Thiên Kim Tướng Phủ Và Nữ Tướng Biên Quan Hoán Đổi Thân Xác Rồi!

Chương 1: Sau Khi Hoán Đổi

Cập nhật: 13/10/2026 01:41

Trước Sau

Trình Phát Audio Chương

Thưởng thức bản đọc audio chất lượng cao

Chương 1: Sau Khi Hoán Đổi
Ta tỉnh dậy giữa mùi trầm hương thoang thoảng, ngọt mà lạnh. Màn gấm buông kín mít, rủ xuống từng lớp mỏng tang, mềm như nước mùa thu. Ánh nắng ban mai lọc qua rèm lụa, thành từng vệt vàng nhạt, in loang lổ lên nền gạch men lạnh buốt. Mọi thứ ở nơi này đều mềm mại, đều dịu dàng, đều thơm tho, đều xa lạ đến mức khiến sống lưng ta lạnh toát, da gà nổi đầy cánh tay.
Ta nằm im một lúc lâu, không dám cựa mình, chỉ dám thở khẽ. Trong quân doanh, ta quen tỉnh dậy giữa tiếng trống canh dồn dập, tiếng ngựa hí vang, tiếng lính gọi nhau ơi ới. Còn ở đây, im ắng đến mức nghe rõ tiếng trầm cháy tí tách trong lư đồng, nghe rõ tiếng chim sẻ ríu rít ngoài hiên xa. Ta giơ hai tay lên trước mặt, nhìn thật lâu, nhìn đến mức mắt cay xè.
Ngón tay thon dài, trắng nõn, móng cắt gọn gàng, đầu ngón mịn màng không một vết xước, không một vết chai. Cổ tay nhỏ đến mức ta có thể bọc trọn chỉ bằng một lòng bàn tay, khẽ siết đã thấy xương mảnh mai. Đây tuyệt đối không phải bàn tay của ta. Bàn tay của ta có vết chai dày ở gốc ngón trỏ do cầm cương ngựa quanh năm suốt tháng.
Bàn tay của ta có một vết sẹo dao chém chạy dọc mu bàn tay trái, mỗi khi trở trời lại nhức âm ỉ. Bàn tay của ta có mùi thuốc xoa long não thấm mãi vào da thịt, rửa bằng nước nóng thế nào cũng không hết, ôm ai người ấy cũng kêu nồng. Còn đôi tay này, mềm như không xương, thơm mùi hoa nhài, chạm vào chăn gấm còn sợ xước da. Ta ngồi bật dậy, chăn gấm trượt xuống, để lộ cổ áo ngủ thêu chỉ vàng, mềm và nhẹ đến mức chạm vào da lại thấy ngứa ngáy khó chịu, không vững chãi như áo vải thô nơi biên quan.
Trong đầu ùa tới một trận ong ong, giống như có hàng trăm con ong mật bay loạn trong sọ, đập cánh rào rào không dứt. Tim ta đập thình thịch, mồ hôi túa ra đầy trán, ướt cả tóc mai. Hôm qua, ta vẫn còn ở trên thành Bắc Khẩu đầy gió cát. Gió bắc rít gào từng cơn, quất vào mặt rát như dao cứa, lều vải rung bần bật, dây neo căng ra kêu răng rắc.
Lửa trại nổ lép bép, tàn lửa bay lên đỏ rực một góc trời đêm. Huynh trưởng vỗ mạnh lên vai ta, lực mạnh đến mức ta lảo đảo, bảo đêm nay nghỉ sớm, sáng mai còn dẫn kị binh đi tuần biên quan, đường tuần xa, phải ăn no ngủ kỹ. Ta là Hứa Kiều Đồng, con gái thứ của phủ Tĩnh Bắc Hầu, từ nhỏ theo cha huynh chinh chiến, mười bốn tuổi cầm đao, mười tám tuổi dẫn quân, quen mùi máu hơn mùi son phấn, quen lưng ngựa hơn giường ấm. Rồi ta ngủ, một giấc ngủ nặng như đá đè lên ngực, không mộng mị.
Rồi ta tỉnh dậy ở nơi này, trong một thân thể khác, một số phận khác, một cái tên khác. Không phải trên thành Bắc Khẩu đầy gió cát, không có tiếng trống, không có mùi khói. Mà là trong khuê phòng xa hoa của Kinh Thành, nằm trên giường lớn điêu khắc hình lưu vân tinh xảo, gối đầu lên một chiếc gối thêu hoa mẫu đơn rực rỡ, chăn ấm đệm êm đến mức khiến người ta muốn chìm xuống mãi, chìm rồi không muốn dậy. Ta vén rèm, chân đất bước xuống gạch men lạnh.
Cái lạnh thấm từ gan bàn chân lên tận đỉnh đầu, buốt đến tận xương, khiến ta rùng mình một cái, tỉnh táo hơn rất nhiều. Ta thử nhún chân xuống tấn như mọi sáng luyện công, nhưng hai đầu gối mềm nhũn, run lẩy bẩy, suýt nữa khuỵu xuống. Thân thể này yếu đuối quá, nhẹ bẫng mà rỗng, không có sức, không có gân. Một tấm gương đồng mài sáng đặt trên bàn trang điểm phản chiếu lại ta, rõ mồn một, không sót chi tiết nào.
Trong gương là một cô nương khoảng đôi mươi, mặt trái xoan thanh tú, lông mày cong như lá liễu sau mưa, đôi mắt sáng long lanh như nước thu gợn sóng, làn da trắng đến mức gần như trong suốt, môi hồng tự nhiên không cần tô son cũng thắm. Mái tóc dài buông xõa ngang lưng, đen mượt như vừa đổ dầu bóng, thơm mùi hoa nhài nhè nhẹ, sợi nào ra sợi ấy. Ta đưa tay sờ lên mặt mình, đầu ngón run run. Người trong gương cũng đưa tay sờ lên mặt, động tác chậm hơn ta nửa nhịp, mà cũng thật hơn ta nửa phần, khiến tim ta hẫng đi.
Da thịt ấm nóng, mềm mại, có hơi thở, có mạch đập, rõ ràng là thật, không phải mơ, không phải ảo giác sau cơn sốt rét. Ta véo mạnh vào má mình một cái, đau đến mức nước mắt ứa ra. Người trong gương cũng nhăn mặt vì đau, mắt hoe đỏ. Ta nhớ đến một lời đồn dân gian nơi biên quan, lính già hay kể bên đống lửa.
Người ta nói, người sống chết ở ranh giới, nếu trời xui xẻo, hồn sẽ lạc sang một thân xác khác, vay thân mà sống tiếp. Lính tráng nghe xong vừa kể vừa cười ha hả, vỗ đùi đánh đét, không ai tin, chỉ coi như chuyện tiêu khiển đêm canh. Ta vốn cũng không tin, còn mắng họ mê tín. Bây giờ ta buộc phải tin, vì chính ta đang sống trong lời đồn ấy, hồn ta lạc rồi.
Chỉ có điều, ta đã đổi sang thân xác của ai, cô nương này là ai, có còn sống hay đã mất. Và thân xác thật của ta, với vết sẹo trên tay, với vết chai cầm cương, bây giờ đang ở đâu, đang làm gì, có còn thở hay không, có đang nằm trên giường bệnh không. Tiếng gõ cửa lanh canh vang lên, nhịp gõ nhẹ nhàng mà rụt rè, gõ hai tiếng rồi dừng. Một nha hoàn bưng chậu nước ấm bước vào, hơi nước bốc lên nghi ngút, thấy ta ngồi bệt dưới sàn, liền hoảng hốt đặt chậu xuống đánh cạch, nước sóng sánh suýt trào ra ngoài.
Tiểu thư nhà ta hốt hoảng kêu lên, giọng run run, mặt tái đi. Người tỉnh rồi, sao lại ngồi dưới đất thế này, gạch lạnh lắm đó, bệnh thì sao, lão phu nhân lại trách phạt. Ta đứng lên, cố giữ giọng bình thản, cố bắt chước dáng vẻ mềm mỏng của quý nữ Kinh Thành mà ta từng thoáng thấy trong lễ mừng công năm trước. Ta muốn mở miệng hỏi đây là đâu, đây là phủ nào, ta là ai, năm nay là năm nào.
Nhưng lời đến miệng lại nuốt xuống, đắng ngắt. Bởi vì nha hoàn kia gọi ta là tiểu thư, gọi rất tự nhiên, gọi như đã gọi suốt bao năm. Bởi vì trong đầu ta, ngoài ký ức của Hứa Kiều Đồng, bỗng nhiên thoáng qua vài mảnh vụn xa xăm, mờ như sương sớm trên mặt hồ, hình như là của chính thân xác này để lại, chập chờn như đèn trước gió. Chúc Vân Thanh.
Tam cô nương phủ Tể Tướng ở Kinh Thành, tài danh vang xa, cầm kỳ thi họa đều tinh thông, nết na đoan chính. Nay đã xuất giá, là phu nhân của tướng quân Tống Địch, sống trong phủ tướng quân, trên dưới đều khen đoan trang nhu mì, hiếu thuận lễ nghĩa. Ta đã xuyên vào thân thể của Chúc Vân Thanh, mượn da thịt của nàng ấy mà sống tiếp, mượn tên nàng ấy mà thở. Vấn đề khó giải quyết hơn còn ở ngay phía sau, không cho ta một khắc để thở, để tính kế lâu dài.
Ta còn chưa thích ứng được với đôi chân nhỏ bé này, bước một bước đã thấy hụt hơi, leo ba bậc thềm đã thấy tim đập loạn. Ta còn chưa quen với mùi hương hoa nhài trên người mình, ngửi mãi vẫn thấy xa lạ, hắt hơi mấy cái liền. Thì tin tức tướng quân đã về phủ truyền đến, nhanh như một mũi tên bắn thẳng vào viện, khiến cả viện xôn xao. Cùng với tin đó, còn có một tin khác, nhỏ mà sắc như kim châm đâm vào tai.
Tướng quân không về một mình. Tướng quân dẫn theo một bạch y nữ tử, đi cùng xe ngựa, vào cùng cửa phủ, che ô chung dưới mưa bụi. Ta và Tống Địch coi như là đồng liêu cũ, quen biết từ thời gió cát, từng vào sinh ra tử. Hồi hắn chưa phất, chưa có danh tiếng, chưa có phủ riêng, từng làm việc dưới trướng cha huynh ta ở biên quan, làm một phó tướng trẻ trầm lặng mà liều mạng.
Hắn là người có bản lĩnh thật sự, trên chiến trường dám một mình xông vào hàng địch, giáo đâm tên bay cũng không lùi nửa bước. Dưới doanh trại, hắn dám ngồi bệt xuống đất uống với ta cả một vò rượu mạnh, uống đến mặt đỏ tai hồng vẫn không chịu thua. Ta với hắn từng nằm trên nóc lều rách đếm sao suốt đêm, đếm đến khi sương ướt đẫm áo. Ta với hắn từng cãi nhau ỏm tỏi vì một bản đồ tác chiến vẽ sai đường sông, cãi đến mức huynh trưởng phải ra can, mỗi người phạt chạy mười vòng quanh校场, à, quanh thao trường đầy cát.
Ta với hắn từng cười ngất khi hắn say rượu kể chuyện hồi bé trèo tường trộm ổi bị chó rượt, ngã xuống mương bùn, về nhà còn bị cha đánh cho một trận. Vì vậy, ta và hắn cũng coi như có quen biết, có giao tình, có thể vỗ vai gọi tên, có thể chửi thẳng mặt mà không giận. Nhưng dù quen biết đến đâu, dù thân thiết đến đâu, ta cũng không dám nói ra sự thật động trời này. Ta không dám nói rằng ta đã chiếm mất thân xác thê tử của hắn, rằng hồn của Chúc Vân Thanh không biết đã đi đâu, sống hay chết.
Dù sao ta cũng từng cùng Tống Địch uống rượu trò chuyện thâu đêm bên lửa trại, tận mắt thấy hắn vỗ ngực, đỏ mặt nói rằng hắn ái thê như mạng, rằng cả đời này chỉ cưới một người, rằng Chúc Vân Thanh là ánh sáng trong lòng hắn, là bến đỗ bình yên sau những trận đánh đẫm máu, là người hắn muốn bảo vệ bằng cả tính mạng. Nếu hắn biết thân xác vợ hắn bây giờ là của ta, một nữ tướng tay dính máu quân thù, thô lỗ vụng về... E rằng hắn sẽ vừa hận vừa sợ, coi ta là tà ma ngoại đạo mà đem đi thiêu sống giữa sân, cho tro bay đầy trời, để trừ hậu họa. Cho nên, ta phải làm một chuyện duy nhất lúc này, một chuyện sống còn.
Giữ im lặng. Giữ hình dạng. Giữ đúng cái kiểu đoan trang nhu mì mà quý nữ Kinh Thành mới có, dù xương cốt ta cứng như sắt cũng phải uốn cho mềm, dù giọng ta sang sảng cũng phải nén cho nhẹ. Tống Địch bước vào sân, sải chân dài, bóng đổ dài trên nền đá phiến xanh.
Hắn mặc một bộ chiến bào màu xám tro, vai còn dính bụi đường chưa kịp phủi, thắt lưng đeo trường kiếm vỏ đen, gót giày nện xuống đất vang lên từng tiếng cộp cộp trầm đục, vững chãi. Mấy năm không gặp nơi biên quan, gò má hắn hõm lại, đường nét sắc bén hơn, cằm lún phún râu mới chưa cạo, phong trần mệt mỏi. Nhưng ánh mắt vẫn sáng quắc như con dao mới mài, nhìn một lần là nhớ mãi, nhìn thẳng vào ai người ấy phải cúi đầu. Tim ta đập thình thịch một cái, vừa mừng vừa lo, tay ướt mồ hôi.
Theo phản xạ của kẻ nhà binh, ta đưa tay định vỗ mạnh lên vai hắn, chào kiểu huynh đệ gặp nhau sau bao ngày xa cách, cười lớn một tiếng. Bàn tay giơ ra nửa chừng thì khựng lại giữa không trung, cứng đờ, ngượng ngập. Đây là tư thế của Hứa Kiều Đồng, là thói quen của những người trong quân doanh, gặp nhau là vỗ vai, là cụng chén, là ôm nhau xoay vòng. Nhưng bây giờ ta là Chúc Vân Thanh, là thê tử đứng đón phu quân khải hoàn trong phủ, phải e lệ, phải dịu dàng, phải cúi đầu, phải nói lời khuôn phép.
Ta miễn cưỡng rụt tay lại, đầu ngón tay co quắp một cái vì tiếc, rồi đổi thành một cái hành lễ khẽ, cúi đầu thật thấp, giọng cố nắn cho mềm, cho nhẹ, cho đúng lễ. Tướng quân đã trở về, đi đường vất vả rồi, mời vào nhà nghỉ ngơi. Giọng ta vang lên trong trẻo, mềm mại như lụa mới, lạ tai đến mức chính ta cũng giật mình, nổi cả da gà, suýt cắn vào lưỡi. Tống Địch đứng đó, lạnh nhạt, xa cách, không chút ấm áp.
Không có dáng vẻ yêu thương thê tử như hắn vẫn khoe khoang khi say, không có cái ôm, không có nụ cười. Đôi mắt hắn lướt qua ta, dừng lại một khắc ngắn ngủi, rồi dời đi, như thể chỉ nhìn một món đồ quen thuộc đặt sai chỗ, không đáng bận tâm. Hắn dịch sang một bên nửa bước, để lộ bóng người đứng nép sau lưng hắn từ nãy đến giờ, được hắn che chắn cẩn thận. Một nữ tử mặc y phục trắng như tuyết đầu mùa.
Dung mạo xinh đẹp đến nao lòng, yếu đuối như cành liễu rủ trong gió, chỉ cần gió mạnh hơn một chút là có thể gãy ngang, khiến người ta chỉ muốn che chở. Mái tóc đen búi gọn, ghim một cây trâm ngọc đơn giản mà tinh tế, không phô trương mà vẫn nổi bật. Nàng ấy khẽ nghiêng đầu, ánh mắt long lanh như có nước trực trào ra, môi mấp máy như muốn nói lại thôi, rồi vội vàng cúi xuống, nép sát hơn sau vai Tống Địch, vạt áo trắng khẽ bay phấp phới trong gió sân. Gió trong sân thổi qua, mang theo mùi bụi đường và mùi thuốc trị thương đắng ngắt trên người Tống Địch, lẫn với mùi hương dịu nhẹ trên người nàng ấy, tạo thành một thứ mùi khiến mũi ta cay cay, cổ họng nghẹn lại.
Tống Địch cất giọng, trầm xuống, êm hơn mấy phần thấy rõ khi nói về người bên cạnh, khác hẳn giọng lạnh nhạt vừa nói với ta,เหมือน hai con người khác nhau. Hắn chậm rãi giới thiệu, từng chữ rõ ràng. Đây là tiểu thư Lưu Thanh Thanh, ân nhân có ơn cứu mạng ta nơi chiến trường, nếu không có nàng ấy, ta đã bỏ mạng nơi đất khách. Nàng ấy lại là cô nhi, không nơi nương tựa, thân thể yếu đuối, một mình bơ vơ.
Cho nên ta đón nàng về phủ tướng quân chăm sóc, để báo đáp ân tình, để nàng có chỗ nương thân. Ta là một võ phu, quen chém giết hơn quen chữ nghĩa, quen nói thẳng hơn nói vòng vo. Nhưng ta không phải kẻ ngốc, càng không phải kẻ mù, càng không phải kẻ điếc. Ta hiểu cái ý đón cô nhi về phủ tướng quân chăm sóc ấy là gì, hiểu quá rõ.
Nếu chỉ muốn ban ơn báo đáp, thì đưa đi ở biệt viện yên tĩnh, cấp bạc cấp ruộng, cấp người hầu hạ, cấp thuốc thang đầy đủ, là đủ đầy ân nghĩa, ai cũng khen nhân hậu. Đằng này lại đưa về chính phủ, đưa về trước mặt thê tử chính thất, đưa về đứng ngay sau lưng hắn, nắm lấy tay áo hắn không buông, mắt nhìn hắn không rời. Đây đâu phải báo ơn. Đây là muốn rước người vào cửa, muốn cho danh phận, muốn để nàng ấy thay thế chỗ của chính thất, muốn chính thất phải tự biết đường mà lui.
Nhưng ta không phải Chúc Vân Thanh thật sự. Ta không biết Chúc Vân Thanh bình thường sẽ khóc lóc ghen tuông, hay quỳ xuống van xin, hay đóng cửa lại tự giam mình mà khóc thầm, hay viết thư về nhà mẹ đẻ cầu cứu. Cho nên ta chỉ dùng một câu nói vạn năng, câu mà cả doanh trại ai cũng dùng khi không muốn cãi nhau nữa, khi muốn giữ hòa khí mà trong lòng đã muốn lật bàn, đập chén. Chàng quyết đi, tùy chàng hết.
Chàng thấy đúng thì cứ làm, ta không có ý kiến. Nói xong, ta quay người vào phòng, không nhìn thêm một lần, không để ai thấy mắt mình hoe đỏ. Bước chân ta vững vàng, lưng thẳng tắp như cán thương, vạt áo không hề run, dáng đi đoan trang. Chỉ có lòng ta là nhói lên một cái, ngắn ngủi, sắc như mảnh gương vỡ cứa vào thịt, đau đến mức phải nín thở.
Ta ghen. Ghen đến tan nát cõi lòng, ghen đến mức đầu ngón tay cũng tê dại, ghen đến mức muốn rút đao. Nhưng người ta ghen là ai thì chính ta cũng không rõ nữa, rối như tơ vò. Có lẽ ta ghen thay cho Chúc Vân Thanh, cô nương đoan trang bị phu quân phụ bạc ngay trước mặt, mà không thể khóc.
Có lẽ ta ghen cho chính mình, vì trong bụng không có một đồng bạc, không có một con ngựa, không có một người thân, nên ngay cả tư cách đứng đây ghen cũng không có, ghen cũng thấy mình hèn, mình thừa. Vì một câu tùy chàng kia của ta, Tống Địch làm tới nơi tới chốn, không hề khách sáo, không hề nể nang. Hắn sắp xếp cho Lưu Thanh Thanh ở Thính Vân Hiên, là khuê phòng tốt nhất trong phủ, hướng nam đón nắng ấm quanh năm. Nơi ấy có sân riêng lát đá trắng sạch bong, có ao sen nhỏ nuôi cá vàng tung tăng, có hành lang che nắng trồng đầy hoa tử đằng tím nhạt, thơm ngát.
Phòng ấy sáng sủa hơn, rộng rãi hơn, thơm tho hơn viện của ta rất nhiều, hơn từ cái rèm đến cái chén. Đối xử còn tốt hơn cả Chúc Vân Thanh, nữ chủ nhân thật sự ở nơi này, người đã theo hắn bao năm, giữ phủ cho hắn yên tâm đi đánh trận, một lời oán than cũng không có. Hắn còn điều mười mấy nha hoàn sang hầu hạ nàng ấy, người bưng trà, người quạt mát, người đấm chân, người kể chuyện, ríu rít như một đàn chim sẻ non. Tiếng cười nói bên ấy vọng sang tận viện ta, trong trẻo mà chói tai.
Nghe nói những nha hoàn ấy đều được điều từ phủ của mẫu thân Tống Địch sang, là người thân tín nhất, miệng kín nhất. Hình như lão phu nhân sợ ta làm chuyện xấu với vị khách quý mới đến, sợ ta ghen tuông mà hạ độc thủ, sợ ta bỏ thuốc vào trà, nên sắp xếp người của chính mình canh chừng ta từng bước, từng bữa ăn giấc ngủ. Cười chết mất thôi, thật sự cười đến đau bụng. Ta lấy đâu ra thời gian mà làm chuyện xấu với nàng ấy, ta còn bận lo cho thân mình chưa xong.
Ta còn phải nhanh chóng tìm ra kho tiền của Chúc Vân Thanh, thu dọn hành lý gọn nhẹ, rồi chạy thẳng về biên cương ngay trong đêm, càng nhanh càng tốt. Nơi ấy có cha huynh ta, có ngựa chiến hí vang mỗi sáng, có gió bắc quất vào mặt rát buốt mà sảng khoái, có thứ ta thật sự thuộc về, có nơi ta được là chính mình, không phải giả vờ nhu mì. Lòng bàn chân ta đã ngứa ran từ lúc nghe tiếng vó ngựa ngoài phủ, chỉ muốn lập tức nhảy lên lưng ngựa mà phi đi, phi một mạch không ngoảnh đầu. Buổi chiều, nhân lúc trong viện vắng người, bọn hạ nhân đều sang Thính Vân Hiên hóng chuyện, ta lục khắp viện như một tên trộm nhà nghề, như lính đi lùng sục doanh địch.
Ta mở hết tủ quần áo, lật từng lớp áo gấm, sờ từng đường may, mong có ngân phiếu khâu giấu trong lớp lót. Ta lật hết gối chăn, vỗ từng cái gối, nghe tiếng bông kêu xốp xốp. Ta sờ hết vách gỗ, gõ từng tiếng độp độp lên nền gạch, tai áp sát xuống nghe ngóng, mong nghe thấy tiếng rỗng báo hiệu hầm bí mật. Đã làm lính nhiều năm, ta biết người ta hay giấu tiền dưới nền, trong tường, sau tranh vẽ, dưới lư hương.
Ta còn lật cả chậu hoa ngoài hiên, sờ cả đáy lư hương lạnh ngắt, run cả rèm cửa cho bụi bay mù mịt, ho sặc sụa. Nhưng ta tìm mãi, tìm đến mức mồ hôi ướt đẫm lưng áo, tóc mai dính bết vào trán, tay mỏi nhừ, vẫn không thấy một đồng nào, dù chỉ là một đồng tiền lẻ mua bánh nướng ngoài chợ. Không một đồng, sạch sẽ đến mức khiến người ta tuyệt vọng, tuyệt vọng đến mức muốn cười. Trong phủ Tể Tướng lẫy lừng, trong khuê phòng của phu nhân phủ Tướng Quân, lại không có một đồng tiền riêng để phòng thân.
Nói ra chắc lính biên quan cười đến rụng răng, cười đến lăn ra đất. Ta gọi nha hoàn thân cận của Chúc Vân Thanh, là Lộng Ngọc, người duy nhất trong phủ còn nhìn ta bằng ánh mắt thương xót thật lòng. Nha hoàn ấy ngồi ở hành lang, tay cầm khăn tay vò nát đến nhăn nhúm, mắt sưng húp như hai quả hạnh đào chín, mũi đỏ ửng, vai run lên từng cơn, nấc không thành tiếng. Từ lúc nghe tin Tống Địch đưa nữ tử lạ về, nàng ấy khóc đến giờ vẫn chưa ngừng, mỗi lần dừng lại lấy hơi là lại nấc lên một tiếng, nghe vừa thương vừa buồn cười, vừa tội.
Ta ngồi xuống trước mặt nàng ấy, hạ giọng thật nhẹ, cố dỗ dành như dỗ tân binh mới nhập ngũ nhớ nhà, lần đầu xa mẹ. Lộng Ngọc à, đừng khóc nữa, mắt sưng đến không mở ra được rồi. Ta hỏi em chuyện này, chuyện quan trọng, em phải nói thật. Nàng ấy ngẩng lên, nước mắt ròng ròng chảy xuống, vội lấy khăn lau mà càng lau càng lem, mặt mũi tèm nhem.
Tiểu thư nhà nàng mếu máo đáp, giọng nghẹn ngào, đứt quãng. Người muốn hỏi gì, nô tỳ nhất định nói hết, không giấu một chữ. Ta liếc quanh không có ai qua lại, mới ghé sát lại, nói nhỏ như bàn chuyện quân cơ tuyệt mật, không để lọt ra ngoài. Nay ta vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài, đầu óc mơ màng, không hiểu sao lại quên mất kho tiền riêng của ta ở đâu rồi.
Em còn nhớ không, nhắc ta một tiếng, ta thưởng cho kẹo. Lộng Ngọc tròn mắt nhìn ta, quên cả khóc, rồi òa khóc nức nở hơn, tiếng khóc vang khắp hành lang, khiến chim sẻ trên mái cũng giật mình bay đi tán loạn. Nàng ấy vừa khóc vừa kêu, giọng lạc đi. Tiểu thư quên rồi sao.
Người quên thật rồi sao. Của hồi môn của người đều để trong công khố hết cả mà, có giữ lại chút nào đâu, một tráp nhỏ cũng không có. Ta cau mày, hỏi dồn, tim chùng xuống. Chìa khóa công khố đâu.
Ai đang giữ, nói mau. Lộng Ngọc sụt sịt, vừa nấc vừa đáp, giọng nhỏ dần, nhỏ như muỗi kêu. Chìa khóa... chìa khóa ở trong tay lão phu nhân.
Từ ngày người về làm dâu, lão phu nhân nói người còn trẻ, không biết quản tiền, tiêu pha hoang phí, nên giữ hộ cho chắc. Giữ hộ đến tận bây giờ, chưa trả lại một lần, hỏi cũng không cho. Ta ngồi im một lúc lâu, nghe tiếng gió lùa qua hành lang rít khẽ, nghe tiếng lá khô xào xạc ngoài sân. Ta biết quý nữ Kinh Thành không quản chuyện tiền bạc, chỉ lo thêu thùa đọc sách, gảy đàn vẽ tranh.
Nhưng không ngờ họ không quản đến mức ấy, ngay cả một kho tiền riêng cũng không chuẩn bị cho mình, ngay cả đường lui cũng không để lại cho mình. Của hồi môn đem đi, rồi giao chìa khóa cho mẹ chồng giữ. Tương đương với việc mang tiền đi gửi nhà người ta, rồi đưa luôn cái chìa khóa két cho người ta, muốn lấy lại phải quỳ xuống xin, phải nhìn sắc mặt mà sống. Bây giờ chỉ còn một cách duy nhất, dù屈 nhục cũng phải làm.
Đi tìm người quản tiền mà xin, mà lựa lời mà nói, dù phải cúi đầu, dù phải cười lấy lòng. Ta đứng dậy, phủi bụi trên áo, vỗ nhẹ lên vai Lộng Ngọc, giọng dứt khoát như ra lệnh xuất quân, không cho cãi. Đi, thay quần áo chỉnh tề, chải đầu gọn gàng, theo ta đến Đức Huệ Đường. Chúng ta đi xin tiền, không, đi lấy lại tiền của chính mình, đường hoàng mà đi.
Lộng Ngọc lau nước mắt, chạy đi lấy áo choàng, tay vẫn run. Đức Huệ Đường là chính đường của lão phu nhân, nơi quyền uy nhất phủ, nơi quyết định mọi chuyện lớn nhỏ. Còn chưa tới nơi, mới đi đến đầu hành lang lát đá, ta đã nghe thấy tiếng cười nói rộn ràng vọng ra, vui như Tết. Xen lẫn tiếng nước trà rót ra thành một dòng róc rách, tiếng thìa sứ khẽ khàng gõ vào thành chén tạo thành nhịp lanh canh vui tai, tiếng quạt lụa phẩy phành phạch.
Ta vén rèm bước vào, Lộng Ngọc nép sau lưng ta, run như cầy sấy, đầu cúi gằm. Trong phòng có ba người, ngồi quây quần ấm cúng như một gia đình thật sự, mà ta mới là kẻ ngoài, kẻ đến phá đám. Lão phu nhân ngồi ở ghế trên bọc gấm đỏ, mái tóc bạc búi gọn gài trâm vàng chạm phượng, mặt đầy phúc hậu mà ánh mắt sắc như dao cau, tay đang gõ nhịp lên tay vịn theo tiếng cười. Bên cạnh bà là Lưu Thanh Thanh, ngồi sát đến mức gần như dựa hẳn vào người bà, tay bưng chén trà nâng lên ngang mày, dâng bằng hai tay đúng lễ, miệng cười duyên, má ửng hồng, ngoan ngoãn như một con mèo nhỏ được vuốt lông.
Tống Địch ngồi ở hàng dưới, thấy ta bước vào thì vẫn ngồi nguyên, không đứng dậy chào, cũng không mời ngồi, mắt chỉ nhìn chén trà trong tay. Hắn đang nói dở câu chuyện, giọng êm như nước mùa xuân, khác hẳn giọng cứng nhắc với ta ban sáng, một trời một vực. Mẫu thân yên tâm, Thanh Thanh đã nói với người rồi, sang năm sẽ sinh cho người một đứa cháu trai mập mạp, trắng trẻo, để người bế bồng cho vui cửa vui nhà, cho phủ thêm phúc. Lão phu nhân cười đến nheo mắt lại, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại thành từng lớp, tay vỗ nhẹ lên mu bàn tay Lưu Thanh Thanh đầy yêu thương, miệng khen không ngớt.
Tiếng cười ấy vang mãi, giòn tan, cho đến lúc ta bước hẳn vào trong, bóng ta đổ dài lên nền gạch sáng bóng. Cả phòng im bặt, giống như có ai bóp nghẹt cổ tiếng cười, cắt ngang bằng dao. Một giọng cười còn mắc lại nơi cổ họng lão phu nhân, nghẹn lại thành một tiếng khục khẽ, bà ta ngẩng lên, nhìn ta từ đầu đến chân, ánh mắt soi mói từng đường chỉ trên áo, từng sợi tóc mai, rồi trợn ngược mắt, môi bĩu ra khinh khỉnh. Bà ta cất giọng the thé, chói tai, vang khắp phòng.
Ta tưởng là ai đến, hóa ra là con gà mái không biết đẻ trứng, về nhà chồng mấy năm mà bụng vẫn lép kẹp, không nở được một mụn con. Không khí trong phòng đông cứng lại như mỡ đông giữa mùa đông, lạnh đến mức khiến người ta nghẹt thở, không dám nhúc nhích. Ta đứng yên tại chỗ, tai ù lên, mặt nóng bừng như bị ai tát mạnh, rát bỏng. Con gà mái không biết đẻ trứng.
Từng chữ như một nhát roi da quất xuống gáy ta, rát buốt, đau đến tận tim. Ta không phải Chúc Vân Thanh, ta không quen bị mắng bằng lời lẽ cay nghiệt kiểu nội trạch này, ở quân doanh mắng nhau là mắng thẳng mặt, ai sai thì chịu phạt, không vòng vo. Nhưng trong một thoáng, ta hiểu ra ngay, người ta đang mắng, chính là ta lúc này, không thể chối. Bởi vì bây giờ, người đứng ở đây chịu trận, là ta, mang mặt của Chúc Vân Thanh, mặc áo của Chúc Vân Thanh.
Ta liếc nhanh về phía Tống Địch, mong một ánh mắt bênh vực, dù chỉ là một cái cau mày, một cái lắc đầu. Quả nhiên, trên mặt hắn hiện lên vẻ vừa xấu hổ vừa tức giận, hai tay nắm lại trên đầu gối đến trắng khớp ngón, môi mím chặt, yết hầu trượt xuống một cái khó nhọc. Nhưng hắn không mở miệng, một câu cũng không nói đỡ, ngồi im như tượng đá, mắt nhìn xuống đất. Không đúng, hoàn toàn không đúng, sai hết rồi.
Tống Địch từng vỗ vai ta giữa đêm biên quan đầy sao, từng uống cạn chén rượu mạnh đến cay xè mắt, từng đỏ mặt thề rằng hắn rất trân trọng thê tử mình, rằng cả đời này không để nàng ấy chịu một chút ấm ức, ai bắt nạt nàng ấy là bước qua xác hắn trước, hắn nói được làm được. Trân trọng là như thế này sao. Để mặc cho mẫu thân hắn nói nàng là con gà mái không biết đẻ trứng, nói trước mặt tình địch, nói không chút nể nang, mà một câu cũng không dám hé răng bênh vực, hèn đến thế sao. Đáng lẽ ta chỉ tạm trú trong thân xác Chúc Vân Thanh vài ngày, không nên quản chuyện nhà của Chúc Vân Thanh, không nên gây thù chuốc oán, nên nhịn cho qua.
Nhưng bây giờ, người trong thân xác Chúc Vân Thanh là ta. Người bị mắng cũng là ta. Người phải đứng đây nghe, mặt nóng bừng, tay run lên, tim đau nhói, là ta, Hứa Kiều Đồng, không phải ai khác. Cộng thêm cái thái độ nhu nhược của Tống Địch, miệng thì nói trân trọng, khi có chuyện thì câm như hến, khiến máu nóng trong người ta sôi lên sùng sục, bốc lên tận đỉnh đầu.
Trong đầu ta, bỗng vang lên giọng sang sảng của các bà tử trong quân doanh, giọng những người đã ngồi vắt chân trên đống lửa, vừa vá áo vừa nói chuyện đời bằng những câu thô lậu mà nghe một lần là nhớ cả đời, càng nghĩ càng thấy đúng. Ta học theo, nguyên văn, không sửa một chữ, không bớt một lời. Ta ngẩng mặt, giọng đều đều, không cao không thấp, rõ ràng từng chữ như đang điểm danh lính buổi sáng. Ruộng tốt mà không nảy được mầm, thì người nào cũng biết là do hạt giống của nam nhân không tốt, không trách được ruộng, ruộng vô tội.
Phòng im lặng tuyệt đối, đến mức nghe được tiếng kim rơi xuống đất, nghe được tiếng thở dồn dập. Lộng Ngọc đứng sau lưng ta hít vào một hơi lạnh, suýt nữa ngã ngửa ra sau, phải vịn vào khung cửa. Lưu Thanh Thanh cứng đờ, nụ cười duyên đông lại trên môi, chén trà trên tay run lên lanh canh. Lão phu nhân chớp mắt liên tục, như chưa tin vào tai mình, tai bà lùng bùng.
Ta vẫn chưa dừng, vì máu liều trong người đã nổi lên, không thắng được ngựa nữa. Giọng ta vẫn đều, giống hệt kiểu nói chuyện khi ta đang giảng giải một bản đồ tác chiến cho tân binh, chậm rãi mà chắc nịch, từng chữ như đóng đinh. Ruộng tốt mà gặp phải giống xấu, thì cho dù có cố mọc lên, cũng không biết sẽ mọc ra thứ quái gì, mọc ra cỏ dại hay mọc ra gai độc, mọc ra thứ không ra người. Một tiếng chén sứ rơi xuống nền vỡ leng keng, mảnh vỡ bắn tung tóe khắp nơi, nước trà loang ra ướt cả thảm.
Lưu Thanh Thanh che miệng, mắt mở to tròn xoe, mặt trắng bệch như giấy, vai run bần bật. Lão phu nhân há hốc miệng, cổ họng ọc ọc mấy tiếng, không thốt nên lời, tay run bần bật chỉ vào ta, trâm vàng trên đầu rung lên không ngừng. Còn Tống Địch, mặt hắn từ trắng chuyển sang đỏ, rồi từ đỏ chuyển sang tím tái, hai vai hắn run lên bần bật, gân xanh nổi đầy trán, chén trà trong tay suýt bóp nát. Nhìn vẻ mặt không thể tin nổi của Tống Địch và lão phu nhân, trong lòng ta khẽ chùng xuống, lạnh đi một nửa, hối hận dâng lên.
Thôi, hỏng bét thật rồi. Gây họa lớn rồi, không cứu được nữa. Hình tượng sụp đổ hoàn toàn, không còn cứu vãn được nữa, nát như chén trà dưới đất. Ta vốn định giữ yên lặng, giữ hình dạng, giữ cái kiểu đoan trang nhu mì ấy ít nhất cho đến khi ta kiếm đủ bạc để chạy về biên cương trong đêm, lặng lẽ mà đi.
Bây giờ thì hay rồi, cả phủ đều biết, tam cô nương phủ Tể Tướng nói chuyện giống hệt những bà tử thô lỗ trong quân doanh, mở miệng là ruộng là giống, không biết xấu hổ. Tiền thì không xin được, một đồng cũng không thấy, một lời hứa cũng không có. Lão phu nhân tay chống mạnh xuống bàn, chén trà còn lại rung lên lanh canh, nước sánh ra ngoài, bà ta chỉ thẳng vào cửa, giọng rít lên như gió lùa qua khe đá. Bà ta bảo ta sáng mai phải dậy sớm, đứng ngoài cửa phòng bà ta mà học phép tắc, học cho thuộc quy củ làm dâu, học cho ra dáng chính thất, khi nào thuộc mới được ăn cơm, mới được về viện.
Ta cúi đầu, hành lễ đúng chuẩn không chê được, quay người đi ra, lưng vẫn thẳng, bước vẫn vững, dù trong lòng đã muốn độn thổ, muốn tìm kẽ đất mà chui. Ra đến hành lang dài hun hút, gió lạnh thổi qua, luồn vào cổ áo, lạnh buốt sống lưng, ta mới nhận ra sau lưng đã ướt đẫm mồ hôi, áo lót dính sát vào da, khó chịu vô cùng, dính dấp. Dậy sớm thì không thành vấn đề, dễ như trở bàn tay, dễ hơn ăn cơm. Ở quân doanh biên quan, ta đã quen với việc dậy sớm từ lâu, dậy sớm hơn gà.
Bốn canh năm đánh trống canh dồn dập, ta là người thứ nhất bật dậy, mặc giáp chỉnh tề, ra sân điểm danh. Đứng ngoài cửa học phép tắc, so với đứng gác canh giữa trời tuyết gió rít, tuyết quất vào mặt, còn dễ chịu hơn nhiều, không đáng để kêu than, không đáng để sợ. Nhưng không xin được tiền, quả là một vấn đề nan giải, nan giải đến mức khiến đầu ta đau nhức, thái dương giật thình thịch. Ta xuyên vào thân thể Chúc Vân Thanh, hưởng vinh hoa của nàng ấy, chịu mắng thay nàng ấy, mang tiếng thay nàng ấy, nhưng không biết thân thể thật của ta bây giờ thế nào rồi, có được ăn no không, có được mặc ấm không.
Ta ngủ thiếp đi ở trên thành Bắc Khẩu trong lều vải rách, vậy thì bây giờ, người ta nhìn thấy trên thành ấy là ai, đang làm gì. Có phải là Chúc Vân Thanh trong thân xác ta chăng, cô nương yếu đuối ấy có biết cầm đao không, có biết cưỡi ngựa không, có bị ngã ngựa mà khóc thét không, có bị lính trêu mà sợ không. Cha ta, huynh trưởng ta, những người thương ta nhất đời, coi ta như bảo bối, có lo lắng đến mất ăn mất ngủ không, có nhận ra con gái mình đã khác xưa không, nói năng nhỏ nhẹ, đi đứng e lệ. Nghĩ đến đây, bước chân ta nặng hẳn lại, mỗi bước như đeo đá tảng, kéo lê trên đường.
Trở về viện chưa được bao lâu, trời vừa sẩm tối, sương xuống mờ mịt, Tống Địch đã tìm đến, áo choàng còn vương hơi lạnh đêm, mang theo mùi gió. Lộng Ngọc đang lau bàn, vừa thấy bóng hắn ngoài cửa, liền vứt ngay giẻ lau xuống chậu nước bắn tung tóe, hai tay nắm lại trước ngực, mắt sáng lên như sao đêm, giọng reo vui không giấu được. Nàng ấy mừng rỡ kêu lên, chạy ra đón. Tiểu thư, cô gia đến thăm người rồi, trong lòng ngài ấy vẫn có người, vẫn nhớ người đó, nô tỳ biết mà.
Lộng Ngọc nghĩ nhiều rồi, nghĩ đơn giản quá rồi, đời không đơn giản thế đâu em ơi. Tống Địch bước vào, khép cửa lại cẩn thận, bản lề kêu cọt kẹt. Hắn đứng ở giữa phòng, không ngồi xuống, khoảng cách xa lạ, như cách một con sông. Đôi mắt hắn nhìn ta, phức tạp khó tả, vừa có chút áy náy thoáng qua, lại vừa có thứ gì đó cứng ngắc, xa cách, như đang nhìn một kẻ có tội, một người xa lạ.
Hắn nói câu đầu tiên, giọng trầm thấp, có chút mệt mỏi. Vân Thanh, ta cũng biết nàng chịu ấm ức trong chuyện hôm nay, mẫu thân nói hơi nặng lời, nàng đừng để bụng. Lòng ta hơi ấm lên một chút, như có than hồng nhen lên giữa đêm lạnh, le lói. Câu thứ hai nối ngay sau, giọng hắn đanh lại, lạnh đi mấy phần, ánh mắt cũng sắc hơn, như lưỡi đao.
Nhưng nàng không nên nói chuyện với mẫu thân như vậy, hỗn hào quá. Mẫu thân bị nàng chọc tức đến mức cả đêm không chợp mắt được, đầu đau như búa bổ, tay chân run rẩy. Ta còn tưởng trước kia nói nàng bất kính mẹ chồng là oan uổng cho nàng, giờ xem ra cũng có phần đúng, nàng thật khiến ta thất vọng. Lòng ta nguội ngay, than hồng bị dội một gáo nước lạnh, tắt ngúm, chỉ còn khói cay xè mắt.
Câu thứ ba, hắn đã quay lưng, tay đặt lên then cửa, giọng vội vã như muốn đi ngay, không muốn ở thêm một khắc. Hắn buông một câu cuối, nhẹ mà đau. Ta đến chỗ Thanh Thanh thăm nàng ấy một lát, nàng ấy yếu đuối hay giật mình, ban nãy sợ đến phát khóc. Nàng hãy ở đây suy ngẫm cho kỹ, nghĩ thông rồi hãy nói, đừng để mẫu thân phải giận nữa.
Cửa đóng rầm lại, rung cả khung cửa, bụi trên xà rơi xuống lả tả, đèn trong phòng chao đảo. Ta ngồi trên mép giường, nhìn theo bóng hắn khuất sau hành lang dài, áo choàng bay phấp phới trong gió đêm, rồi thở phào nhẹ nhõm một hơi dài, nhẹ đến mức chính ta cũng ngạc nhiên, ngạc nhiên vì mình không khóc. May mà Tống Địch đi tìm Lưu Thanh Thanh, may mà hắn không ở lại qua đêm, may mà trời còn thương ta. Nếu không, với cái thân hình nhỏ bé, cổ tay mảnh khảnh này của ta, sức lực chưa bằng một nửa ngày xưa, chưa chắc đã đánh ngất được hắn để giữ mình, giữ tấm thân trong sạch.
Đánh ngất một tên tra nam đã lập gia đình là một chuyện bẩn tưởi, nghĩ đến đã thấy tởm, thấy phí sức. Ngủ với một thiếu niên tướng quân còn độc thân, vai rộng eo thon, mắt sáng môi hồng, thì là hưởng thụ, là phúc. Còn ngủ với tra nam đã có vợ, trong lòng còn chứa người khác, miệng nói một đằng làm một nẻo, thì là hạ mình, là tự sỉ nhục chính mình, muôn đời không ngẩng đầu lên được. Ta nằm vật xuống gối thêu hoa mẫu đơn, đưa tay lên trước mặt, nhìn bàn tay trắng nõn xa lạ ấy dưới ánh nến vàng vọt, nhìn thật lâu, nhìn đến mờ mắt.
Hôm nay, ta không có tiền, túi rỗng không, còn rỗng hơn túi lính tân binh. Hôm nay, ta bị mắng là gà mái không biết đẻ, nhục nhã ê chề, cả đời chưa từng nhục thế. Hôm nay, hình tượng đoan trang của ta sụp đổ tan tành, không còn mảnh vụn, không hàn lại được. Và sáng mai, ta phải đứng ngoài cửa học phép tắc như một nha hoàn phạm lỗi, đứng cho người ta nhìn, cho người ta cười.
Bên ngoài hành lang, gió đêm lùa qua rèm, khua chuỗi rèm sắt lanh canh không dứt, lúc mau lúc thưa. Ở khuê phòng phía tây, đèn Thính Vân Hiên vẫn sáng choang, sáng đến chói mắt, sáng đến gai người. Tiếng cười nhẹ nhàng của Lưu Thanh Thanh vọng sang, mờ mờ như tiếng nước chảy róc rách, xen lẫn giọng trầm của Tống Địch dỗ dành, dịu dàng đến mức khiến người ta buồn nôn. Ta nhắm mắt, kéo chăn lên ngang ngực, chăn thơm mà lạnh.
Trong bóng tối đặc quánh, ta nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch, chậm rãi, đều đặn, mạnh mẽ, giống hệt như tiếng trống canh trầm hùng ở trên thành Bắc Khẩu mỗi đêm canh gác, nhắc ta nhớ mình là ai. Chưa có tiền. Chưa có cách rời Kinh Thành về biên cương. Chưa tìm ra cách đối diện với thân phận trớ trêu này.
Chưa biết làm sao để trở về làm Hứa Kiều Đồng, đường đường chính chính. Nhưng ta vẫn sẽ đứng dậy, vẫn sẽ bước tiếp, vẫn sẽ không gục ngã, vẫn sẽ không khóc. Dù sao thì, người đã từng trải qua trăm trận đánh, dẫm lên máu mà sống, đạp lên xác mà đi, không thể nào gục ngay sau một trận cãi nhau với mẹ chồng, không thể nào khóc vì một tên đàn ông thay lòng đổi dạ. Ta kéo chăn, quay lưng ra cửa, mặt hướng vào tường lạnh, mắt mở thao láo.
Ở bên kia bức tường, đèn vẫn sáng, người vẫn cười, ấm áp. Ở bên này, ta nhắm mắt, và nghĩ về một con ngựa chiến bờm đen bốn vó trắng, về gió bắc quất rát mặt mà sảng khoái, về mùi bụi đường nồng nàn trên cánh đồng mênh mông không thấy bến bờ, về cha, về huynh. Sáng mai, còn phải dậy sớm đứng học phép tắc. Đời còn dài, thù còn đó, tiền còn phải kiếm, đường còn phải đi.
Ta chưa biết rồi đây chính tay ta sẽ phải rèn giũa Lưu Thanh Thanh yếu đuối kia thành một dáng vẻ khác, cứng cỏi hơn, biết điều hơn. Càng chưa biết ở Kinh Thành này sẽ có kẻ vì nàng ấy mà bắn pháo hoa đầy trời, rực rỡ cả đêm, chỉ để theo đuổi một người mà hắn ngỡ là nàng. Nhưng đó là chuyện của ngày mai, của những chương sau, cứ để ngày mai tính. Còn đêm nay, ta chỉ muốn ngủ một giấc thật sâu, để lấy sức mà đấu tiếp, đấu với mẹ chồng, đấu với tra nam, đấu với số phận.
Trước Sau

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Mỗi Tuần Đổi Một Chỗ Bày Sạp: Cả Thành Phố Phát Rồ Đi Tìm Tôi Đô Thị 12

Mỗi Tuần Đổi Một Chỗ Bày Sạp: Cả Thành Phố Phát Rồ Đi Tìm Tôi

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.
Tịch Biên Gia Sản: Áo Bông Cũ Cứu Phu Quân Ngôn Tình 14

Tịch Biên Gia Sản: Áo Bông Cũ Cứu Phu Quân

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Nữ Thần Diễn Xuất Ngôn Tình 7

Nữ Thần Diễn Xuất

Vô Thượng Cửu Thiên 4 ch.
Phong Thần Châu Tiên Hiệp HOT 26

Phong Thần Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 18 ch.
Cấm Luật Linh Dị 11

Cấm Luật

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.
Lại Trán Mai Ngôn Tình 9

Lại Trán Mai

Vô Thượng Cửu Thiên 7 ch.