rộng mở, hắn chỉ cần liếc qua là nhận ra ngay khối đá buộc ngựa kia thực chất đã được đập vỡ từ trước rồi dùng hồ dán lại một cách khéo léo để thị uy dọa người mà thôi. Người phụ nữ này quả thực có một sự cơ trí và khôi hài vượt xa tưởng tượng của hắn. Thượng Thiện cố nén nụ cười trong bụng, cất giọng ôn hòa nhắc nhở rằng tảng đá vỡ này nàng nên sớm sai người dọn dẹp đi kẻo lại làm vấp ngã người qua đường. Lưu nương tử hơi ngây người ra một chút rồi lập tức nở một nụ cười ngầm hiểu, biết mánh khóe của mình đã bị chàng công tử tinh đời này nhìn thấu. Nàng quay đầu gọi nha hoàn Tứ Hỉ Nhi ra thu dọn rồi rải chút nước muối trừ tà, sau đó một lần nữa cúi đầu tạ ơn sự tương trợ của Thượng Thiện. Thượng Thiện mỉm cười bảo rằng đó chỉ là chuyện nhấc tay chi lao, rồi lên ngựa dẫn đoàn người thong dong rời đi.
Đi được một đoạn, thư đồng Thị Mặc tủm tỉm cười nói với chủ nhân rằng côn pháp của Lưu nương tử quả thực rất mực tề chỉnh, chỉ tiếc là sức lực của đàn bà con gái có hạn nên đòn đánh chưa đủ uy lực. Thượng Thiện bật cười bảo nếu nàng thực sự có sức mạnh ngút trời thì đã chẳng cần phải dùng hồ dán tảng đá giả làm gì. Tuy nhiên trong lòng hắn lại dấy lên một nỗi băn khoăn khó hiểu; nhìn những bước di chuyển linh hoạt của nàng, rõ ràng là người từng luyện võ thuật phòng thân từ nhỏ, cớ sao năm xưa lại để cho gã trượng phu nghiện ngập đánh đập đến mức sảy thai và để lại vết sẹo kinh tâm động phách trên mặt như thế được. Thị Mặc thở dài than rằng làm người đôi khi không nên quá mức hiền lương, một côn dũng mãnh kia năm xưa đáng lý ra nàng phải giáng thẳng vào đầu gã chồng nhẫn tâm của mình mới phải lẽ. Thượng Thiện khẽ liếc nhìn tiểu thư đồng một cái rồi thúc ngựa phi nhanh, để lại làn bụi mờ bay lơ lửng trên con đường thôn dã.
Khoảng một tháng sau đó, Thượng Thiện vốn định thu xếp công việc buôn bán để tiếp tục những chuyến đi xa, thế nhưng cơn bạo bệnh bất ngờ của lão tổ mẫu đã buộc hắn phải ở lại thành Khai Phong. Lục gia vốn có nghề kinh doanh tơ lụa vải vóc lâu đời, nắm giữ nhiều xưởng nhuộm và trang trại trù phú, thế nhưng sau khi phụ thân và đại nương qua đời, sản nghiệp ngày một sa sút dưới sự quản lý vụng về của hai người ca ca dòng chính. Tổ mẫu vì muốn giữ chân Thượng Thiện để hắn chèo chống cơ nghiệp gia đình nên liên tục khóc lóc van nài, ép hắn phải ra mặt trông nom sổ sách. Thượng Thiện vì chữ hiếu đành nhận lời, nhưng trong lòng luôn cảm thấy bức bối ngột ngạt khi hai người ca ca học đòi thói phong lưu của kẻ sĩ diện hão suốt ngày dè chừng, soi mói sổ sách hòng đề phòng hắn thâu tóm gia sản. Chán ngán cảnh huynh đệ tương tàn, Thượng Thiện thường xuyên lấy cớ đi kiểm tra các điền trang và cửa tiệm ngoại thành để hít thở bầu không khí thanh sạch của đất trời.
Một buổi trưa hè oi ả, sau khi đi tuần trang xong xuôi và đang thong thả cưỡi ngựa trở về, Thượng Thiện bỗng nhìn thấy phía trước có hai bóng người một lớn một nhỏ đang thong dong cưỡi trên lưng hai con lừa gầy. Đứa trẻ ngồi trên con lừa đi trước cất giọng đọc sách lảnh lót, thanh âm non nớt trẻ thơ vang vọng khắp bờ ruộng vắng lặng. Đứa bé đọc từng câu trong bài Lục Nga thuộc phần Tiểu Nhã của Kinh Thi, ca ngợi công ơn sinh thành dưỡng dục cực nhọc của cha mẹ, rồi bỗng ngập ngừng quay đầu lại hỏi người mẹ đi phía sau xem câu tiếp theo là gì. Tiếng đáp lời của người phụ nữ vang lên trong trẻo nhưng lại mang một ngữ điệu vô cùng quen thuộc: bình chi khánh hĩ, duy lôi chi sỉ. Thượng Thiện nhướng mày ngạc nhiên, ngẩng đầu nhìn kỹ thì nhận ra bóng lưng quen thuộc của Lưu nương tử.
Hai mẹ con vừa đi vừa rôm rả đàm đạo về ý nghĩa của câu thơ cổ. Đứa trẻ ngây thơ hỏi vì sao bình rượu nhỏ cạn thì lại là lỗi của vò rượu lớn, người mẹ liền giải thích theo lối ví von hóm hỉnh rằng đó chỉ là cách nói hoa mỹ của những văn nhân cổ hủ thích dùng lời lẽ bóng bẩy mà thôi. Thấy con trai lo lắng bảo mẹ nói xấu văn nhân như vậy lỡ đến tai tiên sinh dạy học sẽ bị phạt, Lưu nương tử liền trêu chọc hỏi xem cậu là con trai của nàng hay là con trai của tiên sinh, rốt cuộc là muốn đứng về phe nào. Đứa trẻ lập tức dõng dạc tuyên bố mình đứng về phía lẽ phải chứ không màng tình thân, khiến nàng tức mình mắng yêu con là đồ bất hiếu, đồ không ra gì. Cậu bé liền nở một nụ cười rạng rỡ như ánh mặt trời ban mai, lém lỉnh chơi chữ đáp lại rằng mình đang cười tươi thế này thì sao gọi là bất tiếu được. Hai mẹ con cứ thế trêu đùa nhau bằng những từ ngữ kỳ lạ như cấm vận kinh tế hay làm việc không màng quan hệ, khiến Thượng Thiện ngồi trên lưng ngựa đi phía sau không nhịn được mà bật cười thành tiếng.
Tiếng cười bất ngờ của hắn làm kinh động đôi mẫu tử phía trước. Con đường đất giữa ruộng lúa vốn nhỏ hẹp chỉ vừa đủ cho hai con lừa đi song song, cỗ ngựa lớn của Thượng Thiện không thể vượt lên được. Thấy có người lạ, hai mẹ con lập tức thu lại nụ cười đùa giỡn, nghiêm túc nép vào vệ cỏ nhường đường. Thượng Thiện ghìm ngựa lại gần, lịch thiệp chắp tay chào hỏi Lưu nương tử rồi đưa mắt nhìn cậu bé Cẩn Ngôn. Cậu bé tuy nước da hơi ngăm đen vì dãi nắng dầm sương nhưng khuôn mặt khôi ngô tuấn tú, sống mũi cao thẳng và toát lên một vẻ thông minh đĩnh đạc hiếm thấy ở lứa tuổi lên tám. Thượng Thiện tự giới thiệu tên mình là Lục Thượng Thiện, nhã nhặn mời hai mẹ con cùng đồng hành trò chuyện cho vui vẻ. Cậu bé Cẩn Ngôn tuy còn nhỏ tuổi nhưng lại cố tình bắt chước dáng vẻ chững chạc của người lớn, chắp tay thưa gửi vô cùng lễ phép khiến Thượng Thiện càng thêm yêu mến.
Vừa đi vừa chuyện trò, Thượng Thiện biết được tên của cậu bé là Cẩn Ngôn do chính tay Lưu nương tử đặt cho, trong lòng hắn không khỏi dâng lên niềm cảm khái sâu xa. Hắn thấu hiểu sâu sắc thân phận con thứ mồ côi mẹ thiệt thòi biết bao nhiêu; nếu Cẩn Ngôn không may mắn có được một người mẹ cả nhân từ, thương yêu như con ruột dắt đi khỏi vũng lầy năm xưa thì giờ này tính mạng của cậu bé chưa biết sẽ trôi dạt về phương trời nào. Cảm mến tư chất thông minh và sự hiếu thảo của cậu bé, Thượng Thiện liền đưa tay vào thắt lưng, tháo ra một miếng ngọc bội tùy thân bằng ngọc bích sáng bóng chạm khắc hoa văn tinh xảo, nhã nhặn ngỏ ý muốn trao tặng cho Cẩn Ngôn làm kỷ niệm tao ngộ đầu tiên giữa hai người.
Cẩn Ngôn nhìn miếng ngọc bội quý giá rồi lại quay sang nhìn mẹ, cậu bé hắng giọng một tiếng làm dáng người lớn, chắp tay khéo léo từ chối rằng người xưa có dạy vô công bất hưởng lộc, tâm ý của Lục công tử cậu xin ghi nhận nhưng đồ vật quý giá như thế này tuyệt đối không dám nhận bừa. Thượng Thiện cười lớn, dẫn ra câu nói trưởng giả ban thưởng không thể từ chối trong Lễ Ký để trêu chọc cậu bé. Cẩn Ngôn chưa học tới thiên sách ấy nên bối rối quay sang cầu cứu mẹ, khiến Lưu nương tử cũng phải bật cười theo, bèn gật đầu bảo con hãy cung kính nhận lấy tấm lòng thơm thảo của Lục công tử. Cậu bé ngoan ngoãn cúi đầu tạ ơn rồi cẩn thận cất miếng ngọc bội vào túi áo ngực.
Đến ngã ba đường chia tay, Cẩn Ngôn thở phào một hơi than thở rằng nói chuyện với những người đọc sách chữ nghĩa quả thực vô cùng mệt mỏi, chẳng thể nào tự nhiên thoải mái được. Lưu nương tử liền cười bảo con hãy dẹp bỏ mộng tưởng thi đỗ làm quan để mang mũ phượng áo choàng về cho mẹ đi, chi bằng ngoan ngoãn ở nhà cày cấy làm ruộng cho an lành. Cẩn Ngôn lập tức cãi lại rằng mình đọc sách không quên làm ruộng mà làm ruộng cũng chẳng quên việc đọc sách, quyết tâm sau này thi đỗ làm một viên quan coi việc nông nghiệp để vẻ vang gia môn. Hai mẹ con cứ thế vừa thúc lừa đi xa vừa tiếp tục đấu khẩu chí thúy, tiếng cười đùa rộn rã hòa lẫn trong tiếng bước chân lừa lộc cộc gõ nhịp trên nền đất khô.
Lục Thượng Thiện ghìm chặt dây cương ngựa, đứng sững lại bên bờ ruộng nhìn theo bóng lưng hai mẹ con dần khuất sau rặng tre xanh ngắt. Khói lam chiều từ những mái nhà tranh ven sông bắt đầu bốc lên lững lờ trong làn gió mát, ánh hoàng hôn dát một màu vàng cam ấm áp lên khắp các cánh đồng lúa đang thì con gái. Những lời nói đùa giỡn mộc mạc mà chan chứa tình thân ruột thịt ấy cứ văng vẳng bên tai hắn, rót vào tâm hồn người lãng tử một cảm giác ấm áp lạ kỳ mà suốt ba mươi năm qua hắn chưa từng được nếm trải. Mãi đến khi bóng dáng hai mẹ con hoàn toàn chìm vào ráng chiều xa xăm, Thượng Thiện mới khẽ buông một tiếng thở dài man mác, chậm rãi quay đầu ngựa hướng về phía thành Khai Phong hoa lệ nhưng lạnh lẽo vô tình, lòng thầm nghĩ rằng đóa mai kiên cường vượt qua bão tuyết kia quả thực là một kỳ tích tuyệt diệu của nhân gian.