Chương 1: Huyết Vết Nửa Đêm
Gió bấc tháng Chạp thổi qua kinh thành Thịnh Kinh tựa như từng nhát dao sắc lẹm cứa vào da thịt, rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe hở của khung cửa sổ gỗ đã mục nát theo năm tháng. Đêm đông lạnh buốt thấu xương, tuyết rơi lả tả tựa lông ngỗng từ bầu trời đen đặc giáng xuống, chẳng mấy chốc đã phủ lên những mái ngói rêu phong của Vĩnh Ninh bá phủ một lớp màn trắng xóa lạnh lùng và thê lương. Dưới bóng đêm dày đặc đặc quánh như mực tàu, cả tòa phủ đệ thênh thang bề thế vốn dĩ rực rỡ gấm hoa nay chìm vào sự tĩnh lặng chết chóc, chỉ còn nghe thấy tiếng cành mai cằn cỗi trong góc sân bị sức nặng của băng tuyết đè gãy răng rắc giòn tan. Trong căn phòng nhỏ nằm heo hút ở mép Tây sương phòng, nơi ngụ cư của Tam phòng quanh năm chịu nhiều ghẻ lạnh, một ngọn đèn dầu hạt đậu đang run rẩy tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt leo lét, in bóng một thân ảnh mảnh mai lên vách tường vôi loang lổ ẩm mốc. Thẩm Sở Vân, người trong phủ thường gọi bằng cái tên thân mật là Vân Nương, đang lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn gỗ thô ráp, hai bàn tay thon dài đan chặt vào nhau ghì lấy chiếc lò sưởi bằng đồng đã tắt lịm than tự bao giờ.
Nàng khẽ nâng mắt nhìn ra khung cửa sổ dán giấy dầu đang rung lên bần bật theo từng cơn gió lốc, đáy mắt đen láy phẳng lặng như mặt hồ mùa thu nhưng nơi sâu thẳm lại cuộn trào những đợt sóng bất an khôn xiết. Đêm nay, phu quân của nàng là Ôn Thiệu Đường, Tam công tử của Bá phủ, đã nhận lời mời đến dự hội ngâm thơ thưởng mai của đám nho sinh đồng môn nơi Quốc Tử Giám từ lúc chập tối mà đến tận giờ này vẫn chưa thấy bóng dáng trở về. Thiệu Đường vốn là con của một thứ thiếp bạc mệnh qua đời từ thuở chàng còn tấm bé, từ nhỏ đã quen sống trong cảnh lép vế tủi hờn, tính tình thuần hậu nho nhã, cả ngày chỉ biết vùi đầu vào điển tích cổ thư và mài mực chép sách, chưa từng để tâm đến những mưu mô tranh quyền đoạt lợi chốn quan trường hay sự hiểm độc sâu như biển nơi hậu viện. Nàng hiểu rõ tính chàng, chàng là một thư sinh thật thà đến mức ngây thơ, luôn tin rằng đạo lý thánh hiền và sự nhẫn nhịn có thể đổi lấy những tháng ngày bình yên thanh thản, nhưng ở cái nơi danh gia vọng tộc đã mục ruỗng từ trong xương tủy này, sự ngây thơ đôi khi lại chính là lưỡi dao đoạt mạng tàn nhẫn nhất.
Ba năm về làm dâu chốn Vĩnh Ninh bá phủ cũng là ba năm Vân Nương nếm trải đủ mọi cay đắng tủi nhục của một nàng dâu thứ xuất thân từ gia đình thương nhân lương y đất Giang Nam. Dù nàng mang theo số của hồi môn không hề nhỏ gồm ruộng đất màu mỡ và tiệm hương liệu làm ăn phát đạt, nhưng trong mắt mẹ kế Ngu thị cay nghiệt và Đại tẩu Tiền thị ngạo mạn, nàng chẳng qua chỉ là một đứa con gái nhà buôn thấp hèn may mắn được gả vào cửa quý tộc để làm bậc thang cho bọn họ bòn rút tiền của. Nàng đã nhẫn nhịn, đã thu mình lại như một cái bóng mờ nhạt nơi góc viện hoang phế này, ngày ngày tự tay may vá thêu thùa, chăm lo từng bữa ăn manh áo cho phu quân, chỉ mong sóng gió hào môn đừng thổi bạt mái nhà tranh nhỏ bé của hai người. Thế nhưng, đời người càng muốn an phận thì giông bão lại càng ập đến bất ngờ; từ ba ngày trước, khi tình cờ trông thấy những cỗ xe ngựa bịt kín bạt đen lặng lẽ rời khỏi cửa sau Bá phủ giữa đêm khuya dưới sự đốc thúc lén lút của quản gia tâm phúc của Vĩnh Ninh bá, linh tính của một người lớn lên trong gia đình buôn bán đã mách bảo nàng rằng có điều gì đó vô cùng khủng khiếp đang âm thầm diễn ra.
Nỗi lo âu ấy như loài cỏ dại bén rễ trong tâm can nàng suốt ba ngày ba đêm qua, khiến giấc ngủ của nàng chập chờn những cơn mộng mị hãi hùng. Nàng nhớ lại ánh mắt lấm lét, vội vã của gã quản gia Vương Đức khi hắn chỉ huy đám gia đinh chuyển những chiếc hòm gỗ nặng trịch bọc sắt đen lên xe ngựa giữa canh ba tăm tối. Mùi dầu trẩu nồng nặc dùng để bảo quản kim khí và mùi tanh lợm của sắt thép quân dụng không thể nào qua mắt được khứu giác nhạy bén của một người từ nhỏ đã tiếp xúc với trăm ngàn loại hương liệu và dược liệu như nàng. Vĩnh Ninh bá phủ vốn dĩ là phủ đệ của hàng công hầu huân quý được triều đình ban thưởng tước vị từ thuở lập quốc, nhưng trải qua ba đời tiêu xài hoang phí, ruộng đất phong thưởng đã bị cầm cố gần hết, bổng lộc triều đình chẳng đủ chi trả cho thói quen ăn chơi xa xỉ của đám con cháu dòng chính. Đại công tử Ôn Diệu Tổ là kẻ nghiện cờ bạc khét tiếng chốn kinh kỳ, từng ném hàng ngàn lượng bạc vào các sòng bạc lớn nhỏ chỉ trong một đêm say xỉn, còn Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm thì say mê những cuộc chạy chọt chức tước béo bở nơi Binh bộ để duy trì hư danh hão huyền.
Để lấp đầy cái hố sâu không đáy của lòng tham và nợ nần chồng chất, bọn họ đã bắt đầu nhòm ngó đến của hồi môn của các nàng dâu trong phủ, trong đó số điền trang và cửa tiệm hương liệu màu mỡ mà cha nàng để lại luôn là miếng mồi béo bở mà Ngu thị ngày đêm thèm muốn. Mới tháng trước, Ngu thị còn viện cớ sửa sang từ đường tổ tiên để bóng gió đòi nàng giao ra văn khế ba mươi mẫu ruộng màu mỡ ở ngoại thành, nhưng nàng đã khéo léo dùng sổ sách chi tiêu hàng ngày để từ chối êm thấm. Sự từ chối ấy tuy bảo toàn được chút tài sản phòng thân cho Tam phòng, nhưng lại khiến ánh mắt của mẹ kế và Đại tẩu nhìn nàng ngày càng thêm phần hằn học, cay độc tựa như muốn nuốt tươi nuốt sống. Vân Nương hiểu rằng, sự nhẫn nhịn của mình đã chạm đến giới hạn chịu đựng của bọn họ, và cái vẻ bình yên giả tạo nơi phủ đệ này thực chất chỉ là một lớp băng mỏng manh giăng trên miệng vực thẳm sâu vạn trượng.
Chính vì linh cảm thấy mối nguy hiểm vô hình đang ngày một đến gần, ba ngày trước nàng đã đánh liều giao cho Trúc Nhi, đứa nha hoàn thân cận đã cùng nàng lớn lên từ thuở ấu thơ ở Tô Châu, một nhiệm vụ vô cùng mạo hiểm. Trúc Nhi tuy là phận nữ nhi nhưng từ nhỏ đã lanh lợi, tháo vát, lại biết chút ngón nghề trèo tường lội suối nhờ những năm tháng theo cha nàng bốc thuốc cứu người nơi thôn dã. Nàng bảo Trúc Nhi bí mật bám theo đoàn xe ngựa của gã quản gia Vương Đức để tìm hiểu xem bọn họ đang lén lút vận chuyển thứ gì ra khỏi kinh thành giữa đêm hôm khuya khoắt. Thế nhưng, kể từ khoảnh khắc chiếc bóng nhỏ bé của Trúc Nhi biến mất sau cánh cổng ngách của phủ đệ vào cái đêm tuyết rơi đầu mùa ấy, nàng bặt vô âm tín, không một tin tức nào gửi về khiến lòng Vân Nương như có lửa đốt, ruột gan cồn cào như bị xát muối.
Mỗi khi nhớ lại nụ cười rạng rỡ và ánh mắt kiên định của Trúc Nhi trước khi rời đi, lòng Vân Nương lại dâng lên một nỗi hối hận khôn nguôi; cô bé ấy năm nay mới tròn mười tám tuổi, độ tuổi đẹp nhất của đời người con gái, vậy mà đã phải cùng nàng gánh vác bao nỗi nhọc nhằn, cay đắng nơi đất khách quê người. Trúc Nhi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, năm tám tuổi lưu lạc đến đất Giang Nam suýt chết đói bên bờ kênh, may nhờ có phụ thân Thẩm lão gia đưa về nuôi nấng và dạy dỗ, hai người tuy danh nghĩa là chủ tớ nhưng tình cảm gắn bó chẳng khác nào chị em ruột thịt cùng chung một khúc ruột. Vân Nương tự trách mình quá đỗi nông nổi, vì một chút nghi ngờ mà đẩy đứa em gái duy nhất vào nơi hiểm địa, nơi mà lòng dạ con người còn tàn độc và thâm sâu hơn cả loài lang sói chốn rừng hoang.
Căn phòng Tây sương phòng càng về khuya lại càng thêm lạnh lẽo, gió đông lùa qua những vết nứt trên tường khiến ngọn đèn dầu chập chờn, bóng nàng in lên vách lúc mờ lúc tỏ tựa như một linh hồn lạc lõng giữa cõi u minh. Nàng nhớ đến Ôn Thiệu Đường, nhớ đến ánh mắt trong veo như suối nguồn của chàng mỗi khi say sưa đàm đạo về những khúc thi văn cổ xưa; chàng thư sinh ấy hiền lành đến mức chẳng nỡ giẫm chết một con kiến, mỗi bữa ăn đều nhường miếng ngon cho thê tử, mỗi độ đông về đều thức khuya chép sách thuê cho thư quán để dành dụm từng đồng bạc vụn mua cho nàng một thỏi son hay một chiếc khăn tay mới. Chàng từng nắm lấy đôi bàn tay thô ráp vì may vá của nàng mà nghẹn ngào hứa hẹn, rằng đợi đến kỳ đại khoa sang năm, khi chàng thi đỗ bảng vàng và được triều đình bổ nhiệm làm một chức quan huyện nhỏ ở chốn đồng quê xa xôi, chàng sẽ đưa nàng rời khỏi chốn kinh kỳ ngột ngạt này để sống những tháng ngày thanh đạm, tự do tự tại.
Lời ước hẹn ấy đẹp đẽ và ấm áp biết bao, nó là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn Vân Nương suốt ba năm qua giữa mùa đông lạnh giá của Bá phủ, nhưng giờ đây, khi nhìn vào hiện thực tàn khốc trước mắt, nàng bỗng cảm thấy ước mơ ấy sao mà mong manh và xa vời vợi tựa như làn khói sương mờ ảo. Gia tộc họ Ôn này giống như một cây cổ thụ khổng lồ đã mục ruỗng toàn bộ phần gốc rễ, chỉ cần một cơn gió mạnh thổi qua là có thể đổ sụp bất cứ lúc nào, đè bẹp tất cả những sinh linh nhỏ bé đang nương náu dưới bóng râm của nó. Chàng thư sinh của nàng vẫn còn đang mải mê ngâm vịnh những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của hoa mai trong tuyết trắng nơi hội thơ tao nhã, chàng nào đâu biết rằng giông bão ngập trời sắp sửa biến cả tòa lâu đài nguy nga này thành tro bụi điêu tàn.
Tiếng chuông đồng từ lầu gác xa xăm của kinh thành điểm ba tiếng trầm đục báo hiệu canh ba đã điểm, tiếng chuông xé toạc màn sương mù đặc quánh rồi chìm nghỉm vào tiếng gió đông gầm rú ngoài trời. Ngọn đèn dầu trên bàn bỗng chao nghiêng dữ dội, ngọn lửa hạt đậu nhảy nhót chập chờn như muốn lụi tàn trước một luồng tà phong lạnh buốt từ đâu thốc tới. Vân Nương giật mình, đưa bàn tay run rẩy lên che chắn cho ngọn lửa mong manh, đồng thời mi mắt bên phải của nàng lại giật mạnh liên hồi thành từng hồi dồn dập. Người xưa thường bảo mắt trái giật là tài lộc, mắt phải giật là tai ương, và chưa bao giờ linh tính của nàng lại báo hiệu một điềm dữ nặng nề và rõ rệt đến mức khiến toàn thân nàng ớn lạnh như lúc này. Nàng đứng dậy, khoác thêm tấm áo choàng mỏng đã sờn chỉ quanh bờ vai gầy, toan bước ra cửa ngóng trông thì một âm thanh lạ lùng bỗng vang lên từ góc vườn phía sau.
Đó là một chuỗi âm thanh lạo xạo dồn dập, tựa như có vật gì nặng nề đang lê lết trên nền tuyết xốp xen lẫn tiếng cành cây khô gãy vụn và tiếng thở dốc nghẹn ngào đứt quãng. Giữa đêm khuya vắng vẻ không một bóng người, khi mà ngay cả tiếng thở của loài sâu bọ cũng bị cái rét đông miên vùi lấp dưới lớp băng dày, tiếng động ấy vang lên nghe rõ mồn một tựa như tiếng bước chân của tử thần đang lần mò từng bậc thang đá. Toàn thân Vân Nương căng cứng lại, hơi thở nàng ngưng trệ trong lồng ngực khi bản năng sinh tồn mách bảo mối nguy hiểm cận kề trong gang tấc. Không một chút chần chừ, nàng với tay lấy chiếc kéo sắt sắc bén dùng để cắt may y phục giấu sâu vào trong ống tay áo rộng thùng thình, từng ngón tay siết chặt lấy chuôi kéo lạnh ngắt như băng đá để tìm lại chút cảm giác vững vàng. Nàng đưa tay thổi tắt ngọn đèn dầu trên bàn, để căn phòng chìm vào bóng tối đặc quánh, rồi nhẹ nhàng lướt từng bước chân không một tiếng động về phía cánh cửa ngách thông ra góc vườn hoang vắng phía sau.
Căn nhà Tây sương phòng này vốn là nơi ở của những người hầu hạ thấp kém thời trước, sau này bị bỏ hoang nhiều năm rồi mới dọn dẹp sơ sài để làm nơi ở cho vợ chồng Tam công tử, cho nên phía sau gian phòng ngủ có một cánh cửa ngách nhỏ thông thẳng ra góc hoa viên tiếp giáp với bờ tường rào phía Tây của Bá phủ. Bờ tường rào nơi đây được xây bằng gạch xám cũ kỹ, phía trên có chăng những hàng rào hoa sắt gỉ sét và dây leo khô héo, là nơi khuất nẻo nhất trong toàn bộ phủ đệ vì bên ngoài là một con ngõ hẹp cụt đường ít ai qua lại. Vân Nương nín thở, đôi mắt mở to cố gắng thích nghi với bóng tối đặc quánh, nàng áp sát tai vào tấm gỗ mục của cánh cửa ngách, lắng nghe từng biến động nhỏ nhất đang diễn ra bên ngoài màn tuyết trắng.
Tiếng thở dốc bên ngoài càng lúc càng nặng nề hơn, xen lẫn tiếng rên rỉ yếu ớt đầy đau đớn và tiếng quần áo cọ xát vào những bụi tầm xuân khô khốc. Cánh then gỗ cũ kỹ được nhấc ra khẽ khàng chỉ phát ra một tiếng cọt kẹt rất nhỏ, luồng gió lạnh buốt thấu xương lập tức từ ngoài ùa vào thốc thẳng vào mặt Vân Nương, mang theo mùi tuyết ẩm mốc và thoang thoảng một thứ mùi tanh nồng quen thuộc của máu tươi. Nàng nép mình sau cánh cửa, khẽ hé một khe hẹp nhìn ra ngoài màn đêm mờ ảo; dưới ánh sáng phản chiếu yếu ớt từ lớp tuyết trắng xóa phủ đầy mặt đất, một bóng người gầy guộc đang run rẩy bám lấy bờ tường hoa cao ngất, rồi dường như đã cạn kiệt toàn bộ sức lực, bóng người ấy ngã nhào xuống đống tuyết dày bên dưới, phát ra một tiếng huỵch trầm đục đầy đau đớn. Tiếng rên rỉ yếu ớt như tiếng mèo con hấp hối cất lên giữa màn đêm lạnh giá khiến tim Vân Nương như thắt lại, nàng lập tức nhận ra dáng vóc quen thuộc ấy; đó chính là Trúc Nhi, đứa nha hoàn thân cận đã theo nàng từ thuở nhỏ ở Giang Nam, người mà ba ngày trước nàng đã đánh liều phái đi bám theo dấu vết của toán người quản gia bí hiểm kia.
Quên cả nỗi sợ hãi có thể bị tai mắt của Đại phòng rình rập, Vân Nương vội vã lao mình ra giữa trời tuyết rơi trắng xóa, đôi chân trần trong đôi giày vải mỏng giẫm ngập vào lớp tuyết lạnh buốt đến tê dại. Nàng quỳ sụp xuống bên cạnh bóng người đang co quắp trên nền tuyết, đôi bàn tay run rẩy gạt đi những lọn tóc rối bết chặt vào khuôn mặt tái nhợt phủ đầy sương giá của cô gái nhỏ. Dưới ánh sáng lờ mờ của đêm đông, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến Vân Nương bàng hoàng đến mức suýt nữa bật thốt lên tiếng thét kinh hãi; toàn thân Trúc Nhi nhuộm một màu đỏ thẫm của máu tươi đang đông cứng lại thành từng mảng đen sì trên lớp áo vải thô rách nát, trên bả vai trái của nàng cắm ngập một nửa thân mũi tên ngắn bằng sắt đen kịt, phần đầu mũi tên đã bị bẻ gãy nham nhở, để lại miệng vết thương sưng phù tím tái và bốc lên một mùi tanh tưởi kỳ quái.
Nhìn kỹ hơn vào miệng vết thương, đồng tử của Vân Nương co rút lại thành một chấm nhỏ; xung quanh chỗ mũi tên đâm vào, những thớ thịt đã chuyển sang màu đen thui như than củi, từng dòng máu ứa ra không mang màu đỏ tươi thông thường mà là một thứ dịch lỏng màu nâu sẫm sền sệt bốc khói mờ ảo giữa cái lạnh căm căm. Mùi tanh lợm của nọc độc xộc thẳng vào mũi nàng, một mùi hương hắc nồng pha lẫn vị đắng ngắt mà cha nàng từng miêu tả trong cuốn y thư cổ của Thẩm gia; đó chính là thứ độc dược tàn khốc chuyên dùng để ám sát và truy lùng trọng phạm, thứ độc dược có tên là Đoạn Hồn Tán, một khi đã ngấm vào máu thì chỉ trong vòng ba khắc kinh mạch sẽ bị ăn mòn, tim gan phèo phổi nát vụn không thuốc nào chữa nổi.
Nhận thấy Trúc Nhi chỉ còn lại hơi thở thoi thóp tựa như sợi tơ mành sắp đứt, Vân Nương không màng đến sự yếu ớt của bản thân, nàng cắn chặt môi đến bật máu, dùng hết sức bình sinh luồn hai tay qua nách cô nha hoàn nhỏ bé, gồng mình kéo lê thân thể đẫm máu ấy từng bước một qua cánh cửa ngách vào sâu trong buồng kín. Đôi bàn chân trần của nàng cọ xát trên nền gạch lạnh buốt, từng thớ cơ trên cánh tay đau nhói như muốn đứt lìa dưới sức nặng của thân xác đang dần mất đi sự sống, nhưng nàng không dám buông tay, nàng sợ chỉ cần một giây lơi lỏng là tử thần sẽ cướp mất người muội muội này khỏi vòng tay nàng. Sau khi cài chặt then cửa gỗ và hạ tấm rèm nhung dày ngăn cách gió lạnh, Vân Nương lập tức đặt Trúc Nhi nằm lên chiếc giường tre lót rơm khô của mình, rồi vội vã chạy đến chiếc rương gỗ mục ở góc phòng lôi ra chiếc tráp đựng bột thuốc cầm máu gia truyền mà nàng luôn cất giữ cẩn thận. Bàn tay nàng run lên bần bật khi mở nắp hộp sứ, những hạt bột thuốc trắng mịn rơi vãi trên nệm giường, nàng toan rắc thuốc lên miệng vết thương đẫm máu nơi bả vai của Trúc Nhi thì một bàn tay lạnh ngắt, gầy trơ xương và nhớp nháp bùn máu đột ngột vươn lên, nắm chặt lấy cổ tay nàng bằng một sức lực tàn dư cuối cùng.
Trúc Nhi khẽ mở đôi mắt đục ngầu đã bắt đầu mất đi tiêu cự, bờ môi khô nứt nẻ tím ngắt khẽ mấp máy, từng giọt máu đen kịt từ khóe miệng trào ra lăn dài trên gò má hốc hác không còn giọt máu. Cô bé lắc đầu một cách khó nhọc, giọng nói thều thào đứt quãng như tiếng lá khô cọ xát vào nền đá: "Tiểu... tiểu thư... đừng phí thuốc nữa... Độc... độc Đoạn Hồn Tán của Bắc Trấn Phủ Ty... đã ngấm vào tâm mạch của nô tỳ rồi... Nô tỳ... nô tỳ không sống qua nổi đêm nay đâu... Người... người hãy nghe nô tỳ nói... đại họa... đại họa diệt môn sắp giáng xuống đầu Bá phủ rồi..."
Từng lời nói của Trúc Nhi như những tiếng sét xé toạc màn đêm u tối, giáng thẳng vào tâm trí đang căng như dây đàn của Vân Nương khiến nàng sững sờ chết lặng. Nàng vội nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của người nha hoàn thân thiết tựa muội muội ruột thịt, áp nó vào má mình để truyền chút hơi ấm ít ỏi, nước mắt rốt cuộc không thể kìm nén được nữa mà trào dâng nơi khóe mi, nàng nghẹn ngào cất tiếng: "Trúc Nhi, em đừng nói gở, ta nhất định sẽ tìm cách cứu em, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, tại sao em lại trúng tên của Cấm quân Bắc Trấn Phủ Ty?"
Trúc Nhi thở dốc từng cơn kịch liệt, lồng ngực gầy guộc phập phồng đau đớn như thể từng tấc da thịt bên trong đang bị thiêu đốt bởi chất độc tàn bạo, nhưng nàng vẫn cố gắng trợn tròn đôi mắt đẫm lệ, dồn hết sinh lực còn sót lại của một kiếp người để truyền đạt bí mật kinh hoàng mà nàng đã phải đổi bằng cả mạng sống: "Vĩnh Ninh bá... cùng Đại công tử Ôn Diệu Tổ... bọn họ điên rồi... Bấy lâu nay bọn họ chìm trong cờ bạc, nợ nần chồng chất, phủ đệ trống rỗng, nên đã lén lút cấu kết với bọn tham quan nơi Binh bộ và thương đoàn man tộc Bắc Địch... Bọn họ đã bí mật mở kho vũ khí quân dụng, tuồn hàng ngàn bộ thiết giáp hạng nặng và cung nỏ qua đường buôn lậu nơi ải Hắc Thủy để đổi lấy vàng ròng và ngọc bích từ biên cương... Chuyến hàng khổng lồ đêm qua... đã bị mật thám Cấm quân của Bắc Trấn Phủ Ty phục kích bắt trọn ổ ngay tại hẻm núi Hắc Thủy..."
Căn phòng nhỏ dường như rơi vào một hầm băng sâu vạn trượng, không khí lạnh lẽo đông cứng lại quanh hai người phụ nữ tội nghiệp; Vân Nương nghe từng chữ từng câu mà cảm thấy đầu óc mình ong lên dữ dội, lồng ngực thắt nghẹn như có tảng đá ngàn cân đè nặng. Nàng biết rất rõ luật lệ hà khắc của vương triều Đại Khang, tội danh cấu kết với ngoại bang, tuồn bán binh khí quân dụng cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Địch là tội danh mưu đại nghịch tày trời, tội danh ấy xưa nay chỉ có một kết cục duy nhất là tru di cửu tộc, không một ai mang dòng máu họ Ôn có thể thoát khỏi lưỡi đao đồ tể của triều đình. Sự tham lam vô độ và lối sống xa hoa đồi bại của dòng chính Bá phủ bấy lâu nay đã đẩy toàn bộ gia tộc vào ngõ cụt diệt vong, và điều tàn nhẫn nhất là những con người vô tội ở Tam phòng như nàng và Thiệu Đường, những kẻ quanh năm chịu đói chịu rét trong xó xỉnh tăm tối này, cũng sẽ bị lôi ra pháp trường để chém đầu thị chúng cùng một giuộc với lũ sâu mọt phản quốc ấy.
Trúc Nhi ho sặc sụa, một búng máu đen thẫm trào ra ướt đẫm vạt áo trước ngực, nàng run rẩy giơ cánh tay còn lại lên nắm chặt lấy vạt áo bông cũ kỹ của Vân Nương, ánh mắt ngập tràn vẻ kinh hoàng và tuyệt vọng: "Tiểu thư... mật thám Bắc Trấn Phủ Ty đã giăng lưới phong tỏa khắp mười hai cửa ô của kinh thành Thịnh Kinh rồi... Đích thân Chỉ huy sứ Cố Kính đã phụng mật chỉ của Hoàng thượng... Trong vòng hai ngày tới... Cấm quân sẽ đem quân bao vây tịch biên toàn bộ Vĩnh Ninh bá phủ, không chừa một con chó con gà... Bọn họ sẽ tống giam toàn bộ già trẻ lớn bé vào Chiêu Ngục... Đàn ông trên mười sáu tuổi sẽ bị chém đầu lập quyết, đàn bà con gái sẽ bị sung vào giáo phường ty hoặc lưu đày đến vùng cực bắc hoang vu làm nô lệ... Tiểu thư... người và Tam công tử... phải mau chóng tìm đường chạy trốn đi..."
Vân Nương cắn chặt môi đến mức nếm được vị tanh nồng của máu chính mình, sự đau xót và căm phẫn tột cùng đan xen trong tâm can nàng tựa như ngàn vạn mũi kim châm. Hai ngày; thời gian mà triều đình dành cho một bản án diệt môn chỉ vỏn vẹn có hai ngày ngắn ngủi, trong khi kinh thành đã bị Cấm quân phong tỏa nghiêm ngặt như thùng sắt, một con chim sẻ cũng khó lòng bay lọt qua cổng thành chứ đừng nói đến hai con người bằng xương bằng thịt. Chạy trốn ư; nếu lúc này bỏ trốn, chẳng khác nào tự biến mình thành kẻ phản nghịch đào tẩu, chưa bước ra khỏi con phố Bình An đã bị cung tên của Cấm quân bắn thành tổ ong vò vẽ; hơn nữa, Thiệu Đường hiện tại vẫn còn đang ngây thơ ở hội thơ, chàng hoàn toàn không hay biết trời đất sắp sụp đổ ngay trên đầu mình, nàng làm sao có thể vứt bỏ phu quân để một mình trốn chạy cho đành.
Nàng nhìn sâu vào đôi mắt đang mờ dần của Trúc Nhi, bàn tay nàng khẽ run rẩy vuốt ve mái tóc bết máu của cô bé, giọng nói nàng nghẹn ngào nhưng từng chữ phát ra lại rành rọt, kiên định lạ thường: "Trúc Nhi ngoan của ta, em đã vì ta mà chịu khổ nhiều rồi. Em hãy nói cho ta biết, chuyến hàng ở ải Hắc Thủy bị bắt, bọn Cấm quân có tìm thấy bằng chứng nào chỉ đích danh Tam công tử Thiệu Đường có liên can hay không? Chàng quanh năm chỉ biết đọc sách, làm sao có thể dính líu đến chuyện buôn bán vũ khí của bọn họ được?"
Trúc Nhi gắng gượng lắc đầu, hơi thở nàng đứt quãng từng chặng dài như tiếng kéo bễ rách nát nơi lò rèn: "Không... Tam công tử hoàn toàn không biết gì... Nhưng... nhưng Đại công tử Ôn Diệu Tổ là kẻ xảo quyệt độc ác... Nô tỳ nấp dưới gầm xe ngựa nghe lỏm được... hắn đã ngấm ngầm sai thuộc hạ đánh cắp con dấu riêng của Tam công tử... đóng lên một số bức thư từ giao dịch với thương nhân Bắc Địch... nhằm chuẩn bị sẵn đường lui... để khi hữu sự sẽ đổ hết mọi tội lỗi lên đầu Tam phòng... Bọn họ muốn biến Tam công tử thành kẻ chết thay cho bọn họ..."
Nghe đến đây, một luồng hàn khí buốt giá từ sống lưng Vân Nương chạy thẳng lên đỉnh đầu, hàm răng nàng va vào nhau cầm cập vì phẫn nộ tột cùng. Độc ác, tàn nhẫn đến tột bực; cùng là máu mủ ruột thịt của dòng họ Ôn, vậy mà bọn người Đại phòng lại có thể nhẫn tâm lập mưu đẩy một đứa em trai thứ hiền lành, vô tội vào chỗ chết không toàn thây chỉ để cứu lấy cái mạng hèn hạ của chính mình. Nếu không có Trúc Nhi liều chết mang tin tức này về, e rằng đến khi Cấm quân ập vào trói gông vào cổ, chàng thư sinh ngốc nghếch Ôn Thiệu Đường vẫn còn ngơ ngác không hiểu vì sao mình lại mang tội danh mưu phản diệt tộc. Mối thù này, nỗi oan khốc này, dẫu có đổ hết nước sông Hoàng Hà cũng không thể nào rửa sạch.
Thấy Vân Nương im lặng trong sự đau đớn tột cùng, ánh mắt Trúc Nhi bỗng lóe lên một tia sáng kỳ lạ, nàng dùng chút sức lực cuối cùng của đôi bàn tay đã bắt đầu cứng đờ vì hơi lạnh của tử thần, thò sâu vào lớp lót áo trong ngực, nơi máu tươi đã thấm đẫm thành từng vệt dài. Nàng run rẩy lôi ra một gói nhỏ được bọc kỹ càng bằng ba lớp vải lụa dầu chống nước, chiếc bọc nhỏ được nàng nâng niu cất giấu cẩn thận bên cạnh trái tim mình suốt quãng đường chạy trốn trong làn mưa tên mũi giáo. Đôi môi tím tái của Trúc Nhi khẽ run lên, nàng run rẩy mở lớp vải dầu ra, để lộ một miếng ngọc bội hình hoa sen bằng ngọc bích cổ màu xanh biếc, mép ngọc viền những đường chỉ vàng tinh xảo, dù dính vài vệt máu đen nhưng vẫn tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp dịu dàng.
"Tiểu thư... người còn nhớ vật này không..." Trúc Nhi thều thào, từng hơi thở của nàng rít qua kẽ răng tựa như tiếng gió thổi qua khe núi hoang vu: "Đây là... miếng ngọc bội gia truyền của lão gia... ngày xưa khi cứu một vị thư sinh nghèo khó bên dòng sông Tiền Đường... lão gia đã tặng miếng ngọc này làm lộ phí cho người đó lên kinh ứng thí... Vị thư sinh năm xưa... nay chính là Hàn học sĩ chốn Hàn Lâm viện... người được Hoàng thượng vô cùng tin cẩn... Mấy hôm trước khi theo dõi tên quản gia... nô tỳ đã vô tình tìm lại được miếng ngọc này trong hòm đồ cầm cố của hắn... Tiểu thư... hãy giữ lấy nó... sau này... sau này nếu vào ngục tối... chỉ có Hàn học sĩ mới có thể cứu mạng Tam công tử và người..."
Nhìn miếng ngọc bội quen thuộc của người cha quá cố, những ký ức ấm áp thuở ấu thơ nơi vùng sông nước Giang Nam hiền hòa bỗng chốc ùa về trong tâm trí Vân Nương, làm nhòe đi cảnh tượng địa ngục trần gian trước mắt. Năm xưa, cha nàng là một thầy thuốc thanh liêm, cả đời hành thiện tích đức, từng cứu sống không biết bao nhiêu sinh linh nghèo khó, và miếng ngọc bội này chính là kỷ vật thiêng liêng nhất mà cha để lại trước khi qua đời. Cha từng kể với nàng về chàng thư sinh họ Hàn năm ấy, một người có khí cốt thanh cao, đôi mắt sáng như sao trời nhưng vì cơ hàn mà suýt phải bỏ mạng nơi đất khách; cha đã không ngần ngại tặng cho chàng thư sinh ấy mười lượng bạc lộ phí cùng miếng ngọc bội gia truyền này để làm tin, chỉ mong giang sơn có thêm một vị quan thanh liêm vì dân vì nước. Không ngờ vật đổi sao dời, miếng ngọc bội từng lưu lạc nay lại trở về trong tay nàng giữa thời khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc.
Nàng run rẩy đón lấy miếng ngọc bội còn vương hơi ấm yếu ớt từ lồng ngực Trúc Nhi, nắm chặt nó trong lòng bàn tay mà lòng đau như cắt; đứa nha hoàn nhỏ bé trung kiên này, ngay cả trong giây phút cận kề cái chết, trong lúc bị Cấm quân truy đuổi ráo riết giữa làn tên mũi đạn, điều duy nhất mà nàng nghĩ đến vẫn là tìm lại một con đường sống cho vị tiểu thư bất hạnh của mình. Tấm lòng trung trinh son sắt ấy cao vời vợi tựa núi Thái Sơn, nặng ân tình hơn cả biển khơi muôn trùng, nàng Thẩm Sở Vân này lấy gì để đền đáp cho trọn vẹn trong kiếp này kiếp sau.
Bàn tay Trúc Nhi bỗng nắm chặt lấy ngón tay của Vân Nương, đôi mắt nàng mở to nhìn chằm chằm vào trần nhà, những mạch máu đỏ ngầu nơi tròng mắt dường như vỡ vụn dưới áp lực của độc dược đang tàn phá ngũ tạng. Một dòng máu đen đặc quánh lại trào ra từ khóe mắt và tai của cô bé, dấu hiệu rõ ràng cho thấy chất độc Đoạn Hồn Tán đã ngấm trọn vẹn vào cốt tủy, không còn bất kỳ phép màu nào có thể giữ lại sinh mệnh của nàng trên cõi đời này nữa. Giọng nói của Trúc Nhi nhỏ dần, đứt quãng từng tiếng một như sắp hòa tan vào tiếng gió bấc gào thét ngoài song cửa: "Tiểu thư... người là người tốt... trời cao... trời cao sẽ có mắt... Nhất định... nhất định phải sống sót... Đừng... đừng chết theo... cái Bá phủ bất nhân này..."
Tiếng nói cuối cùng vừa dứt, bàn tay của Trúc Nhi bỗng nhiên buông thõng xuống, rơi bịch lên lớp nệm rơm khô trên giường tre lạnh lẽo. Đôi mắt trong veo từng cười rạng rỡ bên bờ sông Giang Nam nay đã vĩnh viễn khép lại, khuôn mặt nhỏ nhắn phủ đầy vết máu và tro bụi từ từ nghiêng sang một bên, trút đi hơi thở cuối cùng của một kiếp hồng nhan bạc phận. Căn phòng nhỏ chìm vào một sự tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn lại tiếng tuyết rơi lạo xạo trên mái ngói và tiếng gió bấc vẫn gầm rít từng cơn điên cuồng như muốn xé toạc căn nhà gỗ tồi tàn.
Nỗi đau đớn tột cùng tựa như một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy trái tim Vân Nương, khiến nàng quỳ sụp xuống bên thi thể Trúc Nhi, hai vai run lên bần bật trong nỗi tuyệt vọng câm lặng. Nàng muốn gào thét, muốn khóc thật to để trút bỏ hết nỗi uất ức và bi thương đang xé rách lồng ngực mình, nhưng lý trí đanh thép của một người phụ nữ từng trải qua bao biến cố gia đình đã ghìm chặt tiếng khóc lại nơi cổ họng. Nàng biết, chỉ một tiếng nấc nghẹn ngào vang ra lúc này cũng có thể đánh động đám gia đinh của Đại phòng đang tuần tra bên ngoài, và khi ấy, không chỉ cái chết của Trúc Nhi bị bại lộ mà ngay cả cơ hội sống sót mong manh cuối cùng của nàng và Thiệu Đường cũng sẽ tan thành mây khói. Nàng cúi đầu, áp trán mình vào vầng trán lạnh ngắt của Trúc Nhi, nuốt từng giọt nước mắt mặn chát vào sâu trong tâm can, để nỗi đau hóa thành sự căm hận và ngọn lửa kiên định sắt đá.
Nàng nhớ lại những ngày tháng êm đềm ở Giang Nam mười năm về trước, khi ấy Trúc Nhi chỉ là một đứa trẻ mồ côi gầy gò ốm yếu, bị bọn buôn người đánh đập dã man rồi vứt bỏ bên vệ đường trong một ngày mưa tuyết giá rét. Chính cha nàng đã mang cô bé về nhà, tự tay sắc từng thang thuốc cứu sống sinh linh bé nhỏ ấy, còn nàng thì chia sẻ từng tấm áo manh quần, xem Trúc Nhi như người em gái ruột thịt trong gia đình. Suốt mười năm qua, dù đi đâu làm gì, Trúc Nhi vẫn luôn quấn quýt bên cạnh nàng, cùng nàng chia ngọt sẻ bùi, cùng nàng vượt qua nỗi đau mất cha mẹ, rồi theo nàng bước chân vào cái chốn hào môn sâu hiểm này. Vậy mà hôm nay, người em gái trung kiên ấy đã ngã xuống trong vũng máu lạnh buốt, vĩnh viễn không còn có thể cất tiếng gọi hai tiếng tiểu thư thân thương được nữa.
Mỗi giọt nước mắt rơi xuống vạt áo đẫm máu của Trúc Nhi là một lời thề khắc cốt ghi tâm trong tâm khảm Vân Nương. Nàng không thể gục ngã, nàng tuyệt đối không được phép yếu lòng vào giây phút này; Trúc Nhi đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy tin tức sinh tử này cho nàng, nếu nàng suy sụp buông xuôi thì sự hy sinh của cô bé sẽ trở thành vô nghĩa. Dòng chính Bá phủ tham tàn vô đạo, xem mạng người như cỏ rác, bọn chúng đã tự tay đẩy cả gia tộc vào hố sâu diệt vong thì bọn chúng phải gánh chịu quả báo của trời cao, nhưng nàng và Thiệu Đường, cùng những con người vô tội khác, nhất định phải tìm thấy một tia hy vọng sống sót giữa cõi chết mịt mùng này.
Sau một hồi lâu quỳ lặng trong bóng tối, Vân Nương hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào phổi làm đầu óc nàng bừng tỉnh và trở nên sáng suốt lạ thường. Nàng nhẹ nhàng đưa tay vuốt khép lại đôi mắt của Trúc Nhi, chỉnh đốn lại vạt áo rách nát cho nàng rồi khẽ thì thầm bên tai người đã khuất: "Trúc Nhi, em hãy yên nghỉ. Ân tình này, sự hy sinh này của em, Thẩm Sở Vân ta đời này kiếp này khắc cốt ghi tâm. Ta thề trước vong linh của em, ta nhất định sẽ sống sót, nhất định sẽ đưa tro cốt của em trở về mảnh đất Giang Nam yên bình, không để em phải cô quạnh nơi đất khách quê người."
Đứng dậy khỏi mép giường, Vân Nương tháo chiếc trâm cài tóc bằng gỗ mun, gom mái tóc dài đen nhánh buộc chặt lại sau gáy, rồi xắn cao hai ống tay áo của chiếc áo bông thô ráp. Trước mắt nàng là một thực tế tàn khốc không thể chối bỏ: thi thể của Trúc Nhi đang nằm đây với vết thương do tên bắn của Bắc Trấn Phủ Ty, nếu để bất kỳ ai trong Bá phủ nhìn thấy, hoặc nếu ngày mai Cấm quân ập vào phát hiện ra xác nàng trong viện Tam phòng, tội danh bao che kẻ đào tẩu sẽ lập tức đẩy vợ chồng nàng vào chỗ chết ngay trong đêm nay. Nàng không thể chôn cất Trúc Nhi một cách đàng hoàng giữa mùa đông đất đóng băng cứng như đá, lại càng không thể mang thi thể ra ngoài cổng phủ khi mà khắp nơi đều có tai mắt dòm ngó; nơi duy nhất an toàn và kín đáo nhất lúc này chính là căn hầm chứa than đá bỏ hoang phía sau góc hoa viên, nơi ẩm thấp u tối quanh năm chẳng có bóng người nào thèm lai vãng.
Vân Nương nhanh chóng tìm một tấm vải bạt thô dày bọc kín thân thể Trúc Nhi lại để ngăn máu tươi không rỉ thêm ra ngoài, rồi dùng dây thừng gai buộc chặt lại một cách cẩn thận. Nàng cắn chặt răng, ghé đôi vai gầy guộc của mình xuống mép giường, dùng toàn bộ sức lực của một người đàn bà yếu đuối nhưng đang bị dồn vào đường cùng để cõng thi thể người nha hoàn lên lưng. Bước chân nàng lảo đảo, sức nặng của thân xác lạnh ngắt đè trĩu đôi vai khiến từng khớp xương như muốn vỡ vụn, nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng, từng bước một mò mẫm tiến ra phía cửa ngách sau vườn.
Gió đông ngoài trời thổi thốc từng cơn bão tuyết mù mịt, cái lạnh cắt da cắt thịt như muốn đông cứng từng mạch máu trong cơ thể Vân Nương, nhưng nàng không hề dừng bước. Nàng lần theo bóng tối của chân tường rêu phong, bước đi thật khẽ khàng trên những lối mòn khuất nẻo, men qua những bụi trúc cằn cỗi đang oằn mình dưới tuyết để đến góc hầm than đá nằm lọt thỏm dưới một vòm cuốn gạch cũ kỹ. Đẩy cánh cửa gỗ mục nát phủ đầy mạng nhện và bụi than đen sì, một mùi ẩm mốc nồng nặc xộc thẳng vào mũi; Vân Nương nhẹ nhàng đặt thi thể Trúc Nhi xuống một khoảng đất khô ráo sâu bên trong góc hầm, nơi những tảng than đá đen nhánh chất cao như bức tường che chắn.
Nàng cẩn thận phủ lên thi thể Trúc Nhi một lớp bao tải gai sạch sẽ, rồi nhẹ nhàng xếp từng tảng than đá nhỏ xung quanh để che giấu dấu vết, vừa làm vừa cắn chặt môi để ngăn không cho tiếng nấc nghẹn ngào bật ra thành tiếng. Sau khi hoàn tất, nàng cúi đầu vái ba vái trước góc hầm tối tăm, thầm cầu nguyện cho linh hồn trung liệt của cô gái nhỏ được siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng. Trở lại khoảng sân vườn tuyết trắng, Vân Nương lấy chiếc chổi đót và cái xẻng nhỏ giấu sẵn bên góc tường, tỉ mỉ cào quét sạch sẽ từng vệt máu thẫm màu vương vãi trên nền tuyết, rồi hất những lớp tuyết mới tinh khôi phủ lên trên, xóa sạch hoàn toàn mọi dấu vết kéo lê và dấu chân qua lại giữa đêm khuya.
Khi bước chân trở lại vào căn phòng nhỏ của mình, toàn thân Vân Nương đã ướt sũng vì tuyết tan và mồ hôi lạnh, đôi bàn tay sưng đỏ buốt giá vì băng tuyết bám chặt. Nàng đóng chặt hai then gỗ nặng trịch của cánh cửa ngách, cài then then cửa chính, rồi cài chặt tất cả các chốt cửa sổ bằng gỗ mun dày dặn, cô lập hoàn toàn căn phòng nhỏ bé với thế giới tàn khốc bên ngoài. Nàng bước đến chiếc bàn gỗ, quẹt đá lửa châm lại ngọn đèn dầu hạt đậu leo lét, ánh lửa bập bùng chiếu rọi lên tấm gương đồng cũ kỹ phủ đầy một lớp bụi mờ sương.
Nhìn vào bóng hình mình trong gương, một người phụ nữ trẻ tuổi với gương mặt nhợt nhạt không một giọt phấn son, chiếc áo bông chần chỉ thô ráp bạc màu khoác trên đôi vai gầy guộc nhưng đôi mắt đen láy lại bừng sáng lên một ngọn lửa kiên cường và quyết liệt chưa từng thấy, Vân Nương khẽ siết chặt miếng ngọc bội hình hoa sen trong lòng bàn tay. Hai ngày; nàng chỉ còn đúng hai ngày ngắn ngủi trước khi sấm sét diệt môn của Cấm quân giáng xuống đầu Vĩnh Ninh bá phủ, và trong hai ngày ấy, nàng phải làm tất cả những gì có thể để biến cái chết cận kề thành một con đường sống. Nàng không thể trông cậy vào gia tộc bất nhân này, lại càng không thể để người phu quân ngây thơ của mình phải làm mồi cho dã tâm của kẻ khác; nàng phải chuẩn bị, phải giấu bạc, phải tính toán từng đường đi nước bước để khi cánh cửa ngục tối Chiêu Ngục mở ra, nàng vẫn có đủ sức mạnh để giữ lấy mạng sống cho cả hai người.
Nàng bước đến bên chiếc rương gỗ lim đặt dưới chân giường, chiếc rương đựng của hồi môn mà nàng mang từ Giang Nam lên kinh thành ba năm trước. Mở nắp rương, nhìn những xấp văn khế điền trang, những khế ước cửa tiệm hương liệu và số ngân phiếu lưu hành của tiệm bạc Tứ Hải, đầu óc Vân Nương xoay chuyển cực nhanh. Ngày mai, ngay khi trời vừa hửng sáng, nàng sẽ phải tìm cách liên lạc với Tiền chưởng quầy của tiệm hương liệu, âm thầm bán tháo toàn bộ điền trang và cửa hàng với giá rẻ nhất để đổi lấy bạc vụn và ngân phiếu mệnh giá nhỏ. Bạc nén lớn và châu báu ngọc ngà khi bị Cấm quân khám xét sẽ lập tức bị tịch thu không sót một mảnh, nhưng bạc vụn và ngân phiếu mỏng manh thì có thể khâu giấu vào những chỗ mà không một tên lính Cấm quân nào ngờ tới.
Ánh mắt nàng dừng lại trên chiếc áo bông chần chỉ thô bạc phếch treo trên vách nứa, chiếc áo bông cũ kỹ mà người ta thường vứt xó mỗi khi mùa đông qua đi. Một ý nghĩ táo bạo nhưng tràn đầy hy vọng bỗng lóe lên trong đầu Vân Nương; chiếc áo rách nát này chính là lớp vỏ bọc hoàn hảo nhất trước mắt lũ khốc lại cấm quân hám tài. Nàng sẽ dùng tài may vá gia truyền để rạch từng đường chỉ lót, khâu từng mẩu bạc vụn, từng tấm ngân phiếu cứu mạng và những hoàn thuốc chỉ huyết quý giá vào sâu bên trong lớp bông xơ xác. Chiếc áo bông cũ ấy sẽ trở thành tấm khiên bảo vệ, trở thành kho báu sinh mệnh để nàng nuôi sống gia đình và mua chuộc những ngọn roi tàn bạo nơi địa ngục Chiêu Ngục.
Nàng lấy cuộn chỉ gai thô và cây kim khâu lớn từ trong hộp mây ra đặt ngay ngắn trên bàn, rồi nhẹ nhàng vuốt ve từng nếp vải thô nhám của chiếc áo bông cũ. Chiếc áo này là do chính tay nàng may cho Thiệu Đường vào mùa đông năm ngoái từ thứ vải thô giá rẻ nhất ngoài chợ, chàng mặc đã sờn rách ở hai bên khuỷu tay và vạt áo, nhưng chàng lại quý nó vô cùng vì đó là tấm lòng của thê tử. Giờ đây, chính chiếc áo tầm thường này sẽ là thứ đồng hành cùng hai vợ chồng nàng bước vào cửa tử; từng đường kim mũi chỉ mà nàng sắp khâu vào sẽ là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, giữa sự tồn tại và diệt vong.
Nàng thầm tính toán từng khoản chi dụng cho tương lai: năm ngàn lượng ngân phiếu của tiệm bạc Tứ Hải có thể chia nhỏ ra khâu vào lớp lót lưng áo và cổ áo; ba trăm lượng bạc vụn đã được đập nhỏ thành từng viên như hạt ngô sẽ được nhét rải rác vào lớp bông gòn chần bên trong tay áo và gấu quần; còn những hoàn thuốc chỉ huyết và thuốc hạ sốt trị độc của Thẩm gia thì bọc trong sáp ong nhét vào đế giày vải. Với số tiền và thuốc men ấy, dẫu có bị tống vào chốn Chiêu Ngục tăm tối nhất, nàng vẫn có thể dùng bạc để đổi lấy cháo nóng, chăn khô cho phu quân, dùng thuốc để giữ lấy mạng sống qua những trận đòn tra tấn tàn khốc, và quan trọng nhất là có thể mua chuộc những tên cai ngục còn chút lương tri để truyền tin tức ra ngoài cho Hàn học sĩ.
Gió bấc ngoài trời vẫn gầm rít từng cơn điên cuồng, lay giật khung cửa sổ như muốn xé toạc màn đêm đen đặc, nhưng trong lòng Thẩm Sở Vân lúc này, một sự tĩnh lặng đến lạnh lùng đã hoàn toàn ngự trị. Nàng nâng ngọn đèn dầu lên, đặt bàn tay mảnh mai lên ngực áo, nơi miếng ngọc bội hoa sen đang tỏa ra hơi ấm dịu dàng tựa như linh hồn của người cha đã khuất đang dõi theo từng bước đi của nàng. Từng chữ từng câu nàng tự nhủ với chính mình vang lên đanh thép như tiếng đao kiếm va vào đá tảng giữa đêm trường u tối: "Vĩnh Ninh bá phủ đã tự đào mồ chôn mình, nhưng Tam phòng ta tuyệt đối không thể chết oan uổng theo lũ sâu mọt. Thiệu Đường, thiếp nhất định sẽ bảo vệ chàng, dẫu trời nghiêng đất lệch, dẫu ngục sâu biển máu, thiếp cũng sẽ kéo chàng trở về với cõi bình an."
Đêm càng về khuya, cái lạnh càng thấu buốt tâm can, nhưng ngọn lửa sinh tồn trong ánh mắt Vân Nương chưa bao giờ rực cháy mãnh liệt đến thế. Nàng ngồi lại bên bàn, mài mực thắp nến, bắt đầu vạch ra từng kế hoạch tỉ mỉ cho cuộc chiến sinh tử kéo dài hai ngày tới, cuộc chiến mà nàng không được phép thua, bởi cái giá phải trả không gì khác ngoài mạng sống của chính nàng và người phu quân mà nàng hằng yêu quý. Tiếng gió rít ngoài song cửa dường như không còn đáng sợ nữa, bởi vì giông bão lớn nhất của đời người đã thực sự bắt đầu, và nàng, người phụ nữ mảnh mai của Tam phòng, đã sẵn sàng đương đầu với mọi bão dông để giành lấy con đường sống.
Gió bấc tháng Chạp thổi qua kinh thành Thịnh Kinh tựa như từng nhát dao sắc lẹm cứa vào da thịt, rít lên từng hồi ghê rợn qua những khe hở của khung cửa sổ gỗ đã mục nát theo năm tháng. Đêm đông lạnh buốt thấu xương, tuyết rơi lả tả tựa lông ngỗng từ bầu trời đen đặc giáng xuống, chẳng mấy chốc đã phủ lên những mái ngói rêu phong của Vĩnh Ninh bá phủ một lớp màn trắng xóa lạnh lùng và thê lương. Dưới bóng đêm dày đặc đặc quánh như mực tàu, cả tòa phủ đệ thênh thang bề thế vốn dĩ rực rỡ gấm hoa nay chìm vào sự tĩnh lặng chết chóc, chỉ còn nghe thấy tiếng cành mai cằn cỗi trong góc sân bị sức nặng của băng tuyết đè gãy răng rắc giòn tan. Trong căn phòng nhỏ nằm heo hút ở mép Tây sương phòng, nơi ngụ cư của Tam phòng quanh năm chịu nhiều ghẻ lạnh, một ngọn đèn dầu hạt đậu đang run rẩy tỏa ra thứ ánh sáng vàng vọt leo lét, in bóng một thân ảnh mảnh mai lên vách tường vôi loang lổ ẩm mốc. Thẩm Sở Vân, người trong phủ thường gọi bằng cái tên thân mật là Vân Nương, đang lặng lẽ ngồi bên chiếc bàn gỗ thô ráp, hai bàn tay thon dài đan chặt vào nhau ghì lấy chiếc lò sưởi bằng đồng đã tắt lịm than tự bao giờ.
Nàng khẽ nâng mắt nhìn ra khung cửa sổ dán giấy dầu đang rung lên bần bật theo từng cơn gió lốc, đáy mắt đen láy phẳng lặng như mặt hồ mùa thu nhưng nơi sâu thẳm lại cuộn trào những đợt sóng bất an khôn xiết. Đêm nay, phu quân của nàng là Ôn Thiệu Đường, Tam công tử của Bá phủ, đã nhận lời mời đến dự hội ngâm thơ thưởng mai của đám nho sinh đồng môn nơi Quốc Tử Giám từ lúc chập tối mà đến tận giờ này vẫn chưa thấy bóng dáng trở về. Thiệu Đường vốn là con của một thứ thiếp bạc mệnh qua đời từ thuở chàng còn tấm bé, từ nhỏ đã quen sống trong cảnh lép vế tủi hờn, tính tình thuần hậu nho nhã, cả ngày chỉ biết vùi đầu vào điển tích cổ thư và mài mực chép sách, chưa từng để tâm đến những mưu mô tranh quyền đoạt lợi chốn quan trường hay sự hiểm độc sâu như biển nơi hậu viện. Nàng hiểu rõ tính chàng, chàng là một thư sinh thật thà đến mức ngây thơ, luôn tin rằng đạo lý thánh hiền và sự nhẫn nhịn có thể đổi lấy những tháng ngày bình yên thanh thản, nhưng ở cái nơi danh gia vọng tộc đã mục ruỗng từ trong xương tủy này, sự ngây thơ đôi khi lại chính là lưỡi dao đoạt mạng tàn nhẫn nhất.
Ba năm về làm dâu chốn Vĩnh Ninh bá phủ cũng là ba năm Vân Nương nếm trải đủ mọi cay đắng tủi nhục của một nàng dâu thứ xuất thân từ gia đình thương nhân lương y đất Giang Nam. Dù nàng mang theo số của hồi môn không hề nhỏ gồm ruộng đất màu mỡ và tiệm hương liệu làm ăn phát đạt, nhưng trong mắt mẹ kế Ngu thị cay nghiệt và Đại tẩu Tiền thị ngạo mạn, nàng chẳng qua chỉ là một đứa con gái nhà buôn thấp hèn may mắn được gả vào cửa quý tộc để làm bậc thang cho bọn họ bòn rút tiền của. Nàng đã nhẫn nhịn, đã thu mình lại như một cái bóng mờ nhạt nơi góc viện hoang phế này, ngày ngày tự tay may vá thêu thùa, chăm lo từng bữa ăn manh áo cho phu quân, chỉ mong sóng gió hào môn đừng thổi bạt mái nhà tranh nhỏ bé của hai người. Thế nhưng, đời người càng muốn an phận thì giông bão lại càng ập đến bất ngờ; từ ba ngày trước, khi tình cờ trông thấy những cỗ xe ngựa bịt kín bạt đen lặng lẽ rời khỏi cửa sau Bá phủ giữa đêm khuya dưới sự đốc thúc lén lút của quản gia tâm phúc của Vĩnh Ninh bá, linh tính của một người lớn lên trong gia đình buôn bán đã mách bảo nàng rằng có điều gì đó vô cùng khủng khiếp đang âm thầm diễn ra.
Nỗi lo âu ấy như loài cỏ dại bén rễ trong tâm can nàng suốt ba ngày ba đêm qua, khiến giấc ngủ của nàng chập chờn những cơn mộng mị hãi hùng. Nàng nhớ lại ánh mắt lấm lét, vội vã của gã quản gia Vương Đức khi hắn chỉ huy đám gia đinh chuyển những chiếc hòm gỗ nặng trịch bọc sắt đen lên xe ngựa giữa canh ba tăm tối. Mùi dầu trẩu nồng nặc dùng để bảo quản kim khí và mùi tanh lợm của sắt thép quân dụng không thể nào qua mắt được khứu giác nhạy bén của một người từ nhỏ đã tiếp xúc với trăm ngàn loại hương liệu và dược liệu như nàng. Vĩnh Ninh bá phủ vốn dĩ là phủ đệ của hàng công hầu huân quý được triều đình ban thưởng tước vị từ thuở lập quốc, nhưng trải qua ba đời tiêu xài hoang phí, ruộng đất phong thưởng đã bị cầm cố gần hết, bổng lộc triều đình chẳng đủ chi trả cho thói quen ăn chơi xa xỉ của đám con cháu dòng chính. Đại công tử Ôn Diệu Tổ là kẻ nghiện cờ bạc khét tiếng chốn kinh kỳ, từng ném hàng ngàn lượng bạc vào các sòng bạc lớn nhỏ chỉ trong một đêm say xỉn, còn Vĩnh Ninh bá Ôn Khắc Khiêm thì say mê những cuộc chạy chọt chức tước béo bở nơi Binh bộ để duy trì hư danh hão huyền.
Để lấp đầy cái hố sâu không đáy của lòng tham và nợ nần chồng chất, bọn họ đã bắt đầu nhòm ngó đến của hồi môn của các nàng dâu trong phủ, trong đó số điền trang và cửa tiệm hương liệu màu mỡ mà cha nàng để lại luôn là miếng mồi béo bở mà Ngu thị ngày đêm thèm muốn. Mới tháng trước, Ngu thị còn viện cớ sửa sang từ đường tổ tiên để bóng gió đòi nàng giao ra văn khế ba mươi mẫu ruộng màu mỡ ở ngoại thành, nhưng nàng đã khéo léo dùng sổ sách chi tiêu hàng ngày để từ chối êm thấm. Sự từ chối ấy tuy bảo toàn được chút tài sản phòng thân cho Tam phòng, nhưng lại khiến ánh mắt của mẹ kế và Đại tẩu nhìn nàng ngày càng thêm phần hằn học, cay độc tựa như muốn nuốt tươi nuốt sống. Vân Nương hiểu rằng, sự nhẫn nhịn của mình đã chạm đến giới hạn chịu đựng của bọn họ, và cái vẻ bình yên giả tạo nơi phủ đệ này thực chất chỉ là một lớp băng mỏng manh giăng trên miệng vực thẳm sâu vạn trượng.
Chính vì linh cảm thấy mối nguy hiểm vô hình đang ngày một đến gần, ba ngày trước nàng đã đánh liều giao cho Trúc Nhi, đứa nha hoàn thân cận đã cùng nàng lớn lên từ thuở ấu thơ ở Tô Châu, một nhiệm vụ vô cùng mạo hiểm. Trúc Nhi tuy là phận nữ nhi nhưng từ nhỏ đã lanh lợi, tháo vát, lại biết chút ngón nghề trèo tường lội suối nhờ những năm tháng theo cha nàng bốc thuốc cứu người nơi thôn dã. Nàng bảo Trúc Nhi bí mật bám theo đoàn xe ngựa của gã quản gia Vương Đức để tìm hiểu xem bọn họ đang lén lút vận chuyển thứ gì ra khỏi kinh thành giữa đêm hôm khuya khoắt. Thế nhưng, kể từ khoảnh khắc chiếc bóng nhỏ bé của Trúc Nhi biến mất sau cánh cổng ngách của phủ đệ vào cái đêm tuyết rơi đầu mùa ấy, nàng bặt vô âm tín, không một tin tức nào gửi về khiến lòng Vân Nương như có lửa đốt, ruột gan cồn cào như bị xát muối.
Mỗi khi nhớ lại nụ cười rạng rỡ và ánh mắt kiên định của Trúc Nhi trước khi rời đi, lòng Vân Nương lại dâng lên một nỗi hối hận khôn nguôi; cô bé ấy năm nay mới tròn mười tám tuổi, độ tuổi đẹp nhất của đời người con gái, vậy mà đã phải cùng nàng gánh vác bao nỗi nhọc nhằn, cay đắng nơi đất khách quê người. Trúc Nhi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, năm tám tuổi lưu lạc đến đất Giang Nam suýt chết đói bên bờ kênh, may nhờ có phụ thân Thẩm lão gia đưa về nuôi nấng và dạy dỗ, hai người tuy danh nghĩa là chủ tớ nhưng tình cảm gắn bó chẳng khác nào chị em ruột thịt cùng chung một khúc ruột. Vân Nương tự trách mình quá đỗi nông nổi, vì một chút nghi ngờ mà đẩy đứa em gái duy nhất vào nơi hiểm địa, nơi mà lòng dạ con người còn tàn độc và thâm sâu hơn cả loài lang sói chốn rừng hoang.
Căn phòng Tây sương phòng càng về khuya lại càng thêm lạnh lẽo, gió đông lùa qua những vết nứt trên tường khiến ngọn đèn dầu chập chờn, bóng nàng in lên vách lúc mờ lúc tỏ tựa như một linh hồn lạc lõng giữa cõi u minh. Nàng nhớ đến Ôn Thiệu Đường, nhớ đến ánh mắt trong veo như suối nguồn của chàng mỗi khi say sưa đàm đạo về những khúc thi văn cổ xưa; chàng thư sinh ấy hiền lành đến mức chẳng nỡ giẫm chết một con kiến, mỗi bữa ăn đều nhường miếng ngon cho thê tử, mỗi độ đông về đều thức khuya chép sách thuê cho thư quán để dành dụm từng đồng bạc vụn mua cho nàng một thỏi son hay một chiếc khăn tay mới. Chàng từng nắm lấy đôi bàn tay thô ráp vì may vá của nàng mà nghẹn ngào hứa hẹn, rằng đợi đến kỳ đại khoa sang năm, khi chàng thi đỗ bảng vàng và được triều đình bổ nhiệm làm một chức quan huyện nhỏ ở chốn đồng quê xa xôi, chàng sẽ đưa nàng rời khỏi chốn kinh kỳ ngột ngạt này để sống những tháng ngày thanh đạm, tự do tự tại.
Lời ước hẹn ấy đẹp đẽ và ấm áp biết bao, nó là ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn Vân Nương suốt ba năm qua giữa mùa đông lạnh giá của Bá phủ, nhưng giờ đây, khi nhìn vào hiện thực tàn khốc trước mắt, nàng bỗng cảm thấy ước mơ ấy sao mà mong manh và xa vời vợi tựa như làn khói sương mờ ảo. Gia tộc họ Ôn này giống như một cây cổ thụ khổng lồ đã mục ruỗng toàn bộ phần gốc rễ, chỉ cần một cơn gió mạnh thổi qua là có thể đổ sụp bất cứ lúc nào, đè bẹp tất cả những sinh linh nhỏ bé đang nương náu dưới bóng râm của nó. Chàng thư sinh của nàng vẫn còn đang mải mê ngâm vịnh những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của hoa mai trong tuyết trắng nơi hội thơ tao nhã, chàng nào đâu biết rằng giông bão ngập trời sắp sửa biến cả tòa lâu đài nguy nga này thành tro bụi điêu tàn.
Tiếng chuông đồng từ lầu gác xa xăm của kinh thành điểm ba tiếng trầm đục báo hiệu canh ba đã điểm, tiếng chuông xé toạc màn sương mù đặc quánh rồi chìm nghỉm vào tiếng gió đông gầm rú ngoài trời. Ngọn đèn dầu trên bàn bỗng chao nghiêng dữ dội, ngọn lửa hạt đậu nhảy nhót chập chờn như muốn lụi tàn trước một luồng tà phong lạnh buốt từ đâu thốc tới. Vân Nương giật mình, đưa bàn tay run rẩy lên che chắn cho ngọn lửa mong manh, đồng thời mi mắt bên phải của nàng lại giật mạnh liên hồi thành từng hồi dồn dập. Người xưa thường bảo mắt trái giật là tài lộc, mắt phải giật là tai ương, và chưa bao giờ linh tính của nàng lại báo hiệu một điềm dữ nặng nề và rõ rệt đến mức khiến toàn thân nàng ớn lạnh như lúc này. Nàng đứng dậy, khoác thêm tấm áo choàng mỏng đã sờn chỉ quanh bờ vai gầy, toan bước ra cửa ngóng trông thì một âm thanh lạ lùng bỗng vang lên từ góc vườn phía sau.
Đó là một chuỗi âm thanh lạo xạo dồn dập, tựa như có vật gì nặng nề đang lê lết trên nền tuyết xốp xen lẫn tiếng cành cây khô gãy vụn và tiếng thở dốc nghẹn ngào đứt quãng. Giữa đêm khuya vắng vẻ không một bóng người, khi mà ngay cả tiếng thở của loài sâu bọ cũng bị cái rét đông miên vùi lấp dưới lớp băng dày, tiếng động ấy vang lên nghe rõ mồn một tựa như tiếng bước chân của tử thần đang lần mò từng bậc thang đá. Toàn thân Vân Nương căng cứng lại, hơi thở nàng ngưng trệ trong lồng ngực khi bản năng sinh tồn mách bảo mối nguy hiểm cận kề trong gang tấc. Không một chút chần chừ, nàng với tay lấy chiếc kéo sắt sắc bén dùng để cắt may y phục giấu sâu vào trong ống tay áo rộng thùng thình, từng ngón tay siết chặt lấy chuôi kéo lạnh ngắt như băng đá để tìm lại chút cảm giác vững vàng. Nàng đưa tay thổi tắt ngọn đèn dầu trên bàn, để căn phòng chìm vào bóng tối đặc quánh, rồi nhẹ nhàng lướt từng bước chân không một tiếng động về phía cánh cửa ngách thông ra góc vườn hoang vắng phía sau.
Căn nhà Tây sương phòng này vốn là nơi ở của những người hầu hạ thấp kém thời trước, sau này bị bỏ hoang nhiều năm rồi mới dọn dẹp sơ sài để làm nơi ở cho vợ chồng Tam công tử, cho nên phía sau gian phòng ngủ có một cánh cửa ngách nhỏ thông thẳng ra góc hoa viên tiếp giáp với bờ tường rào phía Tây của Bá phủ. Bờ tường rào nơi đây được xây bằng gạch xám cũ kỹ, phía trên có chăng những hàng rào hoa sắt gỉ sét và dây leo khô héo, là nơi khuất nẻo nhất trong toàn bộ phủ đệ vì bên ngoài là một con ngõ hẹp cụt đường ít ai qua lại. Vân Nương nín thở, đôi mắt mở to cố gắng thích nghi với bóng tối đặc quánh, nàng áp sát tai vào tấm gỗ mục của cánh cửa ngách, lắng nghe từng biến động nhỏ nhất đang diễn ra bên ngoài màn tuyết trắng.
Tiếng thở dốc bên ngoài càng lúc càng nặng nề hơn, xen lẫn tiếng rên rỉ yếu ớt đầy đau đớn và tiếng quần áo cọ xát vào những bụi tầm xuân khô khốc. Cánh then gỗ cũ kỹ được nhấc ra khẽ khàng chỉ phát ra một tiếng cọt kẹt rất nhỏ, luồng gió lạnh buốt thấu xương lập tức từ ngoài ùa vào thốc thẳng vào mặt Vân Nương, mang theo mùi tuyết ẩm mốc và thoang thoảng một thứ mùi tanh nồng quen thuộc của máu tươi. Nàng nép mình sau cánh cửa, khẽ hé một khe hẹp nhìn ra ngoài màn đêm mờ ảo; dưới ánh sáng phản chiếu yếu ớt từ lớp tuyết trắng xóa phủ đầy mặt đất, một bóng người gầy guộc đang run rẩy bám lấy bờ tường hoa cao ngất, rồi dường như đã cạn kiệt toàn bộ sức lực, bóng người ấy ngã nhào xuống đống tuyết dày bên dưới, phát ra một tiếng huỵch trầm đục đầy đau đớn. Tiếng rên rỉ yếu ớt như tiếng mèo con hấp hối cất lên giữa màn đêm lạnh giá khiến tim Vân Nương như thắt lại, nàng lập tức nhận ra dáng vóc quen thuộc ấy; đó chính là Trúc Nhi, đứa nha hoàn thân cận đã theo nàng từ thuở nhỏ ở Giang Nam, người mà ba ngày trước nàng đã đánh liều phái đi bám theo dấu vết của toán người quản gia bí hiểm kia.
Quên cả nỗi sợ hãi có thể bị tai mắt của Đại phòng rình rập, Vân Nương vội vã lao mình ra giữa trời tuyết rơi trắng xóa, đôi chân trần trong đôi giày vải mỏng giẫm ngập vào lớp tuyết lạnh buốt đến tê dại. Nàng quỳ sụp xuống bên cạnh bóng người đang co quắp trên nền tuyết, đôi bàn tay run rẩy gạt đi những lọn tóc rối bết chặt vào khuôn mặt tái nhợt phủ đầy sương giá của cô gái nhỏ. Dưới ánh sáng lờ mờ của đêm đông, cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến Vân Nương bàng hoàng đến mức suýt nữa bật thốt lên tiếng thét kinh hãi; toàn thân Trúc Nhi nhuộm một màu đỏ thẫm của máu tươi đang đông cứng lại thành từng mảng đen sì trên lớp áo vải thô rách nát, trên bả vai trái của nàng cắm ngập một nửa thân mũi tên ngắn bằng sắt đen kịt, phần đầu mũi tên đã bị bẻ gãy nham nhở, để lại miệng vết thương sưng phù tím tái và bốc lên một mùi tanh tưởi kỳ quái.
Nhìn kỹ hơn vào miệng vết thương, đồng tử của Vân Nương co rút lại thành một chấm nhỏ; xung quanh chỗ mũi tên đâm vào, những thớ thịt đã chuyển sang màu đen thui như than củi, từng dòng máu ứa ra không mang màu đỏ tươi thông thường mà là một thứ dịch lỏng màu nâu sẫm sền sệt bốc khói mờ ảo giữa cái lạnh căm căm. Mùi tanh lợm của nọc độc xộc thẳng vào mũi nàng, một mùi hương hắc nồng pha lẫn vị đắng ngắt mà cha nàng từng miêu tả trong cuốn y thư cổ của Thẩm gia; đó chính là thứ độc dược tàn khốc chuyên dùng để ám sát và truy lùng trọng phạm, thứ độc dược có tên là Đoạn Hồn Tán, một khi đã ngấm vào máu thì chỉ trong vòng ba khắc kinh mạch sẽ bị ăn mòn, tim gan phèo phổi nát vụn không thuốc nào chữa nổi.
Nhận thấy Trúc Nhi chỉ còn lại hơi thở thoi thóp tựa như sợi tơ mành sắp đứt, Vân Nương không màng đến sự yếu ớt của bản thân, nàng cắn chặt môi đến bật máu, dùng hết sức bình sinh luồn hai tay qua nách cô nha hoàn nhỏ bé, gồng mình kéo lê thân thể đẫm máu ấy từng bước một qua cánh cửa ngách vào sâu trong buồng kín. Đôi bàn chân trần của nàng cọ xát trên nền gạch lạnh buốt, từng thớ cơ trên cánh tay đau nhói như muốn đứt lìa dưới sức nặng của thân xác đang dần mất đi sự sống, nhưng nàng không dám buông tay, nàng sợ chỉ cần một giây lơi lỏng là tử thần sẽ cướp mất người muội muội này khỏi vòng tay nàng. Sau khi cài chặt then cửa gỗ và hạ tấm rèm nhung dày ngăn cách gió lạnh, Vân Nương lập tức đặt Trúc Nhi nằm lên chiếc giường tre lót rơm khô của mình, rồi vội vã chạy đến chiếc rương gỗ mục ở góc phòng lôi ra chiếc tráp đựng bột thuốc cầm máu gia truyền mà nàng luôn cất giữ cẩn thận. Bàn tay nàng run lên bần bật khi mở nắp hộp sứ, những hạt bột thuốc trắng mịn rơi vãi trên nệm giường, nàng toan rắc thuốc lên miệng vết thương đẫm máu nơi bả vai của Trúc Nhi thì một bàn tay lạnh ngắt, gầy trơ xương và nhớp nháp bùn máu đột ngột vươn lên, nắm chặt lấy cổ tay nàng bằng một sức lực tàn dư cuối cùng.
Trúc Nhi khẽ mở đôi mắt đục ngầu đã bắt đầu mất đi tiêu cự, bờ môi khô nứt nẻ tím ngắt khẽ mấp máy, từng giọt máu đen kịt từ khóe miệng trào ra lăn dài trên gò má hốc hác không còn giọt máu. Cô bé lắc đầu một cách khó nhọc, giọng nói thều thào đứt quãng như tiếng lá khô cọ xát vào nền đá: "Tiểu... tiểu thư... đừng phí thuốc nữa... Độc... độc Đoạn Hồn Tán của Bắc Trấn Phủ Ty... đã ngấm vào tâm mạch của nô tỳ rồi... Nô tỳ... nô tỳ không sống qua nổi đêm nay đâu... Người... người hãy nghe nô tỳ nói... đại họa... đại họa diệt môn sắp giáng xuống đầu Bá phủ rồi..."
Từng lời nói của Trúc Nhi như những tiếng sét xé toạc màn đêm u tối, giáng thẳng vào tâm trí đang căng như dây đàn của Vân Nương khiến nàng sững sờ chết lặng. Nàng vội nắm chặt lấy bàn tay lạnh buốt của người nha hoàn thân thiết tựa muội muội ruột thịt, áp nó vào má mình để truyền chút hơi ấm ít ỏi, nước mắt rốt cuộc không thể kìm nén được nữa mà trào dâng nơi khóe mi, nàng nghẹn ngào cất tiếng: "Trúc Nhi, em đừng nói gở, ta nhất định sẽ tìm cách cứu em, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, tại sao em lại trúng tên của Cấm quân Bắc Trấn Phủ Ty?"
Trúc Nhi thở dốc từng cơn kịch liệt, lồng ngực gầy guộc phập phồng đau đớn như thể từng tấc da thịt bên trong đang bị thiêu đốt bởi chất độc tàn bạo, nhưng nàng vẫn cố gắng trợn tròn đôi mắt đẫm lệ, dồn hết sinh lực còn sót lại của một kiếp người để truyền đạt bí mật kinh hoàng mà nàng đã phải đổi bằng cả mạng sống: "Vĩnh Ninh bá... cùng Đại công tử Ôn Diệu Tổ... bọn họ điên rồi... Bấy lâu nay bọn họ chìm trong cờ bạc, nợ nần chồng chất, phủ đệ trống rỗng, nên đã lén lút cấu kết với bọn tham quan nơi Binh bộ và thương đoàn man tộc Bắc Địch... Bọn họ đã bí mật mở kho vũ khí quân dụng, tuồn hàng ngàn bộ thiết giáp hạng nặng và cung nỏ qua đường buôn lậu nơi ải Hắc Thủy để đổi lấy vàng ròng và ngọc bích từ biên cương... Chuyến hàng khổng lồ đêm qua... đã bị mật thám Cấm quân của Bắc Trấn Phủ Ty phục kích bắt trọn ổ ngay tại hẻm núi Hắc Thủy..."
Căn phòng nhỏ dường như rơi vào một hầm băng sâu vạn trượng, không khí lạnh lẽo đông cứng lại quanh hai người phụ nữ tội nghiệp; Vân Nương nghe từng chữ từng câu mà cảm thấy đầu óc mình ong lên dữ dội, lồng ngực thắt nghẹn như có tảng đá ngàn cân đè nặng. Nàng biết rất rõ luật lệ hà khắc của vương triều Đại Khang, tội danh cấu kết với ngoại bang, tuồn bán binh khí quân dụng cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Địch là tội danh mưu đại nghịch tày trời, tội danh ấy xưa nay chỉ có một kết cục duy nhất là tru di cửu tộc, không một ai mang dòng máu họ Ôn có thể thoát khỏi lưỡi đao đồ tể của triều đình. Sự tham lam vô độ và lối sống xa hoa đồi bại của dòng chính Bá phủ bấy lâu nay đã đẩy toàn bộ gia tộc vào ngõ cụt diệt vong, và điều tàn nhẫn nhất là những con người vô tội ở Tam phòng như nàng và Thiệu Đường, những kẻ quanh năm chịu đói chịu rét trong xó xỉnh tăm tối này, cũng sẽ bị lôi ra pháp trường để chém đầu thị chúng cùng một giuộc với lũ sâu mọt phản quốc ấy.
Trúc Nhi ho sặc sụa, một búng máu đen thẫm trào ra ướt đẫm vạt áo trước ngực, nàng run rẩy giơ cánh tay còn lại lên nắm chặt lấy vạt áo bông cũ kỹ của Vân Nương, ánh mắt ngập tràn vẻ kinh hoàng và tuyệt vọng: "Tiểu thư... mật thám Bắc Trấn Phủ Ty đã giăng lưới phong tỏa khắp mười hai cửa ô của kinh thành Thịnh Kinh rồi... Đích thân Chỉ huy sứ Cố Kính đã phụng mật chỉ của Hoàng thượng... Trong vòng hai ngày tới... Cấm quân sẽ đem quân bao vây tịch biên toàn bộ Vĩnh Ninh bá phủ, không chừa một con chó con gà... Bọn họ sẽ tống giam toàn bộ già trẻ lớn bé vào Chiêu Ngục... Đàn ông trên mười sáu tuổi sẽ bị chém đầu lập quyết, đàn bà con gái sẽ bị sung vào giáo phường ty hoặc lưu đày đến vùng cực bắc hoang vu làm nô lệ... Tiểu thư... người và Tam công tử... phải mau chóng tìm đường chạy trốn đi..."
Vân Nương cắn chặt môi đến mức nếm được vị tanh nồng của máu chính mình, sự đau xót và căm phẫn tột cùng đan xen trong tâm can nàng tựa như ngàn vạn mũi kim châm. Hai ngày; thời gian mà triều đình dành cho một bản án diệt môn chỉ vỏn vẹn có hai ngày ngắn ngủi, trong khi kinh thành đã bị Cấm quân phong tỏa nghiêm ngặt như thùng sắt, một con chim sẻ cũng khó lòng bay lọt qua cổng thành chứ đừng nói đến hai con người bằng xương bằng thịt. Chạy trốn ư; nếu lúc này bỏ trốn, chẳng khác nào tự biến mình thành kẻ phản nghịch đào tẩu, chưa bước ra khỏi con phố Bình An đã bị cung tên của Cấm quân bắn thành tổ ong vò vẽ; hơn nữa, Thiệu Đường hiện tại vẫn còn đang ngây thơ ở hội thơ, chàng hoàn toàn không hay biết trời đất sắp sụp đổ ngay trên đầu mình, nàng làm sao có thể vứt bỏ phu quân để một mình trốn chạy cho đành.
Nàng nhìn sâu vào đôi mắt đang mờ dần của Trúc Nhi, bàn tay nàng khẽ run rẩy vuốt ve mái tóc bết máu của cô bé, giọng nói nàng nghẹn ngào nhưng từng chữ phát ra lại rành rọt, kiên định lạ thường: "Trúc Nhi ngoan của ta, em đã vì ta mà chịu khổ nhiều rồi. Em hãy nói cho ta biết, chuyến hàng ở ải Hắc Thủy bị bắt, bọn Cấm quân có tìm thấy bằng chứng nào chỉ đích danh Tam công tử Thiệu Đường có liên can hay không? Chàng quanh năm chỉ biết đọc sách, làm sao có thể dính líu đến chuyện buôn bán vũ khí của bọn họ được?"
Trúc Nhi gắng gượng lắc đầu, hơi thở nàng đứt quãng từng chặng dài như tiếng kéo bễ rách nát nơi lò rèn: "Không... Tam công tử hoàn toàn không biết gì... Nhưng... nhưng Đại công tử Ôn Diệu Tổ là kẻ xảo quyệt độc ác... Nô tỳ nấp dưới gầm xe ngựa nghe lỏm được... hắn đã ngấm ngầm sai thuộc hạ đánh cắp con dấu riêng của Tam công tử... đóng lên một số bức thư từ giao dịch với thương nhân Bắc Địch... nhằm chuẩn bị sẵn đường lui... để khi hữu sự sẽ đổ hết mọi tội lỗi lên đầu Tam phòng... Bọn họ muốn biến Tam công tử thành kẻ chết thay cho bọn họ..."
Nghe đến đây, một luồng hàn khí buốt giá từ sống lưng Vân Nương chạy thẳng lên đỉnh đầu, hàm răng nàng va vào nhau cầm cập vì phẫn nộ tột cùng. Độc ác, tàn nhẫn đến tột bực; cùng là máu mủ ruột thịt của dòng họ Ôn, vậy mà bọn người Đại phòng lại có thể nhẫn tâm lập mưu đẩy một đứa em trai thứ hiền lành, vô tội vào chỗ chết không toàn thây chỉ để cứu lấy cái mạng hèn hạ của chính mình. Nếu không có Trúc Nhi liều chết mang tin tức này về, e rằng đến khi Cấm quân ập vào trói gông vào cổ, chàng thư sinh ngốc nghếch Ôn Thiệu Đường vẫn còn ngơ ngác không hiểu vì sao mình lại mang tội danh mưu phản diệt tộc. Mối thù này, nỗi oan khốc này, dẫu có đổ hết nước sông Hoàng Hà cũng không thể nào rửa sạch.
Thấy Vân Nương im lặng trong sự đau đớn tột cùng, ánh mắt Trúc Nhi bỗng lóe lên một tia sáng kỳ lạ, nàng dùng chút sức lực cuối cùng của đôi bàn tay đã bắt đầu cứng đờ vì hơi lạnh của tử thần, thò sâu vào lớp lót áo trong ngực, nơi máu tươi đã thấm đẫm thành từng vệt dài. Nàng run rẩy lôi ra một gói nhỏ được bọc kỹ càng bằng ba lớp vải lụa dầu chống nước, chiếc bọc nhỏ được nàng nâng niu cất giấu cẩn thận bên cạnh trái tim mình suốt quãng đường chạy trốn trong làn mưa tên mũi giáo. Đôi môi tím tái của Trúc Nhi khẽ run lên, nàng run rẩy mở lớp vải dầu ra, để lộ một miếng ngọc bội hình hoa sen bằng ngọc bích cổ màu xanh biếc, mép ngọc viền những đường chỉ vàng tinh xảo, dù dính vài vệt máu đen nhưng vẫn tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp dịu dàng.
"Tiểu thư... người còn nhớ vật này không..." Trúc Nhi thều thào, từng hơi thở của nàng rít qua kẽ răng tựa như tiếng gió thổi qua khe núi hoang vu: "Đây là... miếng ngọc bội gia truyền của lão gia... ngày xưa khi cứu một vị thư sinh nghèo khó bên dòng sông Tiền Đường... lão gia đã tặng miếng ngọc này làm lộ phí cho người đó lên kinh ứng thí... Vị thư sinh năm xưa... nay chính là Hàn học sĩ chốn Hàn Lâm viện... người được Hoàng thượng vô cùng tin cẩn... Mấy hôm trước khi theo dõi tên quản gia... nô tỳ đã vô tình tìm lại được miếng ngọc này trong hòm đồ cầm cố của hắn... Tiểu thư... hãy giữ lấy nó... sau này... sau này nếu vào ngục tối... chỉ có Hàn học sĩ mới có thể cứu mạng Tam công tử và người..."
Nhìn miếng ngọc bội quen thuộc của người cha quá cố, những ký ức ấm áp thuở ấu thơ nơi vùng sông nước Giang Nam hiền hòa bỗng chốc ùa về trong tâm trí Vân Nương, làm nhòe đi cảnh tượng địa ngục trần gian trước mắt. Năm xưa, cha nàng là một thầy thuốc thanh liêm, cả đời hành thiện tích đức, từng cứu sống không biết bao nhiêu sinh linh nghèo khó, và miếng ngọc bội này chính là kỷ vật thiêng liêng nhất mà cha để lại trước khi qua đời. Cha từng kể với nàng về chàng thư sinh họ Hàn năm ấy, một người có khí cốt thanh cao, đôi mắt sáng như sao trời nhưng vì cơ hàn mà suýt phải bỏ mạng nơi đất khách; cha đã không ngần ngại tặng cho chàng thư sinh ấy mười lượng bạc lộ phí cùng miếng ngọc bội gia truyền này để làm tin, chỉ mong giang sơn có thêm một vị quan thanh liêm vì dân vì nước. Không ngờ vật đổi sao dời, miếng ngọc bội từng lưu lạc nay lại trở về trong tay nàng giữa thời khắc sinh tử ngàn cân treo sợi tóc.
Nàng run rẩy đón lấy miếng ngọc bội còn vương hơi ấm yếu ớt từ lồng ngực Trúc Nhi, nắm chặt nó trong lòng bàn tay mà lòng đau như cắt; đứa nha hoàn nhỏ bé trung kiên này, ngay cả trong giây phút cận kề cái chết, trong lúc bị Cấm quân truy đuổi ráo riết giữa làn tên mũi đạn, điều duy nhất mà nàng nghĩ đến vẫn là tìm lại một con đường sống cho vị tiểu thư bất hạnh của mình. Tấm lòng trung trinh son sắt ấy cao vời vợi tựa núi Thái Sơn, nặng ân tình hơn cả biển khơi muôn trùng, nàng Thẩm Sở Vân này lấy gì để đền đáp cho trọn vẹn trong kiếp này kiếp sau.
Bàn tay Trúc Nhi bỗng nắm chặt lấy ngón tay của Vân Nương, đôi mắt nàng mở to nhìn chằm chằm vào trần nhà, những mạch máu đỏ ngầu nơi tròng mắt dường như vỡ vụn dưới áp lực của độc dược đang tàn phá ngũ tạng. Một dòng máu đen đặc quánh lại trào ra từ khóe mắt và tai của cô bé, dấu hiệu rõ ràng cho thấy chất độc Đoạn Hồn Tán đã ngấm trọn vẹn vào cốt tủy, không còn bất kỳ phép màu nào có thể giữ lại sinh mệnh của nàng trên cõi đời này nữa. Giọng nói của Trúc Nhi nhỏ dần, đứt quãng từng tiếng một như sắp hòa tan vào tiếng gió bấc gào thét ngoài song cửa: "Tiểu thư... người là người tốt... trời cao... trời cao sẽ có mắt... Nhất định... nhất định phải sống sót... Đừng... đừng chết theo... cái Bá phủ bất nhân này..."
Tiếng nói cuối cùng vừa dứt, bàn tay của Trúc Nhi bỗng nhiên buông thõng xuống, rơi bịch lên lớp nệm rơm khô trên giường tre lạnh lẽo. Đôi mắt trong veo từng cười rạng rỡ bên bờ sông Giang Nam nay đã vĩnh viễn khép lại, khuôn mặt nhỏ nhắn phủ đầy vết máu và tro bụi từ từ nghiêng sang một bên, trút đi hơi thở cuối cùng của một kiếp hồng nhan bạc phận. Căn phòng nhỏ chìm vào một sự tĩnh lặng đến rợn người, chỉ còn lại tiếng tuyết rơi lạo xạo trên mái ngói và tiếng gió bấc vẫn gầm rít từng cơn điên cuồng như muốn xé toạc căn nhà gỗ tồi tàn.
Nỗi đau đớn tột cùng tựa như một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy trái tim Vân Nương, khiến nàng quỳ sụp xuống bên thi thể Trúc Nhi, hai vai run lên bần bật trong nỗi tuyệt vọng câm lặng. Nàng muốn gào thét, muốn khóc thật to để trút bỏ hết nỗi uất ức và bi thương đang xé rách lồng ngực mình, nhưng lý trí đanh thép của một người phụ nữ từng trải qua bao biến cố gia đình đã ghìm chặt tiếng khóc lại nơi cổ họng. Nàng biết, chỉ một tiếng nấc nghẹn ngào vang ra lúc này cũng có thể đánh động đám gia đinh của Đại phòng đang tuần tra bên ngoài, và khi ấy, không chỉ cái chết của Trúc Nhi bị bại lộ mà ngay cả cơ hội sống sót mong manh cuối cùng của nàng và Thiệu Đường cũng sẽ tan thành mây khói. Nàng cúi đầu, áp trán mình vào vầng trán lạnh ngắt của Trúc Nhi, nuốt từng giọt nước mắt mặn chát vào sâu trong tâm can, để nỗi đau hóa thành sự căm hận và ngọn lửa kiên định sắt đá.
Nàng nhớ lại những ngày tháng êm đềm ở Giang Nam mười năm về trước, khi ấy Trúc Nhi chỉ là một đứa trẻ mồ côi gầy gò ốm yếu, bị bọn buôn người đánh đập dã man rồi vứt bỏ bên vệ đường trong một ngày mưa tuyết giá rét. Chính cha nàng đã mang cô bé về nhà, tự tay sắc từng thang thuốc cứu sống sinh linh bé nhỏ ấy, còn nàng thì chia sẻ từng tấm áo manh quần, xem Trúc Nhi như người em gái ruột thịt trong gia đình. Suốt mười năm qua, dù đi đâu làm gì, Trúc Nhi vẫn luôn quấn quýt bên cạnh nàng, cùng nàng chia ngọt sẻ bùi, cùng nàng vượt qua nỗi đau mất cha mẹ, rồi theo nàng bước chân vào cái chốn hào môn sâu hiểm này. Vậy mà hôm nay, người em gái trung kiên ấy đã ngã xuống trong vũng máu lạnh buốt, vĩnh viễn không còn có thể cất tiếng gọi hai tiếng tiểu thư thân thương được nữa.
Mỗi giọt nước mắt rơi xuống vạt áo đẫm máu của Trúc Nhi là một lời thề khắc cốt ghi tâm trong tâm khảm Vân Nương. Nàng không thể gục ngã, nàng tuyệt đối không được phép yếu lòng vào giây phút này; Trúc Nhi đã dùng mạng sống của mình để đổi lấy tin tức sinh tử này cho nàng, nếu nàng suy sụp buông xuôi thì sự hy sinh của cô bé sẽ trở thành vô nghĩa. Dòng chính Bá phủ tham tàn vô đạo, xem mạng người như cỏ rác, bọn chúng đã tự tay đẩy cả gia tộc vào hố sâu diệt vong thì bọn chúng phải gánh chịu quả báo của trời cao, nhưng nàng và Thiệu Đường, cùng những con người vô tội khác, nhất định phải tìm thấy một tia hy vọng sống sót giữa cõi chết mịt mùng này.
Sau một hồi lâu quỳ lặng trong bóng tối, Vân Nương hít một hơi thật sâu, luồng khí lạnh buốt tràn vào phổi làm đầu óc nàng bừng tỉnh và trở nên sáng suốt lạ thường. Nàng nhẹ nhàng đưa tay vuốt khép lại đôi mắt của Trúc Nhi, chỉnh đốn lại vạt áo rách nát cho nàng rồi khẽ thì thầm bên tai người đã khuất: "Trúc Nhi, em hãy yên nghỉ. Ân tình này, sự hy sinh này của em, Thẩm Sở Vân ta đời này kiếp này khắc cốt ghi tâm. Ta thề trước vong linh của em, ta nhất định sẽ sống sót, nhất định sẽ đưa tro cốt của em trở về mảnh đất Giang Nam yên bình, không để em phải cô quạnh nơi đất khách quê người."
Đứng dậy khỏi mép giường, Vân Nương tháo chiếc trâm cài tóc bằng gỗ mun, gom mái tóc dài đen nhánh buộc chặt lại sau gáy, rồi xắn cao hai ống tay áo của chiếc áo bông thô ráp. Trước mắt nàng là một thực tế tàn khốc không thể chối bỏ: thi thể của Trúc Nhi đang nằm đây với vết thương do tên bắn của Bắc Trấn Phủ Ty, nếu để bất kỳ ai trong Bá phủ nhìn thấy, hoặc nếu ngày mai Cấm quân ập vào phát hiện ra xác nàng trong viện Tam phòng, tội danh bao che kẻ đào tẩu sẽ lập tức đẩy vợ chồng nàng vào chỗ chết ngay trong đêm nay. Nàng không thể chôn cất Trúc Nhi một cách đàng hoàng giữa mùa đông đất đóng băng cứng như đá, lại càng không thể mang thi thể ra ngoài cổng phủ khi mà khắp nơi đều có tai mắt dòm ngó; nơi duy nhất an toàn và kín đáo nhất lúc này chính là căn hầm chứa than đá bỏ hoang phía sau góc hoa viên, nơi ẩm thấp u tối quanh năm chẳng có bóng người nào thèm lai vãng.
Vân Nương nhanh chóng tìm một tấm vải bạt thô dày bọc kín thân thể Trúc Nhi lại để ngăn máu tươi không rỉ thêm ra ngoài, rồi dùng dây thừng gai buộc chặt lại một cách cẩn thận. Nàng cắn chặt răng, ghé đôi vai gầy guộc của mình xuống mép giường, dùng toàn bộ sức lực của một người đàn bà yếu đuối nhưng đang bị dồn vào đường cùng để cõng thi thể người nha hoàn lên lưng. Bước chân nàng lảo đảo, sức nặng của thân xác lạnh ngắt đè trĩu đôi vai khiến từng khớp xương như muốn vỡ vụn, nhưng nàng vẫn cắn răng chịu đựng, từng bước một mò mẫm tiến ra phía cửa ngách sau vườn.
Gió đông ngoài trời thổi thốc từng cơn bão tuyết mù mịt, cái lạnh cắt da cắt thịt như muốn đông cứng từng mạch máu trong cơ thể Vân Nương, nhưng nàng không hề dừng bước. Nàng lần theo bóng tối của chân tường rêu phong, bước đi thật khẽ khàng trên những lối mòn khuất nẻo, men qua những bụi trúc cằn cỗi đang oằn mình dưới tuyết để đến góc hầm than đá nằm lọt thỏm dưới một vòm cuốn gạch cũ kỹ. Đẩy cánh cửa gỗ mục nát phủ đầy mạng nhện và bụi than đen sì, một mùi ẩm mốc nồng nặc xộc thẳng vào mũi; Vân Nương nhẹ nhàng đặt thi thể Trúc Nhi xuống một khoảng đất khô ráo sâu bên trong góc hầm, nơi những tảng than đá đen nhánh chất cao như bức tường che chắn.
Nàng cẩn thận phủ lên thi thể Trúc Nhi một lớp bao tải gai sạch sẽ, rồi nhẹ nhàng xếp từng tảng than đá nhỏ xung quanh để che giấu dấu vết, vừa làm vừa cắn chặt môi để ngăn không cho tiếng nấc nghẹn ngào bật ra thành tiếng. Sau khi hoàn tất, nàng cúi đầu vái ba vái trước góc hầm tối tăm, thầm cầu nguyện cho linh hồn trung liệt của cô gái nhỏ được siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng. Trở lại khoảng sân vườn tuyết trắng, Vân Nương lấy chiếc chổi đót và cái xẻng nhỏ giấu sẵn bên góc tường, tỉ mỉ cào quét sạch sẽ từng vệt máu thẫm màu vương vãi trên nền tuyết, rồi hất những lớp tuyết mới tinh khôi phủ lên trên, xóa sạch hoàn toàn mọi dấu vết kéo lê và dấu chân qua lại giữa đêm khuya.
Khi bước chân trở lại vào căn phòng nhỏ của mình, toàn thân Vân Nương đã ướt sũng vì tuyết tan và mồ hôi lạnh, đôi bàn tay sưng đỏ buốt giá vì băng tuyết bám chặt. Nàng đóng chặt hai then gỗ nặng trịch của cánh cửa ngách, cài then then cửa chính, rồi cài chặt tất cả các chốt cửa sổ bằng gỗ mun dày dặn, cô lập hoàn toàn căn phòng nhỏ bé với thế giới tàn khốc bên ngoài. Nàng bước đến chiếc bàn gỗ, quẹt đá lửa châm lại ngọn đèn dầu hạt đậu leo lét, ánh lửa bập bùng chiếu rọi lên tấm gương đồng cũ kỹ phủ đầy một lớp bụi mờ sương.
Nhìn vào bóng hình mình trong gương, một người phụ nữ trẻ tuổi với gương mặt nhợt nhạt không một giọt phấn son, chiếc áo bông chần chỉ thô ráp bạc màu khoác trên đôi vai gầy guộc nhưng đôi mắt đen láy lại bừng sáng lên một ngọn lửa kiên cường và quyết liệt chưa từng thấy, Vân Nương khẽ siết chặt miếng ngọc bội hình hoa sen trong lòng bàn tay. Hai ngày; nàng chỉ còn đúng hai ngày ngắn ngủi trước khi sấm sét diệt môn của Cấm quân giáng xuống đầu Vĩnh Ninh bá phủ, và trong hai ngày ấy, nàng phải làm tất cả những gì có thể để biến cái chết cận kề thành một con đường sống. Nàng không thể trông cậy vào gia tộc bất nhân này, lại càng không thể để người phu quân ngây thơ của mình phải làm mồi cho dã tâm của kẻ khác; nàng phải chuẩn bị, phải giấu bạc, phải tính toán từng đường đi nước bước để khi cánh cửa ngục tối Chiêu Ngục mở ra, nàng vẫn có đủ sức mạnh để giữ lấy mạng sống cho cả hai người.
Nàng bước đến bên chiếc rương gỗ lim đặt dưới chân giường, chiếc rương đựng của hồi môn mà nàng mang từ Giang Nam lên kinh thành ba năm trước. Mở nắp rương, nhìn những xấp văn khế điền trang, những khế ước cửa tiệm hương liệu và số ngân phiếu lưu hành của tiệm bạc Tứ Hải, đầu óc Vân Nương xoay chuyển cực nhanh. Ngày mai, ngay khi trời vừa hửng sáng, nàng sẽ phải tìm cách liên lạc với Tiền chưởng quầy của tiệm hương liệu, âm thầm bán tháo toàn bộ điền trang và cửa hàng với giá rẻ nhất để đổi lấy bạc vụn và ngân phiếu mệnh giá nhỏ. Bạc nén lớn và châu báu ngọc ngà khi bị Cấm quân khám xét sẽ lập tức bị tịch thu không sót một mảnh, nhưng bạc vụn và ngân phiếu mỏng manh thì có thể khâu giấu vào những chỗ mà không một tên lính Cấm quân nào ngờ tới.
Ánh mắt nàng dừng lại trên chiếc áo bông chần chỉ thô bạc phếch treo trên vách nứa, chiếc áo bông cũ kỹ mà người ta thường vứt xó mỗi khi mùa đông qua đi. Một ý nghĩ táo bạo nhưng tràn đầy hy vọng bỗng lóe lên trong đầu Vân Nương; chiếc áo rách nát này chính là lớp vỏ bọc hoàn hảo nhất trước mắt lũ khốc lại cấm quân hám tài. Nàng sẽ dùng tài may vá gia truyền để rạch từng đường chỉ lót, khâu từng mẩu bạc vụn, từng tấm ngân phiếu cứu mạng và những hoàn thuốc chỉ huyết quý giá vào sâu bên trong lớp bông xơ xác. Chiếc áo bông cũ ấy sẽ trở thành tấm khiên bảo vệ, trở thành kho báu sinh mệnh để nàng nuôi sống gia đình và mua chuộc những ngọn roi tàn bạo nơi địa ngục Chiêu Ngục.
Nàng lấy cuộn chỉ gai thô và cây kim khâu lớn từ trong hộp mây ra đặt ngay ngắn trên bàn, rồi nhẹ nhàng vuốt ve từng nếp vải thô nhám của chiếc áo bông cũ. Chiếc áo này là do chính tay nàng may cho Thiệu Đường vào mùa đông năm ngoái từ thứ vải thô giá rẻ nhất ngoài chợ, chàng mặc đã sờn rách ở hai bên khuỷu tay và vạt áo, nhưng chàng lại quý nó vô cùng vì đó là tấm lòng của thê tử. Giờ đây, chính chiếc áo tầm thường này sẽ là thứ đồng hành cùng hai vợ chồng nàng bước vào cửa tử; từng đường kim mũi chỉ mà nàng sắp khâu vào sẽ là ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, giữa sự tồn tại và diệt vong.
Nàng thầm tính toán từng khoản chi dụng cho tương lai: năm ngàn lượng ngân phiếu của tiệm bạc Tứ Hải có thể chia nhỏ ra khâu vào lớp lót lưng áo và cổ áo; ba trăm lượng bạc vụn đã được đập nhỏ thành từng viên như hạt ngô sẽ được nhét rải rác vào lớp bông gòn chần bên trong tay áo và gấu quần; còn những hoàn thuốc chỉ huyết và thuốc hạ sốt trị độc của Thẩm gia thì bọc trong sáp ong nhét vào đế giày vải. Với số tiền và thuốc men ấy, dẫu có bị tống vào chốn Chiêu Ngục tăm tối nhất, nàng vẫn có thể dùng bạc để đổi lấy cháo nóng, chăn khô cho phu quân, dùng thuốc để giữ lấy mạng sống qua những trận đòn tra tấn tàn khốc, và quan trọng nhất là có thể mua chuộc những tên cai ngục còn chút lương tri để truyền tin tức ra ngoài cho Hàn học sĩ.
Gió bấc ngoài trời vẫn gầm rít từng cơn điên cuồng, lay giật khung cửa sổ như muốn xé toạc màn đêm đen đặc, nhưng trong lòng Thẩm Sở Vân lúc này, một sự tĩnh lặng đến lạnh lùng đã hoàn toàn ngự trị. Nàng nâng ngọn đèn dầu lên, đặt bàn tay mảnh mai lên ngực áo, nơi miếng ngọc bội hoa sen đang tỏa ra hơi ấm dịu dàng tựa như linh hồn của người cha đã khuất đang dõi theo từng bước đi của nàng. Từng chữ từng câu nàng tự nhủ với chính mình vang lên đanh thép như tiếng đao kiếm va vào đá tảng giữa đêm trường u tối: "Vĩnh Ninh bá phủ đã tự đào mồ chôn mình, nhưng Tam phòng ta tuyệt đối không thể chết oan uổng theo lũ sâu mọt. Thiệu Đường, thiếp nhất định sẽ bảo vệ chàng, dẫu trời nghiêng đất lệch, dẫu ngục sâu biển máu, thiếp cũng sẽ kéo chàng trở về với cõi bình an."
Đêm càng về khuya, cái lạnh càng thấu buốt tâm can, nhưng ngọn lửa sinh tồn trong ánh mắt Vân Nương chưa bao giờ rực cháy mãnh liệt đến thế. Nàng ngồi lại bên bàn, mài mực thắp nến, bắt đầu vạch ra từng kế hoạch tỉ mỉ cho cuộc chiến sinh tử kéo dài hai ngày tới, cuộc chiến mà nàng không được phép thua, bởi cái giá phải trả không gì khác ngoài mạng sống của chính nàng và người phu quân mà nàng hằng yêu quý. Tiếng gió rít ngoài song cửa dường như không còn đáng sợ nữa, bởi vì giông bão lớn nhất của đời người đã thực sự bắt đầu, và nàng, người phụ nữ mảnh mai của Tam phòng, đã sẵn sàng đương đầu với mọi bão dông để giành lấy con đường sống.