Chương 1: Trọng Sinh Ngộ Sai Lầm
"Vì sao nàng lại làm như vậy?" Giọng nói của Chúc Hợp run rẩy, khô khốc như tiếng lá rụng giữa trời đông giá buốt, ánh mắt hắn mở trừng trừng nhìn chằm chằm vào người nữ tử đang đứng sừng sững đối diện trước mặt. Người nữ tử ấy chính là thê tử kết tóc của hắn, người mà suốt mấy mươi năm qua người đời vẫn luôn xưng tụng là hiền lương thục đức, nhẫn nhục chịu đựng, chưa từng một lần dám lớn tiếng nơi hậu viện. Nàng đứng đó trong bộ y phục gấm thêu hoa cúc đoan trang, dung nhan thanh tú dù đã vương chút bụi thời gian nhưng đôi mắt phượng lại lạnh lùng tựa băng sương ngàn năm, không hề có lấy một tia gợn sóng dao động.
Tạ Phác khẽ nhếch khóe môi, nở một nụ cười lạnh lẽo đến tận cùng xương tủy, từng chữ từng lời thốt ra như những lưỡi dao sắc nhọn cắm thẳng vào tim can hắn: "Tất cả đều do chàng tự chuốc lấy. Nợ máu trả bằng máu, ân nghĩa đoạn tuyệt, chàng còn mặt mũi nào mà đứng đây chất vấn ta nữa hay sao?"
Cái tát vô hình mà tàn nhẫn ấy kéo theo toàn bộ cơ nghiệp quyền thế, vinh hoa phú quý và cả mạng sống của Chúc Hợp rơi thẳng xuống đáy vực sâu thẳm không đáy. Giữa tiếng sấm sét nổ vang rền trời của cơn giông bão định mệnh, tầm mắt hắn nhạt nhòa dần, cả thế giới sụp đổ thành những mảnh vỡ đen đặc, tiếng gào thét uất nghẹn nghẽn ứ nơi cổ họng rồi tan biến vào hư không tịch mịch.
Thứ đầu tiên đập vào mắt Chúc Hợp khi hắn từ từ mở mi mắt nặng trĩu ra là một vòm trời trong vắt, xanh ngắt đến nao lòng, tựa như một tấm ngọc bích khổng lồ trải dài vô tận không một gợn mây che phủ. Ánh nắng rực rỡ buổi sớm mai xuyên qua từng tán lá rậm rạp của khu rừng già, rọi thẳng vào gương mặt nhợt nhạt của hắn, mang theo hơi ấm nồng nàn của đất mẹ và hương thơm ngai ngái của cỏ cây mục nát sau cơn mưa rừng. Trong khoảnh khắc đầu tiên của sự tỉnh thức, cả người hắn cứng đờ, một luồng sợ hãi mơ hồ từ từ dâng lên bóp nghẹt lấy trái tim, khiến lồng ngực hắn phập phồng kịch liệt.
Hắn khẽ chống hai cánh tay run rẩy xuống lớp cỏ dại ẩm ướt, khó nhọc gượng ngồi dậy nhìn ngắm cảnh vật xung quanh. Nơi này vừa xa lạ hoang vu, lại vừa mang đến cho hắn một cảm giác quen thuộc đến rợn tóc gáy. Hắn cúi đầu nhìn xuống thân thể mình, lập tức sững sờ chết lặng khi thấy chiếc áo sơ mi cộc tay màu trắng ngà cùng chiếc quần tây đen may đo kiểu dáng hiện đại vẫn còn ôm sát người, dưới chân là đôi giày da công sở đã bám đầy bụi đất vàng và những vết trầy xước nham nhở. Đôi bàn tay hắn thon dài, mịn màng, chưa hề có những vết chai sạn của năm tháng cầm bút nghiên mưu lược hay dấu tích của những năm tháng phong sương chinh chiến. Chúc Hợp bàng hoàng nhận ra, đây chính là hình hài của hắn vào cái ngày đầu tiên hắn đặt chân tới thời không cổ đại này, trước khi trải qua hơn bốn mươi năm chìm nổi chốn nhân gian.
Hắn thế mà lại được sống lại lần thứ hai trong đời. Không phải là một giấc mộng dài sau cơn say, cũng không phải là ảo ảnh trước lúc chết, mà thực sự là một cơ hội tái sinh thần kỳ do ông trời rủ lòng thương xót ban tặng.
Vì sao lại dùng từ sống lại lần thứ hai, nguồn cơn sâu xa ấy bắt buộc phải lần giở từ tiền kiếp đầy rẫy những trò cười và sự đê tiện của chính bản thân Chúc Hợp. Ở thế giới hiện đại xa xôi kia, hắn vốn chỉ là một thanh niên xuất thân bình thường, luôn ôm ấp những ảo mộng viển vông về một tương lai giàu sang phú quý. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hắn cắm đầu học hành thi cử, mong mỏi kiếm được một tấm bằng khá để đổi đời; khi tốt nghiệp ra trường bước vào xã hội, hắn cũng từng liều mạng làm việc thâu đêm suốt sáng, gập lưng cúi đầu trước những lời chửi mắng của cấp trên với hy vọng được thăng chức tăng lương. Thế nhưng số phận lại trêu ngươi một kẻ bất tài vô dụng, vào một ngày thu ảm đạm, hắn bị ông chủ thẳng thừng tống ra khỏi công ty với lý do cắt giảm nhân sự. Cay đắng hơn nữa, ngay buổi chiều hôm đó, người bạn gái mà hắn đã từng yêu thương gắn bó suốt ba năm trời gọi điện thoại đến, tuyên bố chia tay một cách dứt khoát không chút do dự chỉ vì một lý do vô cùng tàn nhẫn: hắn quá nghèo, không có tương lai.
Ôm chiếc hộp giấy đựng vài món đồ dùng cá nhân lèo tèo, Chúc Hợp bơ vơ lê bước trên vỉa hè lạnh ngắt trong làn gió thu se sắt thổi tung những chiếc lá vàng úa. Lòng tự trọng bị giẫm đạp tơi bời, sự bế tắc cùng cực khiến hắn ngửa mặt lên trời một góc bốn mươi lăm độ, toan tìm kiếm một góc công viên hoang vắng nào đó để phát biểu bài diễn văn than thân trách phận, tự cười nhạo thất bại nhục nhã của một kiếp người vô danh tiểu tốt. Trớ trêu thay, ngay khi hắn vừa bước chân xuống lòng đường nơi ngã tư đèn đỏ, một chiếc xe tải mất lái từ đằng xa lao tới với tốc độ kinh hoàng, tiếng còi xe rít lên xé toạc màn sương khói và ánh đèn pha chói lòa đã chấm dứt sinh mạng ngắn ngủi của hắn. Sau vụ va chạm kinh hoàng ấy, linh hồn hắn vinh quang bay vút qua lỗ hổng thời không, xuyên việt tới thế giới phong kiến xa xôi này.
Sau khi xuyên việt đến thời loạn lạc, cuộc đời của Chúc Hợp đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác biệt, đảo lộn nghiêng trời lệch đất. Mang theo tư tưởng ngạo mạn của một kẻ đến từ tương lai, hắn lầm tưởng mình chính là thiên mệnh chi tử, là nhân vật chính của thời đại được ông trời lựa chọn để làm nên nghiệp lớn. Hắn dùng chút khôn lỏi của kẻ hiện đại, tài ăn nói dẻo quẹo và sự giảo hoạt nơi thương trường để làm mê muội lòng người, tự tô vẽ cho bản thân một khí chất bá đạo hào hoa, trở thành đối tượng được không ít nữ nhân săn đón. Đầu tiên, nhờ vào sự may mắn và sự nâng đỡ hết lòng của Tạ viên ngoại ở Bình Thành, hắn đã danh chính ngôn thuận cưới được Tạ Phác - vị đại tiểu thư khuê các nổi danh hiền thục, nết na, đoan trang và thông tuệ hơn người.
Tạ Phác lấy hắn khi hắn chỉ là một kẻ nghèo hèn rách rưới, không một tấc đất cắm dùi, nàng mang theo của hồi môn hậu hĩnh về làm vợ, ngày đêm chăm sóc cơm nước, vun vén hậu viện, phụng dưỡng cha mẹ chồng chu đáo và hết lòng phò trợ cho sự nghiệp của trượng phu. Thế nhưng, khi danh vọng bắt đầu mỉm cười, khi tiền tài và quyền lực trong tay ngày một nhiều thêm, bản chất phong lưu hèn hạ của một gã tra nam trong con người Chúc Hợp bắt đầu trỗi dậy không cách nào kiềm tỏa được. Hắn tự cho rằng nam nhân năm thê bảy thiếp ở thời đại phong kiến là lẽ đương nhiên, là biểu tượng của thành công và bản lĩnh. Hắn bắt đầu rước về nhà hết nàng thiếp này đến ả hầu môn khác, dung túng cho đám sủng thiếp xinh đẹp ngang tàng lấn lướt chính thất, xem sự nín nhịn chịu đựng của Tạ Phác như một điều hiển nhiên, thậm chí còn lạnh nhạt ruồng rẫy nàng trong những đêm trăng cô quạnh nơi hậu viện hoang vắng.
Hắn nhớ lại những đêm đông giá rét buốt thấu xương tủy của kiếp trước, khi hắn say sưa trong vòng tay nũng nịu của những ả thiếp hầu phấn son nồng nặc nơi tây sương phòng, thì ở gian chính viện tĩnh mịch lạnh lẽo, Tạ Phác vẫn ngồi một mình bên ngọn đèn dầu le lói sắp cạn. Nàng lặng lẽ may vá từng đường kim mũi chỉ, chuẩn bị từng chiếc áo bông dày dặn cho hắn mặc khi lên triều, từng đôi tất ấm để hắn không bị cóng chân khi cưỡi ngựa. Có những đêm mưa dầm rả rích, nàng đứng đợi hắn trước bậc thềm đá suốt nhiều canh giờ liền, chỉ để trao vào tay hắn một bát canh gừng giải rượu ấm nóng, đổi lại chỉ là ánh mắt hờ hững xua đuổi và những lời cáu gắt vô cớ từ một kẻ trượng phu đốn mạt. Sự hiền huệ, tấm lòng bao dung và đức hy sinh vô bờ bến của nàng lại bị hắn coi như sự nhu nhược dễ bắt nạt, biến nàng thành cái bóng mờ nhạt cam chịu đứng sau lưng vinh quang ngập tràn của hắn.
Hắn ngỡ rằng một người phụ nữ đoan trang, nhu mì như Tạ Phác sẽ mãi mãi cam chịu số phận, ngỡ rằng sự im lặng nhẫn nhục của nàng là minh chứng cho sự bất lực. Hắn đã lầm, một sai lầm chết người mà phải trả giá bằng cả tính mạng. Tạ Phác nhẫn nhịn suốt mấy mươi năm không phải vì nàng yếu hèn, mà vì nàng đang âm thầm ghi nhớ từng món nợ ân oán, chờ đợi thời cơ thích hợp để tung ra một đòn sấm sét đoạt mạng. Đến ngày Chúc Hợp bước lên đỉnh cao danh vọng tột bực, tưởng chừng như sắp chạm tay vào tước vị công hầu vinh hiển muôn đời, thì cũng chính là lúc Tạ Phác đứng ra vạch trần toàn bộ những mưu mô dơ bẩn, những bằng chứng cấu kết tạo phản và sự dối trá của hắn trước mặt các thế lực đương quyền. Nàng lạnh lùng giáng cho hắn một cái tát trời giáng, đẩy hắn ngã nhào từ trên đỉnh mây xanh xuống vực sâu nhục nhã, biến hắn thành kẻ phản bội vạn người phỉ nhổ, mất hết tất cả thuộc hạ, quyền lực và tài sản trong chớp mắt.
Chúc Hợp bị phế truất, giam cầm rồi uất ức buông xuôi mạng sống nơi ngục tối lạnh lẽo. Giây phút nhắm mắt xuôi tay, hình ảnh cuối cùng in sâu trong tâm khảm hắn không phải là quyền uy tột đỉnh hay nụ cười của đám ái thiếp lẳng lơ, mà chính là ánh mắt bi thương đến tột cùng nhưng cũng cương nghị sắt đá của Tạ Phác. Hắn chết đi trong nỗi dằn vặt, ân hận xé nát tâm can.
Ấy vậy mà giờ đây, khi mở mắt ra lần nữa, hắn lại thấy mình đang nằm trên bãi cỏ quen thuộc của cánh rừng ven thành Bình Thành. Hắn đã quay trở lại đúng vào cái ngày đầu tiên của hơn bốn mươi năm về trước, cái ngày hắn vừa xuyên việt đến mảnh đất này.
Chúc Hợp ngồi yên bất động giữa rừng sâu tĩnh mịch, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo sơ mi lấm lem đến mức khớp ngón tay trắng bệch ra. Từng hình ảnh của tiền kiếp cuồn cuộn ùa về trong tâm trí như những thước phim quay chậm, rõ mồn một đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Càng nghĩ sâu về những việc mình đã từng làm sau khi xuyên qua, hắn lại càng thấy căm phẫn, ghê tởm chính bản thân mình đến tột độ. Trời ơi, sao ở kiếp trước hắn lại có thể đê hèn, vô liêm sỉ và mù quáng đến mức độ như vậy! Một người thê tử tốt đẹp như Tạ Phác, sẵn lòng đồng cam cộng khổ khi hắn khốn khó nhất, vì hắn mà hy sinh cả thanh xuân danh dự, vậy mà hắn lại lấy oán báo ân, chà đạp lên tấm chân tình của nàng để chạy theo những thú vui xác thịt tầm thường và thói phù hoa giả tạo. Hắn giơ tay tát thẳng vào má mình một cái thật mạnh, tiếng tát giòn giã vang lên xua tan sự tĩnh lặng của khu rừng, cơn đau rát nơi gò má khiến hắn tỉnh táo hơn bao giờ hết.
"Chúc Hợp ơi là Chúc Hợp, kiếp trước ngươi sống như một con súc sinh, phụ bạc tấm lòng người vợ kết tóc, chết đi là hoàn toàn xứng đáng." Hắn lẩm bẩm trong miệng, giọng nghẹn ngào vì những giọt nước mắt nóng hổi bất giác trào ra lăn dài trên má. Thế nhưng, trời xanh đã không triệt đường sống của con người, lại ban cho hắn một cơ hội thứ hai để làm lại cuộc đời từ đống tro tàn đổ nát. Hắn quỳ rạp người xuống nền đất ẩm ướt, dập đầu ba cái thật mạnh xuống thảm cỏ rừng, trán chạm vào bùn đất lạnh giá mà trong lòng lại bùng cháy một ngọn lửa quyết tâm mãnh liệt: "Ông trời có mắt đã cho con sống lại lần nữa. Đời này kiếp này, Chúc Hợp ta xin thề với trời đất thần linh, ta tuyệt đối sẽ không bao giờ giẫm lại vết xe đổ dơ bẩn của kiếp trước. Ta sẽ từ bỏ hoàn toàn thói phong lưu vô lại, chỉ chung tình trọn vẹn với một mình Tạ Phác, dùng cả tính mạng này để bảo vệ nàng, bù đắp cho nàng, và danh chính ngôn thuận cưới nàng về làm thê tử duy nhất của đời ta."
Sau khi trút bỏ hết nỗi nghẹn ngào u uất trong lòng, Chúc Hợp chậm rãi đứng dậy, đưa tay phủi sạch những vụn cỏ khô và bụi đất còn vương trên ống quần tây. Hắn bắt đầu dậm dậm hai chân, vươn vai xoay người để thư giãn gân cốt đang rã rời sau một thời gian dài nằm bất động trên nền đất lạnh. Cơn gió thu thoảng qua làm hắn rùng mình ớn lạnh, nhắc nhở hắn quay trở về với thực tại nghiệt ngã trước mắt.
Kinh nghiệm sống suốt hơn bốn mươi năm ở thời cổ đại mách bảo hắn rằng, việc cấp bách hàng đầu lúc này là phải nhanh chóng tìm cách thay đổi y phục trên người. Bộ âu phục bằng vải sợi tổng hợp cùng chiếc áo sơ mi cộc tay và mái tóc ngắn cũn cỡn này hoàn toàn lạc lõng giữa bối cảnh phong kiến. Nếu hắn cứ thế này mà nghênh ngang bước ra ngoài đường lớn, người dân bản địa chắc chắn sẽ coi hắn là kẻ điên loạn, là yêu ma quỷ quái từ phương nào trôi dạt tới, hoặc tệ hơn nữa là bị quan phủ nghi ngờ là gian tế dị bang mà bắt giam vào đại lao tra tấn khảo đả.
Ở kiếp trước, khi vừa mới xuyên qua, Chúc Hợp ngây ngô chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra. Hắn còn ngây thơ tự hỏi rất lâu, thầm nghĩ chẳng lẽ gã tài xế lái xe tải đâm phải hắn sợ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, sợ phải đi tù nên đã lén lút chở xác hắn vứt vào nơi rừng sâu núi thẳm hoang vu này để phi tang. Mãi cho đến khi hắn vất vả lần mò ra khỏi rừng, nhìn thấy những con người mặc áo ngắn quần thô, đầu vấn khăn hoặc búi tóc như trong các bộ phim truyền hình cổ trang, nghe thứ thổ ngữ lơ lớ khó hiểu, hắn mới bàng hoàng vỡ lẽ ra rằng mình đã rơi ngược dòng thời gian về thời quá khứ xa xôi.
Lần này sống lại, Chúc Hợp không một đồng dính túi, hai bàn tay trắng trơn, muốn tìm một tiệm vải hay tiệm may để mua một bộ quần áo vải thô đàng hoàng cũng là chuyện hoàn toàn bất khả thi. Cách duy nhất mà hắn có thể tính toán lúc này chính là lục tìm trên thi thể của những người bất hạnh qua đời ven đường để nhặt tạm một mảnh áo lành lặn che thân.
Nghĩ đến đây, Chúc Hợp không khỏi thở dài ngao ngán cho cái vận số hẩm hiu của mình. Từ lúc bắt đầu dính vào cái trò xuyên không này, vận may của hắn chưa bao giờ được xem là tốt đẹp. Người ta xuyên không thì vào cung làm hoàng tử vương gia, hoặc chí ít cũng là công tử thế gia ngậm thìa vàng từ trong trứng nước, còn hắn thì rơi đúng vào giai đoạn đen tối, hỗn loạn và bi thảm bậc nhất trong lịch sử: thời kỳ mạt triều của vương triều nhà Tống.
Vào những năm tháng này, Đại Tống đang bước vào giai đoạn suy tàn không thể cứu vãn, chỉ còn kéo dài một hơi tàn thoi thóp chừng hơn một trăm năm trước khi hoàn toàn bị vó ngựa ngoại bang giày xéo tiêu diệt. Triều đình nam di yếu hèn mục nát, quan lại tham ô nhũng nhiễu bóc lột dân chúng đến tận xương tủy, giặc cướp nổi lên như nấm sau mưa ở khắp các châu huyện. Người Hán chỉ còn lại nửa giang sơn gãy đổ, biên cương phía bắc ngày đêm đối mặt với sự đe dọa xâm lăng tàn khốc của các bộ tộc du mục phương bắc hung hãn. Bách tính khắp nơi rơi vào cảnh nhà tan cửa nát, tha phương cầu thực, dắt díu nhau chạy nạn nay đây mai đó trong cảnh đói rét cùng cực. Chiến loạn liên miên hoành hành khiến cho việc nhìn thấy người chết nằm la liệt bên vệ đường đã trở thành một cảnh tượng quá đỗi bình thường, quen thuộc đến mức lạnh tanh lòng người. Bách tính nghèo khổ đến mức ngay cả manh áo rách trên người của kẻ đã khuất cũng bị những kẻ sống sót lột sạch để chống chọi với cái rét cắt da cắt thịt, bỏ mặc thi thể trần truồng phơi sương phơi nắng nơi đồng hoang cỏ dại cho kền kền rỉa thịt.
Mục tiêu ban đầu của Chúc Hợp lúc này chính là tìm kiếm những thi thể bách tính phơi thây nơi hoang dã đó, hy vọng nhặt nhạnh được một manh áo vải thô hay một tấm vải vụn nào đó để khoác lên người che đậy bộ tây trang kỳ quái.
Chúc Hợp khẽ cúi nhìn đôi giày da dưới chân. Bộ âu phục này từng là thứ tài sản quý giá nhất của hắn ở thời hiện đại, là bộ cánh hắn dành dụm cả tháng lương để mua phục vụ cho những buổi phỏng vấn xin việc, nhưng sau hơn bốn mươi năm quen thuộc với áo dài tay rộng, vạt chéo quần thô của chốn cổ phong, giờ đây mặc lại bộ đồ này hắn chỉ cảm thấy gò bó, chật chội và xa lạ vô cùng.
Hắn bắt đầu cất bước chậm rãi đi trên bãi cỏ dại, tìm đường xuyên qua khu rừng rậm rạp. Rừng cây vào thu rụng lá vàng xơ xác, những cành gai góc tua tủa vươn ra như những cánh tay ma quỷ cào xé vào tay áo sơ mi mỏng manh của hắn. Hắn đã cắm cúi đi bộ suốt nửa canh giờ đồng hồ mà bốn bề vẫn chỉ là những thân cây cổ thụ cao vút, tiếng chim rừng kêu quang quác thê lương trên ngọn cây càng làm tăng thêm vẻ hoang vu tịch mịch. Đôi giày da công sở của hắn vốn chỉ là loại hàng mã rẻ tiền mua ở chợ sinh viên, đế cao su cứng nhắc và phom dáng chật hẹp. Dù chân hắn có đi tất sợi mỏng, nhưng sau một quãng đường dài leo dốc vượt suối, gót chân và mu bàn chân đã bắt đầu phồng rộp lên những nốt mụn nước đỏ ửng, bỏng rát và đau nhức đến thấu xương theo từng nhịp bước.
Cơn khát khô cằn bắt đầu thiêu đốt cuống họng hắn, khiến từng hơi thở phả ra đều mang theo vị đắng ngắt của sự kiệt sức. Chúc Hợp phải lần mò men theo tiếng róc rách của một khe suối cạn giữa khe đá rêu phong, khom lưng vục hai bàn tay múc lấy từng ngụm nước suối trong vắt mát lạnh để thấm ướt bờ môi nứt nẻ và làm dịu đi cơn khát cháy bỏng trong cổ họng. Ngụp một ngụm nước suối mát lành, hắn cảm thấy đầu óc tỉnh táo lại đôi phần, nhưng đôi chân thì dường như đã không còn là của mình nữa. Mỗi lần bước một bước đi, da thịt non nớt cọ xát với lớp lót giày cứng đơ như đá tảng lại khiến hắn hít vào từng ngụm khí lạnh vì đau đớn.
Bốn phía xung quanh vẫn là một màu xanh ngắt thăm thẳm của cây cối không thấy lối ra. Chúc Hợp dừng chân tựa lưng vào một gốc cây xù xì, thở dốc từng hơi mệt nhọc. Hắn cúi xuống, cởi phăng đôi giày da cứng nhắc ra cầm trên tay, thà để đôi chân chỉ mang lớp tất đen mỏng manh giẫm lên lớp thảm lá mục êm ái còn đỡ đau đớn hơn bội phần. Cứ thế, một tay xách giày, một tay gạt những cành cây chắn ngang mặt, hắn kiên trì nhắm hướng mặt trời lặn mà lê từng bước về phía trước.
Phải mất thêm gần một canh giờ nữa, ánh sáng chói chang từ khoảng trống phía trước mới rọi vào mắt hắn, báo hiệu đã ra đến bìa rừng. Chúc Hợp bước chân ra khỏi bóng râm u ám của cây cối, một lần nữa đặt chân lên con đường đất vàng rộng lớn chạy dài tít tắp. Đứng trên con đường thiên lý này, hắn khẽ thở phào nhẹ nhõm, cả thể xác lẫn tinh thần dường như đều được giải tỏa đôi chút sau chuỗi thời gian ngột ngạt trong rừng sâu. Thế nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, đúng lúc đó, một cơn gió thu hanh hao quét qua mặt đất, cuốn theo bụi đường mù mịt tạt thẳng vào mặt hắn, khiến Chúc Hợp không kịp đề phòng, hít trọn một ngụm đầy bụi cát khô khốc vào khí quản, ho sặc sụa đến đỏ gay cả mặt mày, nước mắt nước mũi giàn giụa.
Hắn vội vàng giơ cánh tay áo lên che mặt, chờ cho cơn gió lốc cuốn bụi cát đi xa mới dám thở hắt ra một hơi dài, đưa bàn tay run rẩy lên quệt sạch lớp bụi đất bám đầy trên mặt và khóe miệng. Nhìn con đường đất dài hun hút không một bóng trạm nghỉ, Chúc Hợp thầm nghĩ trong lòng, hắn thực sự không muốn nấn ná ở cái chốn quỷ quái hoang tàn này thêm một khắc nào nữa.
Chúc Hợp xốc lại tinh thần, xỏ tạm đôi chân trần vào lại đôi giày da rách rồi bắt đầu rảo bước hướng về phía thành Bình Thành. Con đường thiên lý này vốn là trục lộ giao thông nối liền các vùng phụ cận với Bình Thành, nhưng cảnh tượng phơi bày trước mắt hắn lúc này lại thê lương và rùng rợn đến gai người. Cứ đi được chừng vài trăm bước, ở hai bên bờ mương hay dưới những bụi cỏ khô cằn cỗi ven đường, hắn lại nhìn thấy đủ loại xác chết vô danh nằm rải rác trơ trọi. Những thi thể ấy có già có trẻ, sắc mặt ai nấy đều xanh xao vàng vọt, thân hình gầy yếu trơ xương đến mức da bọc lấy khung xương sườn nhô lên nham nhở, cả người teo tóp lại không biết có nổi hai lạng thịt hay không. Mười xác chết thì đến cả mười đều giống hệt nhau ở một điểm: trên người họ không sót lại một mảnh vải vụn nào che thân, toàn bộ quần áo chắc chắn đã bị đám người chạy nạn hoặc đám khất cái đi ngang qua gom lấy từ lâu để giữ ấm.
Có những thi thể là của những người phụ nữ gầy trơ xương, hai bàn tay co quắp vẫn ôm chặt lấy thi hài một đứa trẻ sơ sinh đã tím tái từ bao giờ; có những thi thể là của những ông lão râu tóc bạc phơ nằm gối đầu lên chiếc nón rách rưới nát vụn; lại có những xác chết mang trên mình những vết chém sâu hoắm của đao kiếm loạn quân, máu đen đã đông cứng lại thu hút từng đàn ruồi bọ bu kín vo ve ghê rợn. Tiếng quạ đen đậu trên những cành cây khô trơ trụi cất lên từng tiếng kêu thê lương ai oán, chọc thủng bầu không khí u tịch của buổi chiều tà. Nhìn cảnh tượng tang thương ấy, trong lòng Chúc Hợp dâng lên một nỗi xót xa vô hạn cho số phận của bách tính người Hán. Một triều đại từng có thời phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, từng rực rỡ với thi ca, gốm sứ và những dòng sông tấp nập thuyền bè ngược xuôi ở Biện Kinh ngàn năm hoa lệ, nay chỉ vì triều đình nhu nhược suy tàn mà rơi vào cảnh nước mất nhà tan, biến giang sơn gấm vóc thành một bãi tha ma khổng lồ không người chôn cất.
Kiếp trước, khi mới chân ướt chân ráo xuyên không tới đây, lần đầu tiên tận mắt chứng kiến một xác người chết đói nằm co quắp bên đường, Chúc Hợp đã hoảng loạn đến mức ngã ngửa ra sau, mặt cắt không còn giọt máu, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Hắn khi ấy còn ngây thơ nghĩ rằng đây là một vụ án mạng giết người cướp của nghiêm trọng, cuống cuồng muốn chạy đi tìm nha môn quan phủ để báo án cầu cứu. Thế nhưng, khi đi tiếp một đoạn đường nữa, liên tiếp nhìn thấy thi thể thứ hai, thứ ba, rồi đến hàng chục xác người chết nằm la liệt thối rữa dưới ánh nắng mà chẳng có lấy một bóng người đoái hoài chôn cất, nỗi sợ hãi ban đầu trong lòng hắn dần dần bị thay thế bằng sự kinh hoàng tột độ, rồi cuối cùng hóa thành một cảm giác tê dại, chết lặng đến xót xa.
Khi ấy, hắn từng vô cùng kích động và mừng rỡ khi bắt gặp được người sống đầu tiên trên đường, vội vã chạy lại gần để bắt chuyện làm quen. Nhưng khi đối phương cất tiếng nói bằng thứ thổ ngữ địa phương cổ xưa lơ lớ, âm điệu xa lạ lơ lửng, kèm theo ánh mắt cảnh giác, vô hồn và sợ sệt nhìn chằm chằm vào hắn, Chúc Hợp mới thực sự rơi vào vực sâu của sự hoang mang tột bực. Hắn không biết mình là ai, đang ở đâu, và phải trưng ra vẻ mặt hay thái độ như thế nào mới có thể hòa nhập vào cái thế giới tàn khốc đầy rẫy chết chóc này.
Quay trở lại với thực tại hôm nay, đứng trước những thi thể bất hạnh nằm rải rác bên vệ đường, gương mặt Chúc Hợp đã không còn nét kinh hãi non nớt của gã thanh niên hiện đại năm nào. Hắn mặt không đổi sắc bước chầm chậm qua từng xác chết, ánh mắt trầm tĩnh nhưng chất chứa sự xót thương vô hạn cho số phận bèo bọt của bách tính thời loạn. Hắn cẩn thận cúi xuống kiểm tra tỉ mỉ quanh mấy bụi rậm, nhưng quả thực chẳng còn sót lại bất kỳ mảnh áo quần lành lặn nào có thể tận dụng được. Hắn khẽ thở dài, chấp tay niệm một câu cầu siêu trong tâm khảm rồi tiếp tục cất bước tiến về phía trước.
Đi thêm chừng vài dặm đường nữa, khung cảnh bắt đầu có sự thay đổi. Các xác chết bên đường thưa thớt dần rồi biến mất hoàn toàn, bởi đây là khu vực phụ cận gần cổng thành, quan phủ địa phương đã cho sai dịch và phu phen kéo xe bò ra thu dọn, chở xác người đi chôn cất ở những hố chôn tập thể ngoài bãi tha ma để tránh bùng phát dịch bệnh mùa thu. Dẫu vậy, vận may vẫn chưa mỉm cười với Chúc Hợp, hắn hoàn toàn không tìm được bộ quần áo nào để thay thế. Chiếc áo sơ mi trắng trên người hắn sau một chặng đường dài len lỏi qua gai rừng, hít trọn bụi cát và đẫm ướt mồ hôi chua chát đã bị rách nát tả tơi ở hai bên vai và vạt áo, lấm lem bùn đất và những vệt ố vàng, khiến cho nó biến dạng hoàn toàn, chẳng còn giữ lại được chút dáng vẻ thanh lịch nào của một món đồ hiện đại nữa.
Đôi chân hắn lúc này thực sự đã lâm vào tình cảnh vô cùng khốn khổ. Giữa đường đi, đôi giày da rách đế đã hoàn toàn bung bét không thể xỏ vào được nữa, Chúc Hợp đành phải dứt khoát vứt phăng nó vào một bụi cỏ gai bên đường, chỉ còn giữ lại đôi tất đen bảo vệ bàn chân. Thế nhưng sau quãng đường cuốc bộ hơn mười dặm giẫm đạp lên sỏi đá và đất cát gồ ghề, đôi tất đen cũng đã bị mài mòn rách bươm xơ xác, mũi tất rách toạc để lộ hai ngón chân cái thò hẳn ra ngoài, gót chân cũng toạc ra từng mảng lớn tiếp xúc trực tiếp với nền đất ráp. Cát sỏi cọ xát vào những vết phồng rộp vỡ toét làm máu tươi rỉ ra, thấm đẫm vào sợi vải rồi khô quắt lại thành những mảng nâu sẫm dính chặt vào da thịt, mỗi một bước hạ chân xuống là một lần toàn thân hắn run lên bần bật vì đau buốt tận óc.
Cái bụng đói sau một ngày dài không có lấy một hạt cơm lót dạ bắt đầu réo lên từng hồi dữ dội, dạ dày quặn thắt lại như có ai dùng tay bóp nghẹt. Cơn đói cồn cào làm mắt hắn thỉnh thoảng lại hoa lên, từng đốm sao vàng chập chờn trước mặt, bước chân xiêu vẹo tưởng chừng như có thể đổ gục xuống bất cứ lúc nào. Thế nhưng, mỗi khi ý nghĩ muốn buông xuôi nhen nhóm xuất hiện, hình bóng thanh tao đoan trang cùng ánh mắt phượng u buồn nhưng cương nghị của Tạ Phác kiếp trước lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí hắn. Hắn nhớ đến nụ cười dịu dàng của nàng, nhớ đến những ân tình mà cả đời hắn chưa trả hết, và ngọn lửa quyết tâm trong lồng ngực lại bùng cháy dữ dội, tiếp thêm cho hắn sức mạnh phi thường để cắn chặt răng, nuốt ngược máu và nước mắt vào trong mà lê bước tiếp tục tiến về phía trước.
Cuối cùng, sau hơn hai canh giờ cuốc bộ mệt mỏi rã rời, hình bóng sừng sững của thành Bình Thành cũng hiện ra rõ nét nơi cuối chân trời. Những bức tường thành xây bằng đá tảng màu xám tro rêu phong cổ kính vươn cao sừng sững giữa nền trời thu, mang theo những dấu vết loang lổ của đao kiếm và khói lửa chiến tranh từ những cuộc vây hãm trong quá khứ. Cổng thành vòm cuốn rộng lớn mở toang, bên trên cổng chính khắc sâu hai chữ Bình Thành bằng lối chữ triện cổ xưa đầy phóng khoáng, uy nghiêm và trầm mặc.
Chúc Hợp dừng bước trước cửa ngõ dẫn vào thành phố, đưa tay áo quệt mồ hôi trên trán. Nhìn hai chữ Bình Thành khắc sâu trên vách đá kia, một cảm giác chua xót, bùi ngùi và nặng nề khôn xiết bỗng trào dâng nghẹn ứ nơi cổ họng hắn. Bình Thành ơi Bình Thành, đây chính là mảnh đất nơi kiếp trước hắn đã từng gắn bó suốt hơn bốn mươi năm cuộc đời, nơi hắn từ một kẻ không xu dính túi từng bước leo lên đỉnh cao danh vọng, nơi hắn được Tạ gia cưu mang che chở, và cũng chính là nơi hắn đã gây ra bao nỗi đau đớn, uất ức tột cùng cho người vợ hiền Tạ Phác. Bao nhiêu ân oán tình thù, bao nhiêu vinh nhục của một đời người đều bắt đầu và kết thúc tại chính cái cổng thành đá xám này.
Lúc này, trước cổng thành, dòng người ra vào buôn bán và dòng người chạy nạn từ khắp các ngả đường đang đổ về nườm nượp, tạo nên một khung cảnh ồn ào hỗn tạp. Chúc Hợp cố gắng lờ đi những ánh mắt tò mò, ngạc nhiên xen lẫn dè chừng của những người xung quanh đang đổ dồn về phía mình. Hắn hít một hơi thật sâu, sửa lại vạt áo rách rồi khập khiễng cất bước tiến về phía vòm cổng thành.
Thế nhưng, hắn mới vừa bước đi chưa đầy hai bước, một tiếng quát tháo the thé đầy uy quyền đã vang lên xé toạc không gian: "Đứng lại! Tên kia, đứng yên tại chỗ cho ta!"
Kèm theo tiếng quát tháo ấy là tiếng kim loại va chạm lách cách sắc lạnh. Hai tên quan binh mặc giáp trụ bằng da thuộc, tay lăm lăm cầm trường thương và đại đao lập tức sải bước tiến tới, mũi thương sắc nhọn chĩa thẳng vào ngực Chúc Hợp, chặn đứng đường đi của hắn lại.
Sự ngăn trở này âu cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu và nằm trong dự liệu của Chúc Hợp. Giữa thời buổi loạn lạc khói lửa ngập trời, một kẻ lạ mặt xuất hiện với mái tóc ngắn cũn cỡn không búi tó như phạm nhân vừa trốn khỏi trại lưu đày, trên người lại khoác một bộ y phục kỳ dị không ra áo dài cũng chẳng ra khố rách, ống quần bó sát kỳ quặc, nếu là ở những vùng biên ải thiết quân luật gắt gao hơn, đám lính thú chưa lập tức trói gô hắn lại tống vào ngục tối thẩm vấn khảo đả đã là một sự may mắn tột cùng của số phận.
Bị quan binh chĩa mũi đao ngăn lại ngay trước cửa thành, ngoài mặt Chúc Hợp khẽ giật mình làm ra vẻ sợ hãi và sửng sốt như một kẻ bần hàn lương thiện, thế nhưng trong tiềm thức sâu thẳm, một thói quen cố hữu từ tiền kiếp bỗng trỗi dậy khiến hắn suýt chút nữa nhíu mày nghĩ thầm trong bụng: kẻ nào to gan dám cả gan cản đường bản quan. Thế nhưng chỉ trong một cái chớp mắt, một tia lạnh lẽo chạy dọc sống lưng đã kéo hắn quay phắt trở về với hiện thực tàn nhẫn: hắn của hiện tại không còn là vị đại quan quyền uy khuynh đảo triều dã của kiếp trước nữa. Hắn hiện tại chỉ là một kẻ vừa mới sống lại lần thứ hai, nghèo rớt mồng tơi, thân phận thấp hèn tựa như một con kiến hôi ven đường, đám quan binh trước mặt này muốn chém chết hắn hay vứt xác hắn ra ngoài bãi tha ma cũng chỉ dễ dàng như bẻ gãy một cành củi khô mà thôi.
Ý thức được vị thế của mình, Chúc Hợp lập tức thu liễm toàn bộ ngạo khí, ngoan ngoãn dừng hẳn bước chân, đứng yên tại chỗ chắp hai tay buông thõng, cúi đầu chờ đợi sự tra hỏi của thủ vệ.
Tên quan binh dẫn đầu tiến lên một bước, đảo cặp mắt ti hí sắc lẹm soi mói từ đầu đến chân Chúc Hợp, từ mái tóc ngắn cũn cỡn đến chiếc áo sơ mi rách bươm và đôi chân trần lem luốc, cất giọng ồm ồm quát hỏi: "Ngươi là kẻ nào? Từ đâu chạy đến đây? Tại sao hình dong đầu tóc lại quái đản, dị hợm như phường yêu đạo thế này?"
Chúc Hợp đã từng sống ở thời đại này hơn bốn mươi năm trong kiếp trước, thứ tiếng địa phương của vùng này hắn đã nói sõi đến mức chẳng khác nào người bản xứ, huống hồ năng khiếu ngôn ngữ và tài ứng biến của hắn vốn dĩ vô cùng nhạy bén và giảo hoạt. Những quy tắc ứng xử, điển tích văn chương, cho đến phong tục tập quán của bách tính thời mạt Tống hắn đều đã nghiên cứu kỹ lưỡng và nắm rõ như lòng bàn tay. Huống chi, Bình Thành chính là nơi hắn từng gắn bó cả nửa đời người, từng con đường ngõ hẻm hắn đều thuộc làu làu.
Hắn khẽ ngẩng đầu lên, nét mặt lộ vẻ bi thương tột cùng nhưng cử chỉ lại vô cùng nhã nhặn, chắp hai tay lại trước ngực thi một lễ cung kính theo đúng khuôn phép của kẻ sĩ thư hương thời bấy giờ, rồi cất giọng trầm ấm, chậm rãi giãi bày: "Khởi bẩm tráng sĩ quân gia, tại hạ vốn là một hàn nho nhân sĩ xuất thân từ vùng Giang Đông. Quê nhà gặp phải thiên tai binh lửa, gia cảnh ly tán, tại hạ đành phải dắt díu tìm đường lên phương bắc lánh nạn. Chẳng may trên đường thiên lý hiểm trở, bất hạnh đụng độ phải một toán sơn tặc thảo khấu hung tợn chặn đường cướp bóc. Bọn chúng đã cướp sạch toàn bộ hành lý, lộ phí và cả giấy tờ tùy thân của tại hạ, xé rách y phục, đánh đập đuổi cùng giết tận. Tại hạ liều mạng nhảy xuống hẻm núi trốn vào rừng sâu mới giữ được tính mạng này mà bò tới đây, hiện tại trên người thực sự không còn lấy một đồng dính túi, đầu tóc y phục cũng vì thế mà tơi tả nhếch nhác, cúi xin quân gia rủ lòng thương xót soi xét cho nỗi oan khổ của kẻ bần nho."
Lời nói của Chúc Hợp thốt ra vô cùng trôi chảy, âm điệu Giang Đông chuẩn mực nhẹ nhàng, từng câu từng chữ đều mang đậm chất văn phong của một người có học thức, hoàn toàn khác biệt với những lời cãi vã thô tục của đám dân đen ít học. Hơn nữa, toàn thân hắn lúc này quả thực thảm hại đến mức không thể thảm hại hơn được nữa. Khuôn mặt hắn bị phủ kín một lớp bụi đất vàng và nhọ than lem luốc, mái tóc bù xù bết dính mồ hôi, chiếc áo sơ mi trắng biến thành màu cháo lòng rách toang lộ cả da thịt gầy guộc, chỉ còn lại đôi tròng mắt sáng ngời và hàm răng trắng bóc lộ ra mỗi khi cất lời thanh minh.
Chiếc áo sơ mi vốn dĩ sạch sẽ tinh tươm thời hiện đại giờ đây đã bị cành cây rừng cào xé rách nát, vạt áo tả tơi buông thõng chẳng khác nào chiếc áo giáp rách của lính bại trận. Trước đó, trên con đường đất dài dằng dặc dẫn tới Bình Thành, đôi giày da công sở cứng quắc đã làm bàn chân hắn phồng rộp chảy máu, khiến hắn không thể chịu đựng thêm được nữa mà phải ném phăng đôi giày đi từ giữa đường, chỉ giữ lại đôi tất đen bảo vệ bàn chân. Thế nhưng sau quãng đường dài giẫm đạp lên sỏi đá và đất cát gồ ghề, đôi tất đen cũng đã bị mài mòn rách bươm xơ xác, hai ngón chân cái cùng gót chân rách toang thò hẳn ra ngoài, dính đầy bụi cát và những vệt máu tươi đã khô quắt lại thành màu nâu sẫm. Chiếc quần tây đen cũng bị cào rách nhiều chỗ ở đầu gối, biến hắn thành một kẻ có vẻ ngoài chẳng khác nào một gã ăn mày chuyên nghiệp vừa thoát chết sau một trận đòn chí mạng.
Giữa thời buổi thiên hạ đại loạn, bách tính tha phương cầu thực khắp nơi, cảnh ngộ những thư sinh nho nhã bị giặc cướp lột sạch đồ đạc rồi lưu lạc đến Bình Thành vốn không phải là chuyện hiếm thấy. Những dòng người đang lũ lượt qua lại cổng thành ai nấy đều mang vẻ mặt chết lặng, mệt mỏi và âu sầu, y phục trên người cũng đều chắp vá nhếch nhác bụi bặm.
Điều khiến hai tên quan binh giữ cổng thực sự chú ý và dần dịu bớt vẻ hung hãn chính là phong thái đĩnh đạc khác thường của Chúc Hợp. Dù đang khoác trên mình một bộ dạng rách rưới thảm hại như ăn mày, nhưng từ ánh mắt điềm tĩnh, nụ cười nhã nhặn đến từng động tác chắp tay thi lễ của hắn đều toát lên cốt cách tao nhã của một bậc văn nhân đèn sách từng dùi mài kinh sử. Hơn bốn mươi năm rèn luyện chốn quan trường kiếp trước đã thấm sâu vào từng cử chỉ, lời nói của hắn, giúp hắn hoàn toàn rũ bỏ được vẻ lố lăng kệch cỡm của một kẻ ngoại lai.
Hắn vẫn còn nhớ rất rõ, ở kiếp trước khi vừa mới xuyên không tới đây, hắn đã nói chuyện với quan binh bằng cái giọng điệu cợt nhả của thời hiện đại, xưng hô lung tung, tay chân vung vẩy ngạo mạn. Khi ấy, người ta nhìn hắn chẳng khác gì một tên lưu manh vô lại nơi đầu đường xó chợ, không hiểu chút gì về lễ nghi phép tắc. Giờ đây nghĩ lại dĩ vãng, Chúc Hợp không khỏi thầm cảm thán và tự hỏi, ở kiếp trước, khi nhạc phụ Tạ Thành quyết định gả người con gái rượu hiền lương thục đức Tạ Phác cho một gã lưu manh ăn nói hàm hồ như hắn, rốt cuộc vị nhạc phụ cương trực ấy đã phải chịu đựng bao nhiêu áp lực và hạ bao nhiêu quyết tâm dũng khí mới làm được điều đó.
Tên quan binh thủ vệ sau khi nghe những lời đối đáp lưu loát, thấu tình đạt lý và nhìn thấy phong thái nho nhã của Chúc Hợp thì ngọn lửa nghi ngờ trong lòng lập tức tan biến. Hắn khẽ thu hồi đại đao lại, đưa tay vuốt chòm râu ngắn lởm chởm trên cằm, gật đầu lẩm bẩm: "Hóa ra là một vị tiên sinh gặp nạn nơi đất khách quê người. Thời buổi giặc giã này, lũ thảo khấu lộng hành khắp nơi, giữ được cái mạng trốn đến Bình Thành an toàn đã là phúc đức lớn rồi."
Nói đoạn, tên quan binh phất mạnh tay áo sang một bên, ra hiệu cho thuộc hạ dẹp đường rồi bảo: "Được rồi, thân phận đã rõ ràng, ngươi có thể vào thành."
Chúc Hợp khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, trên mặt nở một nụ cười ấm áp, cung kính cúi đầu chắp tay nói lời cảm tạ: "Đa tạ hai vị tráng sĩ quân gia đã rủ lòng từ bi chiếu cố."
Hắn nhấc đôi chân đau nhức toan cất bước bước qua vòm cổng thành, thế nhưng mới chỉ đi được chừng ba bốn bước, người quan binh vừa thẩm vấn hắn khi nãy bỗng nhiên gọi giật hắn quay lại: "Khoan đã, vị tiên sinh kia, quay lại đây một chút!"
Trái tim Chúc Hợp khẽ giật thót một cái, hắn vội vàng dừng bước, xoay người lại nhìn tên lính thú với vẻ mặt đầy thắc mắc. Tên quan binh tiến lại gần hai bước, đảo mắt nhìn xuống đôi chân trần rướm máu và chiếc bụng đang hóp lại của Chúc Hợp, cất giọng trầm trầm hỏi: "Bao lâu rồi ngươi chưa được hột cơm nào vào bụng?"
Không đợi Chúc Hợp kịp lên tiếng trả lời, tên quan binh đã xua xua tay, cất giọng mách nước đầy vẻ hảo tâm: "Nhìn bộ dạng ngươi xanh xao thế kia, chắc chắn là đã nhịn đói suốt mấy ngày đường rồi. Ngươi thật may mắn đấy, hôm nay vừa vặn đúng là ngày Tạ viên ngoại trong thành mở kho phát cháo cứu tế cho nạn dân tứ xứ. Tạ lão gia là bậc đại thiện nhân nức tiếng vùng này. Ngươi cứ đi thẳng vào cổng thành, đến ngã tư lớn đầu tiên thì rẽ tay trái, men theo con phố đá xanh đi chừng hai trăm bước nữa là sẽ thấy đám đông xếp hàng trước cổng Tạ phủ. Mau đến đó mà xin một bát cháo đặc lót dạ đi, kẻo muộn lại hết phần."
Nghe thấy ba chữ "Tạ viên ngoại" thốt ra từ miệng người lính canh gác, toàn thân Chúc Hợp run lên bần bật, một luồng điện ấm áp và xúc động mãnh liệt chạy dọc khắp các mạch máu trong cơ thể hắn. Tạ viên ngoại! Đúng rồi, chính là Tạ Thành, vị trượng phu trượng nghĩa, vị ân nhân lớn nhất cuộc đời hắn và cũng chính là người nhạc phụ kính yêu của hắn ở kiếp trước!
Những ký ức phủ đầy bụi thời gian bỗng chốc sống dậy mãnh liệt như thác lũ tràn bờ. Ở kiếp trước, chính bát cháo cứu tế này của Tạ phủ đã cứu sống mạng của một kẻ xuyên không đói lả như hắn, mở ra cơ duyên để hắn bước chân vào Tạ gia, quen biết và cưới được Tạ Phác. Giờ đây, được nghe lại cái tên thân thương ấy từ miệng một người xa lạ, cõi lòng Chúc Hợp trào dâng muôn vàn cảm xúc nghẹn ngào, vừa mừng rỡ khôn xiết lại vừa hổ thẹn khôn cùng. Hắn rốt cuộc đã có cơ hội được nhìn thấy lại gương mặt hiền từ nhưng cương trực của nhạc phụ đại nhân thêm một lần nữa trong cuộc đời này.
Chúc Hợp đứng thẳng người, hai tay chắp lại ngang trán, cúi rạp người thi lễ một cách chân thành và kính cẩn nhất từ tận đáy lòng: "Đa tạ ân tình chỉ đường cứu mạng của tráng sĩ quân gia. Ân đức này, Chúc mỗ xin khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn không bao giờ quên."
Tên quan binh khẽ mỉm cười xua tay ra hiệu: "Mau đi đi, kẻo dòng người đổ về đông lại không chen chân nổi."
Chúc Hợp gật đầu lia lịa, xoay người cất bước đi qua vòm cổng thành sâu thẳm. Vừa bước chân qua khỏi cổng đá, không khí náo nhiệt của chốn thị thành Bình Thành lập tức ùa vào các giác quan của hắn. Dù đang là thời buổi loạn lạc, bách tính phải thắt lưng buộc bụng, nhưng Bình Thành là một trọng trấn biên phòng có tường cao hào sâu nên việc buôn bán giao thương trong thành vẫn giữ được đôi nét phồn hoa xưa cũ. Những dãy nhà mái ngói san sát, những tấm biển hiệu gỗ mộc mạc treo trước các tửu quán, trà lầu, tiếng rao hàng lanh lảnh của những người bán bánh bao, kẹo hồ lô và tiếng lộc cộc của những cỗ xe bò lăn bánh trên đường đá hòa quyện vào nhau tạo nên một bản hòa âm sống động của cuộc sống trần thế.
Thế nhưng Chúc Hợp không hề để tâm ngắm nhìn những cảnh vật quen thuộc ấy. Hắn men theo ký ức sâu đậm đã khắc sâu vào xương tủy của đời trước, rảo bước đi thẳng tới ngã tư lớn đầu tiên của con phố chính rồi rẽ tay trái. Lòng bàn chân trần giẫm lên những phiến đá xanh mát lạnh khiến hắn khẽ rùng mình, nhưng cơn đau rát đã hoàn toàn bị lấn át bởi sự hồi hộp và nôn nóng đang trào dâng trong lồng ngực. Bụng hắn lúc này réo lên từng hồi ùng ục dữ dội, cơn đói cồn cào như ngọn lửa thiêu đốt dạ dày, nhắc nhở hắn rằng từ sáng sớm đến giờ hắn chưa có lấy một ngụm nước hay một mẩu lương khô nào vào bụng.
Đi được chừng hơn hai trăm bước chân dọc theo con phố đá xanh râm mát, đập vào mắt Chúc Hợp từ đằng xa là một khung cảnh vô cùng đông đúc và trật tự. Trước cánh cổng lớn bằng gỗ lim sơn đỏ son uy nghi có hai con sư tử đá canh giữ của một tòa phủ đệ bề thế, một hàng dài những người tị nạn, dân nghèo đói rách đang kiên nhẫn xếp hàng nối đuôi nhau chờ đợi phát cháo. Mùi khói bếp thoang thoảng quyện với hương thơm ngọt ngào, ấm nồng của gạo mới nấu nhừ bốc lên nghi ngút giữa tiết trời thu se lạnh, xông thẳng vào cánh mũi Chúc Hợp khiến nước miếng trong miệng hắn không ngừng ứa ra.
Trước cổng phủ, ba chiếc nồi đồng khổng lồ chứa đầy cháo hoa đang sôi sùng sục trên những bếp than đỏ rực lửa. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn mang theo hương thơm ngào ngạt của gạo tẻ hòa quyện cùng vị thanh mát của đậu xanh nấu nhuyễn và chút muối hạt đậm đà. Đứng bên những chiếc nồi đồng ấy là các gia đinh của Tạ phủ trong trang phục áo ngắn màu lam tề chỉnh, trên đầu chít khăn gọn gàng, tay thoăn thoắt cầm những chiếc muôi gỗ cán dài múc từng muôi cháo đặc sánh đổ đầy vào những chiếc bát sành sứt mẻ hay những ống tre của dòng người tị nạn chìa ra. Giữa thời buổi loạn lạc thóc cao gạo kém, một bát cháo đặc sánh đầy ắp như thế này chẳng khác nào một liều linh đan diệu dược cứu sống một mạng người khỏi miệng lưỡi hái của tử thần đói khát.
Phía trên bậc tam cấp của cổng chính Tạ phủ, một người quản gia trạc ngũ tuần gương mặt phúc hậu, mặc áo lụa xám đang đứng chắp tay sau lưng đi đi lại lại, luôn miệng cất giọng hòa nhã dặn dò nhắc nhở đám gia đinh và đám đông nạn dân: "Mọi người cứ từ từ xếp hàng ngay ngắn, không được chen lấn xô đẩy kẻo làm đổ cháo bỏng chân người già con trẻ. Tạ gia chúng ta hôm nay mở kho xuất ba mươi bao gạo ngon và mười bao đậu xanh, quyết không để ai phải ra về với cái bụng đói. Đại tiểu thư nhà chúng ta đã đích thân dặn dò phải nấu cháo thật đặc, nêm nếm muối vừa miệng để bà con ấm bụng chống chọi với gió lạnh đầu đông, xin bà con cứ yên tâm giữ gìn trật tự."
Nhìn thấy tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng đề bốn chữ lớn Tạ Trạch Từ Tâm treo trang trọng phía trên cổng phủ, hai mắt Chúc Hợp bỗng nhòe đi vì xúc động. Hắn vội vàng dừng chân lại bên vệ đường, đưa tay vuốt lại mái tóc ngắn rối bời cho gọn gàng hơn, cẩn thận chỉnh đốn lại vạt áo sơ mi rách rưới và kéo lại ống quần tây lấm lem bùn đất. Hắn không muốn bản thân xuất hiện trước cổng Tạ gia với một dáng vẻ quá đỗi kệch cỡm hay nhếch nhác. Sau khi hít sâu một hơi để trấn tĩnh lại nhịp tim đang đập loạn xạ, Chúc Hợp mới thong thả cất bước tiến lại gần, lặng lẽ hòa mình vào dòng người đang xếp hàng ở đoạn cuối con phố.
Những cảnh tượng mà hắn tưởng chừng như đã vùi sâu vào quên lãng suốt hơn bốn mươi năm của kiếp trước nay lại hiện ra mồn một trước mắt hắn với độ chân thực đến từng chi tiết. Chúc Hợp nhớ năm xưa, vào đúng cái ngày định mệnh này, hắn cũng từng bơ vơ đứng xếp hàng ở đúng vị trí này, ngơ ngác nhìn dòng người xa lạ xung quanh với tâm trạng hoang mang cực độ. Khi ấy, đứng ngay phía trước hắn là một người đàn ông trung niên nghèo khổ mặc áo vải rách vai. Lúc đó, với bản tính giảo hoạt và suy nghĩ muốn thu thập càng nhiều tin tức thời cuộc càng tốt để tìm đường mưu sinh, Chúc Hợp đã chủ động bắt chuyện và từ người đàn ông khốn khổ này dò hỏi được vô số tin tức quý giá về cục diện Bình Thành cũng như tính tình của Tạ viên ngoại.
Trong một thoáng thất thần nhớ lại dĩ vãng xa xăm, bàn tay Chúc Hợp đã vô thức vươn ra, khẽ vỗ nhẹ lên vai người đàn ông đang đứng quay lưng ngay phía trước mình: "Này vị huynh đài..."
Người đàn ông phía trước giật mình quay ngoắt đầu lại nhìn hắn. Đó là một lão khất cái trạc tuổi ngũ tuần, gương mặt gầy guộc sạm đen vì nắng gió phong trần, những nếp nhăn sâu hoắm hằn trên trán như những rãnh cày trên ruộng cằn, chòm râu lởm chởm bạc dính đầy bụi cát. Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài già nua khốn khổ ấy, đôi mắt của lão lại sáng rõ một cách khác thường, ánh lên sự tinh anh và từng trải của một kẻ đã lăn lộn khắp đầu đường xó chợ.
Lão khất cái nheo nheo mắt, đánh giá Chúc Hợp từ đầu đến chân một lượt vô cùng tỉ mỉ. Lão nhìn từ mái tóc ngắn cũn cỡn như phạm nhân, chiếc áo sơ mi rách nát tả tơi để lộ lồng ngực gầy guộc, chiếc quần tây đen bám đầy bùn đất đến đôi bàn chân trần dính máu khô và cát sỏi. Nhận thấy bộ dạng của Chúc Hợp so với đám ăn mày chuyên nghiệp như lão thậm chí còn tơi tả, nhếch nhác và thảm hại hơn gấp bội phần, trong ánh mắt lão khất cái bất giác dấy lên một chút thương cảm chân thành.
Lão khẽ nhếch miệng cười, để lộ vài chiếc răng cửa ố vàng khuyết thiếu, cất giọng khàn đặc mang đậm âm điệu giang hồ hỏi: "Tiểu huynh đệ từ đâu chạy nạn đến đất Bình Thành này vậy? Quần áo đầu tóc làm sao mà tả tơi, rách nát đến mức thảm thương thế này?"
Chúc Hợp khẽ mỉm cười gượng gạo, chắp hai tay lại thi lễ rồi cất giọng nhã nhặn đáp lời: "Tiểu đệ họ Chúc, vốn là một kẻ đọc sách nơi phương nam lưu lạc đến chốn này. Dọc đường không may gặp phải giặc cướp chặn đường lột sạch hành lý, lại phải bôn ba qua rừng sâu gai góc nên mới thành ra nông nỗi dở khóc dở cười này. Mong lão ca ca chớ chê cười bộ dạng nhếch nhác của tiểu đệ."
Lão khất cái nghe cách xưng hô lễ độ và giọng điệu nho nhã của Chúc Hợp thì trong lòng càng thêm kinh ngạc và thiện cảm. Lão khoát tay cười khà khà: "Chê cười cái gì chứ! Thời buổi loạn lạc đao kiếm vô tình, mạng người rẻ rúng như cỏ rác, giữ được cái mạng nguyên vẹn để đứng đây xếp hàng xin bát cháo nóng đã là đại phúc đức ba đời rồi. Lão già này phiêu bạt giang hồ hơn nửa đời người, thấy bao nhiêu công tử thế gia hôm trước còn cưỡi ngựa ngắm hoa, hôm sau giặc tràn vào đã biến thành đống xương tàn nơi bờ bụi. Tiểu huynh đệ còn trẻ, thân thể dẫu có rách rưới nhưng phong thái đĩnh đạc thế kia, ắt không phải là kẻ tầm thường."
Được lão khất cái khen ngợi khéo léo, Chúc Hợp trong lòng khẽ động. Hắn liền thuận nước đẩy thuyền, nhỏ giọng dò hỏi: "Tiểu đệ mới chân ướt chân ráo đến Bình Thành, dọc đường nghe danh Tạ viên ngoại là bậc đại thiện nhân mở kho cứu bách tính. Không biết uy danh của Tạ phủ ở chốn này ra sao, mà gia phong lại nghiêm cẩn, nhân từ đến nhường ấy?"
Nhắc đến Tạ phủ, đôi mắt lão khất cái bỗng sáng rực lên vẻ sùng kính đặc biệt. Lão ghé sát lại gần Chúc Hợp, hạ thấp giọng thì thào kể: "Tiểu huynh đệ hỏi đúng người rồi đấy! Ở đất Bình Thành này, nếu Tạ gia nhận đứng thứ hai về lòng nhân nghĩa thì tuyệt đối không ai dám xưng thứ nhất. Tạ viên ngoại tên thật là Tạ Thành, xuất thân từ danh môn vọng tộc phương bắc, nhưng tính tình cương trực, ghét thói nịnh bợ gian tà nên đã rời bỏ bổn gia chuyển về Bình Thành gầy dựng cơ nghiệp. Ngài kinh doanh lụa là lương thảo, tiền tài nhiều vô kể nhưng không bao giờ ức hiếp dân lành. Cứ mỗi độ giáp hạt hay mùa đông giá rét, ngài đều mở kho lương phát cháo, cấp phát áo bông và thuốc thang cho người nghèo."
Lão khất cái dừng lại một chút, nuốt một ngụm nước bọt rồi tiếp tục hào hứng nói thêm: "Đặc biệt hơn nữa là vị đại tiểu thư Tạ Phác của Tạ gia, năm nay vừa độ trăng tròn mười tám tuổi. Nàng chẳng những có dung nhan khuê các đoan trang tựa tiên nữ giáng trần, mà tâm địa lại Bồ Tát muôn phần. Toàn bộ việc phát cháo, kiểm tra chất lượng gạo củi hôm nay đều do một tay đại tiểu thư quán xuyến chỉ đạo. Nàng dặn dò gia nhân phải đãi sạch sạn cát, nấu cháo đậu xanh thật đặc quánh chứ không cho phép nấu loãng lèo tèo như những nhà phú hộ giả tạo khác. Ai nấy ở Bình Thành này đều ca ngợi nàng là phúc tinh trời ban cho vùng đất biên thùy."
Nghe lão khất cái thao thao bất tuyệt kể về Tạ Phác với những lời tán dương chân thành nhất, trái tim Chúc Hợp lại nhói lên một cơn đau xót xa nhưng cũng ngập tràn niềm tự hào khôn tả. Đúng vậy, thê tử của hắn chính là một người con gái tuyệt vời và nhân hậu như thế đấy. Ấy vậy mà ở kiếp trước, sau khi cưới được nàng, hắn lại để cho thói trăng hoa làm mờ mắt, phụ bạc tấm chân tình ngọc ngà của nàng, biến nàng thành người phụ nữ bất hạnh chịu bao cay đắng nơi hậu viện. Nắm chặt hai bàn tay lại, Chúc Hợp tự nhủ thầm trong đáy lòng: Tạ Phác ơi Tạ Phác, kiếp này ta nhất định sẽ dùng cả sinh mệnh này để bảo bọc nàng, trân trọng nàng, tuyệt đối không để nàng phải chịu bất kỳ một tia tổn thương hay ấm ức nào nữa.
Nhận thấy lão khất cái là một kẻ từng trải và nắm bắt rất nhiều tin tức cơ mật chốn giang hồ, Chúc Hợp khẽ đảo mắt nhìn quanh rồi ghé sát tai lão hỏi nhỏ: "Lão ca ca, tiểu đệ thấy dọc đường đi dân chúng chạy nạn đông đúc, quan binh giữ cửa thành phòng bị cẩn mật khác thường. Chẳng hay bên ngoài biên ải có biến cố gì lớn chăng?"
Sắc mặt lão khất cái lập tức trở nên nghiêm trọng lạ thường, lão liếc mắt nhìn quanh đám đông đang bận rộn nhìn về phía nồi cháo, rồi ghé tai Chúc Hợp thì thầm bằng giọng điệu căng thẳng: "Tiểu huynh đệ quả là người tinh ý. Ta nói cho đệ biết, giặc Hồ phương bắc đang rục rịch điều động kỵ binh áp sát biên ải rồi đấy! Nghe đồn bọn chúng đã chiếm được mấy châu huyện phía bắc, chỉ trong vài ngày tới là mũi nhọn chiến tranh sẽ chĩa thẳng vào Bình Thành này. Quan phủ trong thành bên ngoài thì tỏ ra bình tĩnh, nhưng bên trong thì đám nha lại đã bắt đầu bí mật thu vén của cải quý giá chuẩn bị tháo chạy về phương nam rồi. Đất Bình Thành này sắp sửa nổi lên một trận phong ba bão táp ngút trời rồi đấy!"
Lão khất cái thở dài một hơi não nề, rồi lại vỗ vai Chúc Hợp dặn dò thêm: "Chẳng những giặc ngoài rình rập, mà thù trong cũng đang nhung nhúc. Trong đám khất cái và lưu dân chúng ta, có một toán giang hồ do tên Mã Đại cầm đầu, tính tình hung hãn thô bạo, chuyên môn tụ tập đàn em cướp đoạt thức ăn và tiền bạc của những kẻ yếu thế. Lát nữa nhận được cháo xong, tiểu huynh đệ phải mau chóng tìm chỗ vắng mà ăn cho hết, chớ có lảng vảng quanh các góc hẻm tối tăm kẻo bị bọn chúng đánh đập cướp mất phần ăn đấy."
Những lời cảnh báo của lão khất cái như những tia chớp lóe lên xé toạc màn sương mù trong ký ức tiền kiếp của Chúc Hợp. Tên Mã Đại! Đúng rồi, chính là tên đầu sỏ đám ăn mày bặm trợn mà ở kiếp trước đã từng chặn đường cướp bóc chiếc bánh của hắn, nhưng sau đó lại trở thành một vị đại tướng quân dũng mãnh dưới trướng nghĩa quân khởi nghĩa phương bắc! Và quân Hồ xâm lăng, Tạ gia gặp nạn... tất cả những biến cố lịch sử đẫm máu ấy đang từng bước một tiến lại gần, gõ cửa vận mệnh của hắn.
Chúc Hợp cúi đầu nhìn lại bộ trang phục kỳ quặc lấm lem trên người mình, trong lòng vừa buồn cười lại vừa dâng lên một nỗi chua chát khó tả. Thú thật với lòng mình, hắn cũng chẳng hề muốn bản thân biến thành một kẻ lôi thôi lếch thếch, trông chẳng khác nào một gã ăn mày hạ đẳng như thế này. Nhưng nghĩ đến việc kiếp này hắn được ông trời ban cho cơ hội quý giá để làm lại từ đầu, cơ hội để chuộc lại những tội lỗi tày đình kiếp trước đối với Tạ Phác và cưới lại nàng làm vợ hiền, thì dẫu cho có phải chịu đói khát, chịu nhục nhã thảm hại hơn thế này gấp mười lần, gấp trăm lần đi chăng nữa, trong lòng hắn cũng cam tâm tình nguyện chấp nhận mà không một lời than vãn.
Hắn ngước nhìn lên phía trước, dòng người xếp hàng xin cháo vẫn đang nhích từng bước một cách chậm chạp và kiên nhẫn. Nồi cháo nghĩa tình của Tạ phủ ở đằng xa vẫn bốc khói nghi ngút, báo hiệu một hành trình mới đầy gian nan nhưng cũng tràn ngập hy vọng đang mở ra trước mắt hắn. Không có cảnh đẹp để thưởng ngoạn, cũng chẳng có chiếc điện thoại thông minh để giải trí giết thời gian như thời hiện đại, Chúc Hợp khẽ mỉm cười nhã nhặn, chăm chú lắng nghe từng lời của lão khất cái để gom góp thêm những mảnh ghép thông tin vô giá. Hắn biết rất rõ, chỉ trong vài canh giờ nữa thôi, số phận sẽ trao vào tay hắn những ngã rẽ sinh tử, và hắn nhất định phải dùng toàn bộ trí lực và sự quyết tâm của cả hai kiếp người để xoay chuyển càn khôn, mở ra con đường bước chân vào cánh cổng lớn uy nghiêm của Tạ gia.
"Vì sao nàng lại làm như vậy?" Giọng nói của Chúc Hợp run rẩy, khô khốc như tiếng lá rụng giữa trời đông giá buốt, ánh mắt hắn mở trừng trừng nhìn chằm chằm vào người nữ tử đang đứng sừng sững đối diện trước mặt. Người nữ tử ấy chính là thê tử kết tóc của hắn, người mà suốt mấy mươi năm qua người đời vẫn luôn xưng tụng là hiền lương thục đức, nhẫn nhục chịu đựng, chưa từng một lần dám lớn tiếng nơi hậu viện. Nàng đứng đó trong bộ y phục gấm thêu hoa cúc đoan trang, dung nhan thanh tú dù đã vương chút bụi thời gian nhưng đôi mắt phượng lại lạnh lùng tựa băng sương ngàn năm, không hề có lấy một tia gợn sóng dao động.
Tạ Phác khẽ nhếch khóe môi, nở một nụ cười lạnh lẽo đến tận cùng xương tủy, từng chữ từng lời thốt ra như những lưỡi dao sắc nhọn cắm thẳng vào tim can hắn: "Tất cả đều do chàng tự chuốc lấy. Nợ máu trả bằng máu, ân nghĩa đoạn tuyệt, chàng còn mặt mũi nào mà đứng đây chất vấn ta nữa hay sao?"
Cái tát vô hình mà tàn nhẫn ấy kéo theo toàn bộ cơ nghiệp quyền thế, vinh hoa phú quý và cả mạng sống của Chúc Hợp rơi thẳng xuống đáy vực sâu thẳm không đáy. Giữa tiếng sấm sét nổ vang rền trời của cơn giông bão định mệnh, tầm mắt hắn nhạt nhòa dần, cả thế giới sụp đổ thành những mảnh vỡ đen đặc, tiếng gào thét uất nghẹn nghẽn ứ nơi cổ họng rồi tan biến vào hư không tịch mịch.
Thứ đầu tiên đập vào mắt Chúc Hợp khi hắn từ từ mở mi mắt nặng trĩu ra là một vòm trời trong vắt, xanh ngắt đến nao lòng, tựa như một tấm ngọc bích khổng lồ trải dài vô tận không một gợn mây che phủ. Ánh nắng rực rỡ buổi sớm mai xuyên qua từng tán lá rậm rạp của khu rừng già, rọi thẳng vào gương mặt nhợt nhạt của hắn, mang theo hơi ấm nồng nàn của đất mẹ và hương thơm ngai ngái của cỏ cây mục nát sau cơn mưa rừng. Trong khoảnh khắc đầu tiên của sự tỉnh thức, cả người hắn cứng đờ, một luồng sợ hãi mơ hồ từ từ dâng lên bóp nghẹt lấy trái tim, khiến lồng ngực hắn phập phồng kịch liệt.
Hắn khẽ chống hai cánh tay run rẩy xuống lớp cỏ dại ẩm ướt, khó nhọc gượng ngồi dậy nhìn ngắm cảnh vật xung quanh. Nơi này vừa xa lạ hoang vu, lại vừa mang đến cho hắn một cảm giác quen thuộc đến rợn tóc gáy. Hắn cúi đầu nhìn xuống thân thể mình, lập tức sững sờ chết lặng khi thấy chiếc áo sơ mi cộc tay màu trắng ngà cùng chiếc quần tây đen may đo kiểu dáng hiện đại vẫn còn ôm sát người, dưới chân là đôi giày da công sở đã bám đầy bụi đất vàng và những vết trầy xước nham nhở. Đôi bàn tay hắn thon dài, mịn màng, chưa hề có những vết chai sạn của năm tháng cầm bút nghiên mưu lược hay dấu tích của những năm tháng phong sương chinh chiến. Chúc Hợp bàng hoàng nhận ra, đây chính là hình hài của hắn vào cái ngày đầu tiên hắn đặt chân tới thời không cổ đại này, trước khi trải qua hơn bốn mươi năm chìm nổi chốn nhân gian.
Hắn thế mà lại được sống lại lần thứ hai trong đời. Không phải là một giấc mộng dài sau cơn say, cũng không phải là ảo ảnh trước lúc chết, mà thực sự là một cơ hội tái sinh thần kỳ do ông trời rủ lòng thương xót ban tặng.
Vì sao lại dùng từ sống lại lần thứ hai, nguồn cơn sâu xa ấy bắt buộc phải lần giở từ tiền kiếp đầy rẫy những trò cười và sự đê tiện của chính bản thân Chúc Hợp. Ở thế giới hiện đại xa xôi kia, hắn vốn chỉ là một thanh niên xuất thân bình thường, luôn ôm ấp những ảo mộng viển vông về một tương lai giàu sang phú quý. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, hắn cắm đầu học hành thi cử, mong mỏi kiếm được một tấm bằng khá để đổi đời; khi tốt nghiệp ra trường bước vào xã hội, hắn cũng từng liều mạng làm việc thâu đêm suốt sáng, gập lưng cúi đầu trước những lời chửi mắng của cấp trên với hy vọng được thăng chức tăng lương. Thế nhưng số phận lại trêu ngươi một kẻ bất tài vô dụng, vào một ngày thu ảm đạm, hắn bị ông chủ thẳng thừng tống ra khỏi công ty với lý do cắt giảm nhân sự. Cay đắng hơn nữa, ngay buổi chiều hôm đó, người bạn gái mà hắn đã từng yêu thương gắn bó suốt ba năm trời gọi điện thoại đến, tuyên bố chia tay một cách dứt khoát không chút do dự chỉ vì một lý do vô cùng tàn nhẫn: hắn quá nghèo, không có tương lai.
Ôm chiếc hộp giấy đựng vài món đồ dùng cá nhân lèo tèo, Chúc Hợp bơ vơ lê bước trên vỉa hè lạnh ngắt trong làn gió thu se sắt thổi tung những chiếc lá vàng úa. Lòng tự trọng bị giẫm đạp tơi bời, sự bế tắc cùng cực khiến hắn ngửa mặt lên trời một góc bốn mươi lăm độ, toan tìm kiếm một góc công viên hoang vắng nào đó để phát biểu bài diễn văn than thân trách phận, tự cười nhạo thất bại nhục nhã của một kiếp người vô danh tiểu tốt. Trớ trêu thay, ngay khi hắn vừa bước chân xuống lòng đường nơi ngã tư đèn đỏ, một chiếc xe tải mất lái từ đằng xa lao tới với tốc độ kinh hoàng, tiếng còi xe rít lên xé toạc màn sương khói và ánh đèn pha chói lòa đã chấm dứt sinh mạng ngắn ngủi của hắn. Sau vụ va chạm kinh hoàng ấy, linh hồn hắn vinh quang bay vút qua lỗ hổng thời không, xuyên việt tới thế giới phong kiến xa xôi này.
Sau khi xuyên việt đến thời loạn lạc, cuộc đời của Chúc Hợp đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác biệt, đảo lộn nghiêng trời lệch đất. Mang theo tư tưởng ngạo mạn của một kẻ đến từ tương lai, hắn lầm tưởng mình chính là thiên mệnh chi tử, là nhân vật chính của thời đại được ông trời lựa chọn để làm nên nghiệp lớn. Hắn dùng chút khôn lỏi của kẻ hiện đại, tài ăn nói dẻo quẹo và sự giảo hoạt nơi thương trường để làm mê muội lòng người, tự tô vẽ cho bản thân một khí chất bá đạo hào hoa, trở thành đối tượng được không ít nữ nhân săn đón. Đầu tiên, nhờ vào sự may mắn và sự nâng đỡ hết lòng của Tạ viên ngoại ở Bình Thành, hắn đã danh chính ngôn thuận cưới được Tạ Phác - vị đại tiểu thư khuê các nổi danh hiền thục, nết na, đoan trang và thông tuệ hơn người.
Tạ Phác lấy hắn khi hắn chỉ là một kẻ nghèo hèn rách rưới, không một tấc đất cắm dùi, nàng mang theo của hồi môn hậu hĩnh về làm vợ, ngày đêm chăm sóc cơm nước, vun vén hậu viện, phụng dưỡng cha mẹ chồng chu đáo và hết lòng phò trợ cho sự nghiệp của trượng phu. Thế nhưng, khi danh vọng bắt đầu mỉm cười, khi tiền tài và quyền lực trong tay ngày một nhiều thêm, bản chất phong lưu hèn hạ của một gã tra nam trong con người Chúc Hợp bắt đầu trỗi dậy không cách nào kiềm tỏa được. Hắn tự cho rằng nam nhân năm thê bảy thiếp ở thời đại phong kiến là lẽ đương nhiên, là biểu tượng của thành công và bản lĩnh. Hắn bắt đầu rước về nhà hết nàng thiếp này đến ả hầu môn khác, dung túng cho đám sủng thiếp xinh đẹp ngang tàng lấn lướt chính thất, xem sự nín nhịn chịu đựng của Tạ Phác như một điều hiển nhiên, thậm chí còn lạnh nhạt ruồng rẫy nàng trong những đêm trăng cô quạnh nơi hậu viện hoang vắng.
Hắn nhớ lại những đêm đông giá rét buốt thấu xương tủy của kiếp trước, khi hắn say sưa trong vòng tay nũng nịu của những ả thiếp hầu phấn son nồng nặc nơi tây sương phòng, thì ở gian chính viện tĩnh mịch lạnh lẽo, Tạ Phác vẫn ngồi một mình bên ngọn đèn dầu le lói sắp cạn. Nàng lặng lẽ may vá từng đường kim mũi chỉ, chuẩn bị từng chiếc áo bông dày dặn cho hắn mặc khi lên triều, từng đôi tất ấm để hắn không bị cóng chân khi cưỡi ngựa. Có những đêm mưa dầm rả rích, nàng đứng đợi hắn trước bậc thềm đá suốt nhiều canh giờ liền, chỉ để trao vào tay hắn một bát canh gừng giải rượu ấm nóng, đổi lại chỉ là ánh mắt hờ hững xua đuổi và những lời cáu gắt vô cớ từ một kẻ trượng phu đốn mạt. Sự hiền huệ, tấm lòng bao dung và đức hy sinh vô bờ bến của nàng lại bị hắn coi như sự nhu nhược dễ bắt nạt, biến nàng thành cái bóng mờ nhạt cam chịu đứng sau lưng vinh quang ngập tràn của hắn.
Hắn ngỡ rằng một người phụ nữ đoan trang, nhu mì như Tạ Phác sẽ mãi mãi cam chịu số phận, ngỡ rằng sự im lặng nhẫn nhục của nàng là minh chứng cho sự bất lực. Hắn đã lầm, một sai lầm chết người mà phải trả giá bằng cả tính mạng. Tạ Phác nhẫn nhịn suốt mấy mươi năm không phải vì nàng yếu hèn, mà vì nàng đang âm thầm ghi nhớ từng món nợ ân oán, chờ đợi thời cơ thích hợp để tung ra một đòn sấm sét đoạt mạng. Đến ngày Chúc Hợp bước lên đỉnh cao danh vọng tột bực, tưởng chừng như sắp chạm tay vào tước vị công hầu vinh hiển muôn đời, thì cũng chính là lúc Tạ Phác đứng ra vạch trần toàn bộ những mưu mô dơ bẩn, những bằng chứng cấu kết tạo phản và sự dối trá của hắn trước mặt các thế lực đương quyền. Nàng lạnh lùng giáng cho hắn một cái tát trời giáng, đẩy hắn ngã nhào từ trên đỉnh mây xanh xuống vực sâu nhục nhã, biến hắn thành kẻ phản bội vạn người phỉ nhổ, mất hết tất cả thuộc hạ, quyền lực và tài sản trong chớp mắt.
Chúc Hợp bị phế truất, giam cầm rồi uất ức buông xuôi mạng sống nơi ngục tối lạnh lẽo. Giây phút nhắm mắt xuôi tay, hình ảnh cuối cùng in sâu trong tâm khảm hắn không phải là quyền uy tột đỉnh hay nụ cười của đám ái thiếp lẳng lơ, mà chính là ánh mắt bi thương đến tột cùng nhưng cũng cương nghị sắt đá của Tạ Phác. Hắn chết đi trong nỗi dằn vặt, ân hận xé nát tâm can.
Ấy vậy mà giờ đây, khi mở mắt ra lần nữa, hắn lại thấy mình đang nằm trên bãi cỏ quen thuộc của cánh rừng ven thành Bình Thành. Hắn đã quay trở lại đúng vào cái ngày đầu tiên của hơn bốn mươi năm về trước, cái ngày hắn vừa xuyên việt đến mảnh đất này.
Chúc Hợp ngồi yên bất động giữa rừng sâu tĩnh mịch, hai bàn tay nắm chặt lấy vạt áo sơ mi lấm lem đến mức khớp ngón tay trắng bệch ra. Từng hình ảnh của tiền kiếp cuồn cuộn ùa về trong tâm trí như những thước phim quay chậm, rõ mồn một đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Càng nghĩ sâu về những việc mình đã từng làm sau khi xuyên qua, hắn lại càng thấy căm phẫn, ghê tởm chính bản thân mình đến tột độ. Trời ơi, sao ở kiếp trước hắn lại có thể đê hèn, vô liêm sỉ và mù quáng đến mức độ như vậy! Một người thê tử tốt đẹp như Tạ Phác, sẵn lòng đồng cam cộng khổ khi hắn khốn khó nhất, vì hắn mà hy sinh cả thanh xuân danh dự, vậy mà hắn lại lấy oán báo ân, chà đạp lên tấm chân tình của nàng để chạy theo những thú vui xác thịt tầm thường và thói phù hoa giả tạo. Hắn giơ tay tát thẳng vào má mình một cái thật mạnh, tiếng tát giòn giã vang lên xua tan sự tĩnh lặng của khu rừng, cơn đau rát nơi gò má khiến hắn tỉnh táo hơn bao giờ hết.
"Chúc Hợp ơi là Chúc Hợp, kiếp trước ngươi sống như một con súc sinh, phụ bạc tấm lòng người vợ kết tóc, chết đi là hoàn toàn xứng đáng." Hắn lẩm bẩm trong miệng, giọng nghẹn ngào vì những giọt nước mắt nóng hổi bất giác trào ra lăn dài trên má. Thế nhưng, trời xanh đã không triệt đường sống của con người, lại ban cho hắn một cơ hội thứ hai để làm lại cuộc đời từ đống tro tàn đổ nát. Hắn quỳ rạp người xuống nền đất ẩm ướt, dập đầu ba cái thật mạnh xuống thảm cỏ rừng, trán chạm vào bùn đất lạnh giá mà trong lòng lại bùng cháy một ngọn lửa quyết tâm mãnh liệt: "Ông trời có mắt đã cho con sống lại lần nữa. Đời này kiếp này, Chúc Hợp ta xin thề với trời đất thần linh, ta tuyệt đối sẽ không bao giờ giẫm lại vết xe đổ dơ bẩn của kiếp trước. Ta sẽ từ bỏ hoàn toàn thói phong lưu vô lại, chỉ chung tình trọn vẹn với một mình Tạ Phác, dùng cả tính mạng này để bảo vệ nàng, bù đắp cho nàng, và danh chính ngôn thuận cưới nàng về làm thê tử duy nhất của đời ta."
Sau khi trút bỏ hết nỗi nghẹn ngào u uất trong lòng, Chúc Hợp chậm rãi đứng dậy, đưa tay phủi sạch những vụn cỏ khô và bụi đất còn vương trên ống quần tây. Hắn bắt đầu dậm dậm hai chân, vươn vai xoay người để thư giãn gân cốt đang rã rời sau một thời gian dài nằm bất động trên nền đất lạnh. Cơn gió thu thoảng qua làm hắn rùng mình ớn lạnh, nhắc nhở hắn quay trở về với thực tại nghiệt ngã trước mắt.
Kinh nghiệm sống suốt hơn bốn mươi năm ở thời cổ đại mách bảo hắn rằng, việc cấp bách hàng đầu lúc này là phải nhanh chóng tìm cách thay đổi y phục trên người. Bộ âu phục bằng vải sợi tổng hợp cùng chiếc áo sơ mi cộc tay và mái tóc ngắn cũn cỡn này hoàn toàn lạc lõng giữa bối cảnh phong kiến. Nếu hắn cứ thế này mà nghênh ngang bước ra ngoài đường lớn, người dân bản địa chắc chắn sẽ coi hắn là kẻ điên loạn, là yêu ma quỷ quái từ phương nào trôi dạt tới, hoặc tệ hơn nữa là bị quan phủ nghi ngờ là gian tế dị bang mà bắt giam vào đại lao tra tấn khảo đả.
Ở kiếp trước, khi vừa mới xuyên qua, Chúc Hợp ngây ngô chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra. Hắn còn ngây thơ tự hỏi rất lâu, thầm nghĩ chẳng lẽ gã tài xế lái xe tải đâm phải hắn sợ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, sợ phải đi tù nên đã lén lút chở xác hắn vứt vào nơi rừng sâu núi thẳm hoang vu này để phi tang. Mãi cho đến khi hắn vất vả lần mò ra khỏi rừng, nhìn thấy những con người mặc áo ngắn quần thô, đầu vấn khăn hoặc búi tóc như trong các bộ phim truyền hình cổ trang, nghe thứ thổ ngữ lơ lớ khó hiểu, hắn mới bàng hoàng vỡ lẽ ra rằng mình đã rơi ngược dòng thời gian về thời quá khứ xa xôi.
Lần này sống lại, Chúc Hợp không một đồng dính túi, hai bàn tay trắng trơn, muốn tìm một tiệm vải hay tiệm may để mua một bộ quần áo vải thô đàng hoàng cũng là chuyện hoàn toàn bất khả thi. Cách duy nhất mà hắn có thể tính toán lúc này chính là lục tìm trên thi thể của những người bất hạnh qua đời ven đường để nhặt tạm một mảnh áo lành lặn che thân.
Nghĩ đến đây, Chúc Hợp không khỏi thở dài ngao ngán cho cái vận số hẩm hiu của mình. Từ lúc bắt đầu dính vào cái trò xuyên không này, vận may của hắn chưa bao giờ được xem là tốt đẹp. Người ta xuyên không thì vào cung làm hoàng tử vương gia, hoặc chí ít cũng là công tử thế gia ngậm thìa vàng từ trong trứng nước, còn hắn thì rơi đúng vào giai đoạn đen tối, hỗn loạn và bi thảm bậc nhất trong lịch sử: thời kỳ mạt triều của vương triều nhà Tống.
Vào những năm tháng này, Đại Tống đang bước vào giai đoạn suy tàn không thể cứu vãn, chỉ còn kéo dài một hơi tàn thoi thóp chừng hơn một trăm năm trước khi hoàn toàn bị vó ngựa ngoại bang giày xéo tiêu diệt. Triều đình nam di yếu hèn mục nát, quan lại tham ô nhũng nhiễu bóc lột dân chúng đến tận xương tủy, giặc cướp nổi lên như nấm sau mưa ở khắp các châu huyện. Người Hán chỉ còn lại nửa giang sơn gãy đổ, biên cương phía bắc ngày đêm đối mặt với sự đe dọa xâm lăng tàn khốc của các bộ tộc du mục phương bắc hung hãn. Bách tính khắp nơi rơi vào cảnh nhà tan cửa nát, tha phương cầu thực, dắt díu nhau chạy nạn nay đây mai đó trong cảnh đói rét cùng cực. Chiến loạn liên miên hoành hành khiến cho việc nhìn thấy người chết nằm la liệt bên vệ đường đã trở thành một cảnh tượng quá đỗi bình thường, quen thuộc đến mức lạnh tanh lòng người. Bách tính nghèo khổ đến mức ngay cả manh áo rách trên người của kẻ đã khuất cũng bị những kẻ sống sót lột sạch để chống chọi với cái rét cắt da cắt thịt, bỏ mặc thi thể trần truồng phơi sương phơi nắng nơi đồng hoang cỏ dại cho kền kền rỉa thịt.
Mục tiêu ban đầu của Chúc Hợp lúc này chính là tìm kiếm những thi thể bách tính phơi thây nơi hoang dã đó, hy vọng nhặt nhạnh được một manh áo vải thô hay một tấm vải vụn nào đó để khoác lên người che đậy bộ tây trang kỳ quái.
Chúc Hợp khẽ cúi nhìn đôi giày da dưới chân. Bộ âu phục này từng là thứ tài sản quý giá nhất của hắn ở thời hiện đại, là bộ cánh hắn dành dụm cả tháng lương để mua phục vụ cho những buổi phỏng vấn xin việc, nhưng sau hơn bốn mươi năm quen thuộc với áo dài tay rộng, vạt chéo quần thô của chốn cổ phong, giờ đây mặc lại bộ đồ này hắn chỉ cảm thấy gò bó, chật chội và xa lạ vô cùng.
Hắn bắt đầu cất bước chậm rãi đi trên bãi cỏ dại, tìm đường xuyên qua khu rừng rậm rạp. Rừng cây vào thu rụng lá vàng xơ xác, những cành gai góc tua tủa vươn ra như những cánh tay ma quỷ cào xé vào tay áo sơ mi mỏng manh của hắn. Hắn đã cắm cúi đi bộ suốt nửa canh giờ đồng hồ mà bốn bề vẫn chỉ là những thân cây cổ thụ cao vút, tiếng chim rừng kêu quang quác thê lương trên ngọn cây càng làm tăng thêm vẻ hoang vu tịch mịch. Đôi giày da công sở của hắn vốn chỉ là loại hàng mã rẻ tiền mua ở chợ sinh viên, đế cao su cứng nhắc và phom dáng chật hẹp. Dù chân hắn có đi tất sợi mỏng, nhưng sau một quãng đường dài leo dốc vượt suối, gót chân và mu bàn chân đã bắt đầu phồng rộp lên những nốt mụn nước đỏ ửng, bỏng rát và đau nhức đến thấu xương theo từng nhịp bước.
Cơn khát khô cằn bắt đầu thiêu đốt cuống họng hắn, khiến từng hơi thở phả ra đều mang theo vị đắng ngắt của sự kiệt sức. Chúc Hợp phải lần mò men theo tiếng róc rách của một khe suối cạn giữa khe đá rêu phong, khom lưng vục hai bàn tay múc lấy từng ngụm nước suối trong vắt mát lạnh để thấm ướt bờ môi nứt nẻ và làm dịu đi cơn khát cháy bỏng trong cổ họng. Ngụp một ngụm nước suối mát lành, hắn cảm thấy đầu óc tỉnh táo lại đôi phần, nhưng đôi chân thì dường như đã không còn là của mình nữa. Mỗi lần bước một bước đi, da thịt non nớt cọ xát với lớp lót giày cứng đơ như đá tảng lại khiến hắn hít vào từng ngụm khí lạnh vì đau đớn.
Bốn phía xung quanh vẫn là một màu xanh ngắt thăm thẳm của cây cối không thấy lối ra. Chúc Hợp dừng chân tựa lưng vào một gốc cây xù xì, thở dốc từng hơi mệt nhọc. Hắn cúi xuống, cởi phăng đôi giày da cứng nhắc ra cầm trên tay, thà để đôi chân chỉ mang lớp tất đen mỏng manh giẫm lên lớp thảm lá mục êm ái còn đỡ đau đớn hơn bội phần. Cứ thế, một tay xách giày, một tay gạt những cành cây chắn ngang mặt, hắn kiên trì nhắm hướng mặt trời lặn mà lê từng bước về phía trước.
Phải mất thêm gần một canh giờ nữa, ánh sáng chói chang từ khoảng trống phía trước mới rọi vào mắt hắn, báo hiệu đã ra đến bìa rừng. Chúc Hợp bước chân ra khỏi bóng râm u ám của cây cối, một lần nữa đặt chân lên con đường đất vàng rộng lớn chạy dài tít tắp. Đứng trên con đường thiên lý này, hắn khẽ thở phào nhẹ nhõm, cả thể xác lẫn tinh thần dường như đều được giải tỏa đôi chút sau chuỗi thời gian ngột ngạt trong rừng sâu. Thế nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, đúng lúc đó, một cơn gió thu hanh hao quét qua mặt đất, cuốn theo bụi đường mù mịt tạt thẳng vào mặt hắn, khiến Chúc Hợp không kịp đề phòng, hít trọn một ngụm đầy bụi cát khô khốc vào khí quản, ho sặc sụa đến đỏ gay cả mặt mày, nước mắt nước mũi giàn giụa.
Hắn vội vàng giơ cánh tay áo lên che mặt, chờ cho cơn gió lốc cuốn bụi cát đi xa mới dám thở hắt ra một hơi dài, đưa bàn tay run rẩy lên quệt sạch lớp bụi đất bám đầy trên mặt và khóe miệng. Nhìn con đường đất dài hun hút không một bóng trạm nghỉ, Chúc Hợp thầm nghĩ trong lòng, hắn thực sự không muốn nấn ná ở cái chốn quỷ quái hoang tàn này thêm một khắc nào nữa.
Chúc Hợp xốc lại tinh thần, xỏ tạm đôi chân trần vào lại đôi giày da rách rồi bắt đầu rảo bước hướng về phía thành Bình Thành. Con đường thiên lý này vốn là trục lộ giao thông nối liền các vùng phụ cận với Bình Thành, nhưng cảnh tượng phơi bày trước mắt hắn lúc này lại thê lương và rùng rợn đến gai người. Cứ đi được chừng vài trăm bước, ở hai bên bờ mương hay dưới những bụi cỏ khô cằn cỗi ven đường, hắn lại nhìn thấy đủ loại xác chết vô danh nằm rải rác trơ trọi. Những thi thể ấy có già có trẻ, sắc mặt ai nấy đều xanh xao vàng vọt, thân hình gầy yếu trơ xương đến mức da bọc lấy khung xương sườn nhô lên nham nhở, cả người teo tóp lại không biết có nổi hai lạng thịt hay không. Mười xác chết thì đến cả mười đều giống hệt nhau ở một điểm: trên người họ không sót lại một mảnh vải vụn nào che thân, toàn bộ quần áo chắc chắn đã bị đám người chạy nạn hoặc đám khất cái đi ngang qua gom lấy từ lâu để giữ ấm.
Có những thi thể là của những người phụ nữ gầy trơ xương, hai bàn tay co quắp vẫn ôm chặt lấy thi hài một đứa trẻ sơ sinh đã tím tái từ bao giờ; có những thi thể là của những ông lão râu tóc bạc phơ nằm gối đầu lên chiếc nón rách rưới nát vụn; lại có những xác chết mang trên mình những vết chém sâu hoắm của đao kiếm loạn quân, máu đen đã đông cứng lại thu hút từng đàn ruồi bọ bu kín vo ve ghê rợn. Tiếng quạ đen đậu trên những cành cây khô trơ trụi cất lên từng tiếng kêu thê lương ai oán, chọc thủng bầu không khí u tịch của buổi chiều tà. Nhìn cảnh tượng tang thương ấy, trong lòng Chúc Hợp dâng lên một nỗi xót xa vô hạn cho số phận của bách tính người Hán. Một triều đại từng có thời phồn hoa đô hội bậc nhất thế giới, từng rực rỡ với thi ca, gốm sứ và những dòng sông tấp nập thuyền bè ngược xuôi ở Biện Kinh ngàn năm hoa lệ, nay chỉ vì triều đình nhu nhược suy tàn mà rơi vào cảnh nước mất nhà tan, biến giang sơn gấm vóc thành một bãi tha ma khổng lồ không người chôn cất.
Kiếp trước, khi mới chân ướt chân ráo xuyên không tới đây, lần đầu tiên tận mắt chứng kiến một xác người chết đói nằm co quắp bên đường, Chúc Hợp đã hoảng loạn đến mức ngã ngửa ra sau, mặt cắt không còn giọt máu, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Hắn khi ấy còn ngây thơ nghĩ rằng đây là một vụ án mạng giết người cướp của nghiêm trọng, cuống cuồng muốn chạy đi tìm nha môn quan phủ để báo án cầu cứu. Thế nhưng, khi đi tiếp một đoạn đường nữa, liên tiếp nhìn thấy thi thể thứ hai, thứ ba, rồi đến hàng chục xác người chết nằm la liệt thối rữa dưới ánh nắng mà chẳng có lấy một bóng người đoái hoài chôn cất, nỗi sợ hãi ban đầu trong lòng hắn dần dần bị thay thế bằng sự kinh hoàng tột độ, rồi cuối cùng hóa thành một cảm giác tê dại, chết lặng đến xót xa.
Khi ấy, hắn từng vô cùng kích động và mừng rỡ khi bắt gặp được người sống đầu tiên trên đường, vội vã chạy lại gần để bắt chuyện làm quen. Nhưng khi đối phương cất tiếng nói bằng thứ thổ ngữ địa phương cổ xưa lơ lớ, âm điệu xa lạ lơ lửng, kèm theo ánh mắt cảnh giác, vô hồn và sợ sệt nhìn chằm chằm vào hắn, Chúc Hợp mới thực sự rơi vào vực sâu của sự hoang mang tột bực. Hắn không biết mình là ai, đang ở đâu, và phải trưng ra vẻ mặt hay thái độ như thế nào mới có thể hòa nhập vào cái thế giới tàn khốc đầy rẫy chết chóc này.
Quay trở lại với thực tại hôm nay, đứng trước những thi thể bất hạnh nằm rải rác bên vệ đường, gương mặt Chúc Hợp đã không còn nét kinh hãi non nớt của gã thanh niên hiện đại năm nào. Hắn mặt không đổi sắc bước chầm chậm qua từng xác chết, ánh mắt trầm tĩnh nhưng chất chứa sự xót thương vô hạn cho số phận bèo bọt của bách tính thời loạn. Hắn cẩn thận cúi xuống kiểm tra tỉ mỉ quanh mấy bụi rậm, nhưng quả thực chẳng còn sót lại bất kỳ mảnh áo quần lành lặn nào có thể tận dụng được. Hắn khẽ thở dài, chấp tay niệm một câu cầu siêu trong tâm khảm rồi tiếp tục cất bước tiến về phía trước.
Đi thêm chừng vài dặm đường nữa, khung cảnh bắt đầu có sự thay đổi. Các xác chết bên đường thưa thớt dần rồi biến mất hoàn toàn, bởi đây là khu vực phụ cận gần cổng thành, quan phủ địa phương đã cho sai dịch và phu phen kéo xe bò ra thu dọn, chở xác người đi chôn cất ở những hố chôn tập thể ngoài bãi tha ma để tránh bùng phát dịch bệnh mùa thu. Dẫu vậy, vận may vẫn chưa mỉm cười với Chúc Hợp, hắn hoàn toàn không tìm được bộ quần áo nào để thay thế. Chiếc áo sơ mi trắng trên người hắn sau một chặng đường dài len lỏi qua gai rừng, hít trọn bụi cát và đẫm ướt mồ hôi chua chát đã bị rách nát tả tơi ở hai bên vai và vạt áo, lấm lem bùn đất và những vệt ố vàng, khiến cho nó biến dạng hoàn toàn, chẳng còn giữ lại được chút dáng vẻ thanh lịch nào của một món đồ hiện đại nữa.
Đôi chân hắn lúc này thực sự đã lâm vào tình cảnh vô cùng khốn khổ. Giữa đường đi, đôi giày da rách đế đã hoàn toàn bung bét không thể xỏ vào được nữa, Chúc Hợp đành phải dứt khoát vứt phăng nó vào một bụi cỏ gai bên đường, chỉ còn giữ lại đôi tất đen bảo vệ bàn chân. Thế nhưng sau quãng đường cuốc bộ hơn mười dặm giẫm đạp lên sỏi đá và đất cát gồ ghề, đôi tất đen cũng đã bị mài mòn rách bươm xơ xác, mũi tất rách toạc để lộ hai ngón chân cái thò hẳn ra ngoài, gót chân cũng toạc ra từng mảng lớn tiếp xúc trực tiếp với nền đất ráp. Cát sỏi cọ xát vào những vết phồng rộp vỡ toét làm máu tươi rỉ ra, thấm đẫm vào sợi vải rồi khô quắt lại thành những mảng nâu sẫm dính chặt vào da thịt, mỗi một bước hạ chân xuống là một lần toàn thân hắn run lên bần bật vì đau buốt tận óc.
Cái bụng đói sau một ngày dài không có lấy một hạt cơm lót dạ bắt đầu réo lên từng hồi dữ dội, dạ dày quặn thắt lại như có ai dùng tay bóp nghẹt. Cơn đói cồn cào làm mắt hắn thỉnh thoảng lại hoa lên, từng đốm sao vàng chập chờn trước mặt, bước chân xiêu vẹo tưởng chừng như có thể đổ gục xuống bất cứ lúc nào. Thế nhưng, mỗi khi ý nghĩ muốn buông xuôi nhen nhóm xuất hiện, hình bóng thanh tao đoan trang cùng ánh mắt phượng u buồn nhưng cương nghị của Tạ Phác kiếp trước lại hiện lên rõ mồn một trong tâm trí hắn. Hắn nhớ đến nụ cười dịu dàng của nàng, nhớ đến những ân tình mà cả đời hắn chưa trả hết, và ngọn lửa quyết tâm trong lồng ngực lại bùng cháy dữ dội, tiếp thêm cho hắn sức mạnh phi thường để cắn chặt răng, nuốt ngược máu và nước mắt vào trong mà lê bước tiếp tục tiến về phía trước.
Cuối cùng, sau hơn hai canh giờ cuốc bộ mệt mỏi rã rời, hình bóng sừng sững của thành Bình Thành cũng hiện ra rõ nét nơi cuối chân trời. Những bức tường thành xây bằng đá tảng màu xám tro rêu phong cổ kính vươn cao sừng sững giữa nền trời thu, mang theo những dấu vết loang lổ của đao kiếm và khói lửa chiến tranh từ những cuộc vây hãm trong quá khứ. Cổng thành vòm cuốn rộng lớn mở toang, bên trên cổng chính khắc sâu hai chữ Bình Thành bằng lối chữ triện cổ xưa đầy phóng khoáng, uy nghiêm và trầm mặc.
Chúc Hợp dừng bước trước cửa ngõ dẫn vào thành phố, đưa tay áo quệt mồ hôi trên trán. Nhìn hai chữ Bình Thành khắc sâu trên vách đá kia, một cảm giác chua xót, bùi ngùi và nặng nề khôn xiết bỗng trào dâng nghẹn ứ nơi cổ họng hắn. Bình Thành ơi Bình Thành, đây chính là mảnh đất nơi kiếp trước hắn đã từng gắn bó suốt hơn bốn mươi năm cuộc đời, nơi hắn từ một kẻ không xu dính túi từng bước leo lên đỉnh cao danh vọng, nơi hắn được Tạ gia cưu mang che chở, và cũng chính là nơi hắn đã gây ra bao nỗi đau đớn, uất ức tột cùng cho người vợ hiền Tạ Phác. Bao nhiêu ân oán tình thù, bao nhiêu vinh nhục của một đời người đều bắt đầu và kết thúc tại chính cái cổng thành đá xám này.
Lúc này, trước cổng thành, dòng người ra vào buôn bán và dòng người chạy nạn từ khắp các ngả đường đang đổ về nườm nượp, tạo nên một khung cảnh ồn ào hỗn tạp. Chúc Hợp cố gắng lờ đi những ánh mắt tò mò, ngạc nhiên xen lẫn dè chừng của những người xung quanh đang đổ dồn về phía mình. Hắn hít một hơi thật sâu, sửa lại vạt áo rách rồi khập khiễng cất bước tiến về phía vòm cổng thành.
Thế nhưng, hắn mới vừa bước đi chưa đầy hai bước, một tiếng quát tháo the thé đầy uy quyền đã vang lên xé toạc không gian: "Đứng lại! Tên kia, đứng yên tại chỗ cho ta!"
Kèm theo tiếng quát tháo ấy là tiếng kim loại va chạm lách cách sắc lạnh. Hai tên quan binh mặc giáp trụ bằng da thuộc, tay lăm lăm cầm trường thương và đại đao lập tức sải bước tiến tới, mũi thương sắc nhọn chĩa thẳng vào ngực Chúc Hợp, chặn đứng đường đi của hắn lại.
Sự ngăn trở này âu cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu và nằm trong dự liệu của Chúc Hợp. Giữa thời buổi loạn lạc khói lửa ngập trời, một kẻ lạ mặt xuất hiện với mái tóc ngắn cũn cỡn không búi tó như phạm nhân vừa trốn khỏi trại lưu đày, trên người lại khoác một bộ y phục kỳ dị không ra áo dài cũng chẳng ra khố rách, ống quần bó sát kỳ quặc, nếu là ở những vùng biên ải thiết quân luật gắt gao hơn, đám lính thú chưa lập tức trói gô hắn lại tống vào ngục tối thẩm vấn khảo đả đã là một sự may mắn tột cùng của số phận.
Bị quan binh chĩa mũi đao ngăn lại ngay trước cửa thành, ngoài mặt Chúc Hợp khẽ giật mình làm ra vẻ sợ hãi và sửng sốt như một kẻ bần hàn lương thiện, thế nhưng trong tiềm thức sâu thẳm, một thói quen cố hữu từ tiền kiếp bỗng trỗi dậy khiến hắn suýt chút nữa nhíu mày nghĩ thầm trong bụng: kẻ nào to gan dám cả gan cản đường bản quan. Thế nhưng chỉ trong một cái chớp mắt, một tia lạnh lẽo chạy dọc sống lưng đã kéo hắn quay phắt trở về với hiện thực tàn nhẫn: hắn của hiện tại không còn là vị đại quan quyền uy khuynh đảo triều dã của kiếp trước nữa. Hắn hiện tại chỉ là một kẻ vừa mới sống lại lần thứ hai, nghèo rớt mồng tơi, thân phận thấp hèn tựa như một con kiến hôi ven đường, đám quan binh trước mặt này muốn chém chết hắn hay vứt xác hắn ra ngoài bãi tha ma cũng chỉ dễ dàng như bẻ gãy một cành củi khô mà thôi.
Ý thức được vị thế của mình, Chúc Hợp lập tức thu liễm toàn bộ ngạo khí, ngoan ngoãn dừng hẳn bước chân, đứng yên tại chỗ chắp hai tay buông thõng, cúi đầu chờ đợi sự tra hỏi của thủ vệ.
Tên quan binh dẫn đầu tiến lên một bước, đảo cặp mắt ti hí sắc lẹm soi mói từ đầu đến chân Chúc Hợp, từ mái tóc ngắn cũn cỡn đến chiếc áo sơ mi rách bươm và đôi chân trần lem luốc, cất giọng ồm ồm quát hỏi: "Ngươi là kẻ nào? Từ đâu chạy đến đây? Tại sao hình dong đầu tóc lại quái đản, dị hợm như phường yêu đạo thế này?"
Chúc Hợp đã từng sống ở thời đại này hơn bốn mươi năm trong kiếp trước, thứ tiếng địa phương của vùng này hắn đã nói sõi đến mức chẳng khác nào người bản xứ, huống hồ năng khiếu ngôn ngữ và tài ứng biến của hắn vốn dĩ vô cùng nhạy bén và giảo hoạt. Những quy tắc ứng xử, điển tích văn chương, cho đến phong tục tập quán của bách tính thời mạt Tống hắn đều đã nghiên cứu kỹ lưỡng và nắm rõ như lòng bàn tay. Huống chi, Bình Thành chính là nơi hắn từng gắn bó cả nửa đời người, từng con đường ngõ hẻm hắn đều thuộc làu làu.
Hắn khẽ ngẩng đầu lên, nét mặt lộ vẻ bi thương tột cùng nhưng cử chỉ lại vô cùng nhã nhặn, chắp hai tay lại trước ngực thi một lễ cung kính theo đúng khuôn phép của kẻ sĩ thư hương thời bấy giờ, rồi cất giọng trầm ấm, chậm rãi giãi bày: "Khởi bẩm tráng sĩ quân gia, tại hạ vốn là một hàn nho nhân sĩ xuất thân từ vùng Giang Đông. Quê nhà gặp phải thiên tai binh lửa, gia cảnh ly tán, tại hạ đành phải dắt díu tìm đường lên phương bắc lánh nạn. Chẳng may trên đường thiên lý hiểm trở, bất hạnh đụng độ phải một toán sơn tặc thảo khấu hung tợn chặn đường cướp bóc. Bọn chúng đã cướp sạch toàn bộ hành lý, lộ phí và cả giấy tờ tùy thân của tại hạ, xé rách y phục, đánh đập đuổi cùng giết tận. Tại hạ liều mạng nhảy xuống hẻm núi trốn vào rừng sâu mới giữ được tính mạng này mà bò tới đây, hiện tại trên người thực sự không còn lấy một đồng dính túi, đầu tóc y phục cũng vì thế mà tơi tả nhếch nhác, cúi xin quân gia rủ lòng thương xót soi xét cho nỗi oan khổ của kẻ bần nho."
Lời nói của Chúc Hợp thốt ra vô cùng trôi chảy, âm điệu Giang Đông chuẩn mực nhẹ nhàng, từng câu từng chữ đều mang đậm chất văn phong của một người có học thức, hoàn toàn khác biệt với những lời cãi vã thô tục của đám dân đen ít học. Hơn nữa, toàn thân hắn lúc này quả thực thảm hại đến mức không thể thảm hại hơn được nữa. Khuôn mặt hắn bị phủ kín một lớp bụi đất vàng và nhọ than lem luốc, mái tóc bù xù bết dính mồ hôi, chiếc áo sơ mi trắng biến thành màu cháo lòng rách toang lộ cả da thịt gầy guộc, chỉ còn lại đôi tròng mắt sáng ngời và hàm răng trắng bóc lộ ra mỗi khi cất lời thanh minh.
Chiếc áo sơ mi vốn dĩ sạch sẽ tinh tươm thời hiện đại giờ đây đã bị cành cây rừng cào xé rách nát, vạt áo tả tơi buông thõng chẳng khác nào chiếc áo giáp rách của lính bại trận. Trước đó, trên con đường đất dài dằng dặc dẫn tới Bình Thành, đôi giày da công sở cứng quắc đã làm bàn chân hắn phồng rộp chảy máu, khiến hắn không thể chịu đựng thêm được nữa mà phải ném phăng đôi giày đi từ giữa đường, chỉ giữ lại đôi tất đen bảo vệ bàn chân. Thế nhưng sau quãng đường dài giẫm đạp lên sỏi đá và đất cát gồ ghề, đôi tất đen cũng đã bị mài mòn rách bươm xơ xác, hai ngón chân cái cùng gót chân rách toang thò hẳn ra ngoài, dính đầy bụi cát và những vệt máu tươi đã khô quắt lại thành màu nâu sẫm. Chiếc quần tây đen cũng bị cào rách nhiều chỗ ở đầu gối, biến hắn thành một kẻ có vẻ ngoài chẳng khác nào một gã ăn mày chuyên nghiệp vừa thoát chết sau một trận đòn chí mạng.
Giữa thời buổi thiên hạ đại loạn, bách tính tha phương cầu thực khắp nơi, cảnh ngộ những thư sinh nho nhã bị giặc cướp lột sạch đồ đạc rồi lưu lạc đến Bình Thành vốn không phải là chuyện hiếm thấy. Những dòng người đang lũ lượt qua lại cổng thành ai nấy đều mang vẻ mặt chết lặng, mệt mỏi và âu sầu, y phục trên người cũng đều chắp vá nhếch nhác bụi bặm.
Điều khiến hai tên quan binh giữ cổng thực sự chú ý và dần dịu bớt vẻ hung hãn chính là phong thái đĩnh đạc khác thường của Chúc Hợp. Dù đang khoác trên mình một bộ dạng rách rưới thảm hại như ăn mày, nhưng từ ánh mắt điềm tĩnh, nụ cười nhã nhặn đến từng động tác chắp tay thi lễ của hắn đều toát lên cốt cách tao nhã của một bậc văn nhân đèn sách từng dùi mài kinh sử. Hơn bốn mươi năm rèn luyện chốn quan trường kiếp trước đã thấm sâu vào từng cử chỉ, lời nói của hắn, giúp hắn hoàn toàn rũ bỏ được vẻ lố lăng kệch cỡm của một kẻ ngoại lai.
Hắn vẫn còn nhớ rất rõ, ở kiếp trước khi vừa mới xuyên không tới đây, hắn đã nói chuyện với quan binh bằng cái giọng điệu cợt nhả của thời hiện đại, xưng hô lung tung, tay chân vung vẩy ngạo mạn. Khi ấy, người ta nhìn hắn chẳng khác gì một tên lưu manh vô lại nơi đầu đường xó chợ, không hiểu chút gì về lễ nghi phép tắc. Giờ đây nghĩ lại dĩ vãng, Chúc Hợp không khỏi thầm cảm thán và tự hỏi, ở kiếp trước, khi nhạc phụ Tạ Thành quyết định gả người con gái rượu hiền lương thục đức Tạ Phác cho một gã lưu manh ăn nói hàm hồ như hắn, rốt cuộc vị nhạc phụ cương trực ấy đã phải chịu đựng bao nhiêu áp lực và hạ bao nhiêu quyết tâm dũng khí mới làm được điều đó.
Tên quan binh thủ vệ sau khi nghe những lời đối đáp lưu loát, thấu tình đạt lý và nhìn thấy phong thái nho nhã của Chúc Hợp thì ngọn lửa nghi ngờ trong lòng lập tức tan biến. Hắn khẽ thu hồi đại đao lại, đưa tay vuốt chòm râu ngắn lởm chởm trên cằm, gật đầu lẩm bẩm: "Hóa ra là một vị tiên sinh gặp nạn nơi đất khách quê người. Thời buổi giặc giã này, lũ thảo khấu lộng hành khắp nơi, giữ được cái mạng trốn đến Bình Thành an toàn đã là phúc đức lớn rồi."
Nói đoạn, tên quan binh phất mạnh tay áo sang một bên, ra hiệu cho thuộc hạ dẹp đường rồi bảo: "Được rồi, thân phận đã rõ ràng, ngươi có thể vào thành."
Chúc Hợp khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm, trên mặt nở một nụ cười ấm áp, cung kính cúi đầu chắp tay nói lời cảm tạ: "Đa tạ hai vị tráng sĩ quân gia đã rủ lòng từ bi chiếu cố."
Hắn nhấc đôi chân đau nhức toan cất bước bước qua vòm cổng thành, thế nhưng mới chỉ đi được chừng ba bốn bước, người quan binh vừa thẩm vấn hắn khi nãy bỗng nhiên gọi giật hắn quay lại: "Khoan đã, vị tiên sinh kia, quay lại đây một chút!"
Trái tim Chúc Hợp khẽ giật thót một cái, hắn vội vàng dừng bước, xoay người lại nhìn tên lính thú với vẻ mặt đầy thắc mắc. Tên quan binh tiến lại gần hai bước, đảo mắt nhìn xuống đôi chân trần rướm máu và chiếc bụng đang hóp lại của Chúc Hợp, cất giọng trầm trầm hỏi: "Bao lâu rồi ngươi chưa được hột cơm nào vào bụng?"
Không đợi Chúc Hợp kịp lên tiếng trả lời, tên quan binh đã xua xua tay, cất giọng mách nước đầy vẻ hảo tâm: "Nhìn bộ dạng ngươi xanh xao thế kia, chắc chắn là đã nhịn đói suốt mấy ngày đường rồi. Ngươi thật may mắn đấy, hôm nay vừa vặn đúng là ngày Tạ viên ngoại trong thành mở kho phát cháo cứu tế cho nạn dân tứ xứ. Tạ lão gia là bậc đại thiện nhân nức tiếng vùng này. Ngươi cứ đi thẳng vào cổng thành, đến ngã tư lớn đầu tiên thì rẽ tay trái, men theo con phố đá xanh đi chừng hai trăm bước nữa là sẽ thấy đám đông xếp hàng trước cổng Tạ phủ. Mau đến đó mà xin một bát cháo đặc lót dạ đi, kẻo muộn lại hết phần."
Nghe thấy ba chữ "Tạ viên ngoại" thốt ra từ miệng người lính canh gác, toàn thân Chúc Hợp run lên bần bật, một luồng điện ấm áp và xúc động mãnh liệt chạy dọc khắp các mạch máu trong cơ thể hắn. Tạ viên ngoại! Đúng rồi, chính là Tạ Thành, vị trượng phu trượng nghĩa, vị ân nhân lớn nhất cuộc đời hắn và cũng chính là người nhạc phụ kính yêu của hắn ở kiếp trước!
Những ký ức phủ đầy bụi thời gian bỗng chốc sống dậy mãnh liệt như thác lũ tràn bờ. Ở kiếp trước, chính bát cháo cứu tế này của Tạ phủ đã cứu sống mạng của một kẻ xuyên không đói lả như hắn, mở ra cơ duyên để hắn bước chân vào Tạ gia, quen biết và cưới được Tạ Phác. Giờ đây, được nghe lại cái tên thân thương ấy từ miệng một người xa lạ, cõi lòng Chúc Hợp trào dâng muôn vàn cảm xúc nghẹn ngào, vừa mừng rỡ khôn xiết lại vừa hổ thẹn khôn cùng. Hắn rốt cuộc đã có cơ hội được nhìn thấy lại gương mặt hiền từ nhưng cương trực của nhạc phụ đại nhân thêm một lần nữa trong cuộc đời này.
Chúc Hợp đứng thẳng người, hai tay chắp lại ngang trán, cúi rạp người thi lễ một cách chân thành và kính cẩn nhất từ tận đáy lòng: "Đa tạ ân tình chỉ đường cứu mạng của tráng sĩ quân gia. Ân đức này, Chúc mỗ xin khắc cốt ghi tâm, vĩnh viễn không bao giờ quên."
Tên quan binh khẽ mỉm cười xua tay ra hiệu: "Mau đi đi, kẻo dòng người đổ về đông lại không chen chân nổi."
Chúc Hợp gật đầu lia lịa, xoay người cất bước đi qua vòm cổng thành sâu thẳm. Vừa bước chân qua khỏi cổng đá, không khí náo nhiệt của chốn thị thành Bình Thành lập tức ùa vào các giác quan của hắn. Dù đang là thời buổi loạn lạc, bách tính phải thắt lưng buộc bụng, nhưng Bình Thành là một trọng trấn biên phòng có tường cao hào sâu nên việc buôn bán giao thương trong thành vẫn giữ được đôi nét phồn hoa xưa cũ. Những dãy nhà mái ngói san sát, những tấm biển hiệu gỗ mộc mạc treo trước các tửu quán, trà lầu, tiếng rao hàng lanh lảnh của những người bán bánh bao, kẹo hồ lô và tiếng lộc cộc của những cỗ xe bò lăn bánh trên đường đá hòa quyện vào nhau tạo nên một bản hòa âm sống động của cuộc sống trần thế.
Thế nhưng Chúc Hợp không hề để tâm ngắm nhìn những cảnh vật quen thuộc ấy. Hắn men theo ký ức sâu đậm đã khắc sâu vào xương tủy của đời trước, rảo bước đi thẳng tới ngã tư lớn đầu tiên của con phố chính rồi rẽ tay trái. Lòng bàn chân trần giẫm lên những phiến đá xanh mát lạnh khiến hắn khẽ rùng mình, nhưng cơn đau rát đã hoàn toàn bị lấn át bởi sự hồi hộp và nôn nóng đang trào dâng trong lồng ngực. Bụng hắn lúc này réo lên từng hồi ùng ục dữ dội, cơn đói cồn cào như ngọn lửa thiêu đốt dạ dày, nhắc nhở hắn rằng từ sáng sớm đến giờ hắn chưa có lấy một ngụm nước hay một mẩu lương khô nào vào bụng.
Đi được chừng hơn hai trăm bước chân dọc theo con phố đá xanh râm mát, đập vào mắt Chúc Hợp từ đằng xa là một khung cảnh vô cùng đông đúc và trật tự. Trước cánh cổng lớn bằng gỗ lim sơn đỏ son uy nghi có hai con sư tử đá canh giữ của một tòa phủ đệ bề thế, một hàng dài những người tị nạn, dân nghèo đói rách đang kiên nhẫn xếp hàng nối đuôi nhau chờ đợi phát cháo. Mùi khói bếp thoang thoảng quyện với hương thơm ngọt ngào, ấm nồng của gạo mới nấu nhừ bốc lên nghi ngút giữa tiết trời thu se lạnh, xông thẳng vào cánh mũi Chúc Hợp khiến nước miếng trong miệng hắn không ngừng ứa ra.
Trước cổng phủ, ba chiếc nồi đồng khổng lồ chứa đầy cháo hoa đang sôi sùng sục trên những bếp than đỏ rực lửa. Khói trắng bốc lên cuồn cuộn mang theo hương thơm ngào ngạt của gạo tẻ hòa quyện cùng vị thanh mát của đậu xanh nấu nhuyễn và chút muối hạt đậm đà. Đứng bên những chiếc nồi đồng ấy là các gia đinh của Tạ phủ trong trang phục áo ngắn màu lam tề chỉnh, trên đầu chít khăn gọn gàng, tay thoăn thoắt cầm những chiếc muôi gỗ cán dài múc từng muôi cháo đặc sánh đổ đầy vào những chiếc bát sành sứt mẻ hay những ống tre của dòng người tị nạn chìa ra. Giữa thời buổi loạn lạc thóc cao gạo kém, một bát cháo đặc sánh đầy ắp như thế này chẳng khác nào một liều linh đan diệu dược cứu sống một mạng người khỏi miệng lưỡi hái của tử thần đói khát.
Phía trên bậc tam cấp của cổng chính Tạ phủ, một người quản gia trạc ngũ tuần gương mặt phúc hậu, mặc áo lụa xám đang đứng chắp tay sau lưng đi đi lại lại, luôn miệng cất giọng hòa nhã dặn dò nhắc nhở đám gia đinh và đám đông nạn dân: "Mọi người cứ từ từ xếp hàng ngay ngắn, không được chen lấn xô đẩy kẻo làm đổ cháo bỏng chân người già con trẻ. Tạ gia chúng ta hôm nay mở kho xuất ba mươi bao gạo ngon và mười bao đậu xanh, quyết không để ai phải ra về với cái bụng đói. Đại tiểu thư nhà chúng ta đã đích thân dặn dò phải nấu cháo thật đặc, nêm nếm muối vừa miệng để bà con ấm bụng chống chọi với gió lạnh đầu đông, xin bà con cứ yên tâm giữ gìn trật tự."
Nhìn thấy tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng đề bốn chữ lớn Tạ Trạch Từ Tâm treo trang trọng phía trên cổng phủ, hai mắt Chúc Hợp bỗng nhòe đi vì xúc động. Hắn vội vàng dừng chân lại bên vệ đường, đưa tay vuốt lại mái tóc ngắn rối bời cho gọn gàng hơn, cẩn thận chỉnh đốn lại vạt áo sơ mi rách rưới và kéo lại ống quần tây lấm lem bùn đất. Hắn không muốn bản thân xuất hiện trước cổng Tạ gia với một dáng vẻ quá đỗi kệch cỡm hay nhếch nhác. Sau khi hít sâu một hơi để trấn tĩnh lại nhịp tim đang đập loạn xạ, Chúc Hợp mới thong thả cất bước tiến lại gần, lặng lẽ hòa mình vào dòng người đang xếp hàng ở đoạn cuối con phố.
Những cảnh tượng mà hắn tưởng chừng như đã vùi sâu vào quên lãng suốt hơn bốn mươi năm của kiếp trước nay lại hiện ra mồn một trước mắt hắn với độ chân thực đến từng chi tiết. Chúc Hợp nhớ năm xưa, vào đúng cái ngày định mệnh này, hắn cũng từng bơ vơ đứng xếp hàng ở đúng vị trí này, ngơ ngác nhìn dòng người xa lạ xung quanh với tâm trạng hoang mang cực độ. Khi ấy, đứng ngay phía trước hắn là một người đàn ông trung niên nghèo khổ mặc áo vải rách vai. Lúc đó, với bản tính giảo hoạt và suy nghĩ muốn thu thập càng nhiều tin tức thời cuộc càng tốt để tìm đường mưu sinh, Chúc Hợp đã chủ động bắt chuyện và từ người đàn ông khốn khổ này dò hỏi được vô số tin tức quý giá về cục diện Bình Thành cũng như tính tình của Tạ viên ngoại.
Trong một thoáng thất thần nhớ lại dĩ vãng xa xăm, bàn tay Chúc Hợp đã vô thức vươn ra, khẽ vỗ nhẹ lên vai người đàn ông đang đứng quay lưng ngay phía trước mình: "Này vị huynh đài..."
Người đàn ông phía trước giật mình quay ngoắt đầu lại nhìn hắn. Đó là một lão khất cái trạc tuổi ngũ tuần, gương mặt gầy guộc sạm đen vì nắng gió phong trần, những nếp nhăn sâu hoắm hằn trên trán như những rãnh cày trên ruộng cằn, chòm râu lởm chởm bạc dính đầy bụi cát. Thế nhưng, trái ngược với vẻ ngoài già nua khốn khổ ấy, đôi mắt của lão lại sáng rõ một cách khác thường, ánh lên sự tinh anh và từng trải của một kẻ đã lăn lộn khắp đầu đường xó chợ.
Lão khất cái nheo nheo mắt, đánh giá Chúc Hợp từ đầu đến chân một lượt vô cùng tỉ mỉ. Lão nhìn từ mái tóc ngắn cũn cỡn như phạm nhân, chiếc áo sơ mi rách nát tả tơi để lộ lồng ngực gầy guộc, chiếc quần tây đen bám đầy bùn đất đến đôi bàn chân trần dính máu khô và cát sỏi. Nhận thấy bộ dạng của Chúc Hợp so với đám ăn mày chuyên nghiệp như lão thậm chí còn tơi tả, nhếch nhác và thảm hại hơn gấp bội phần, trong ánh mắt lão khất cái bất giác dấy lên một chút thương cảm chân thành.
Lão khẽ nhếch miệng cười, để lộ vài chiếc răng cửa ố vàng khuyết thiếu, cất giọng khàn đặc mang đậm âm điệu giang hồ hỏi: "Tiểu huynh đệ từ đâu chạy nạn đến đất Bình Thành này vậy? Quần áo đầu tóc làm sao mà tả tơi, rách nát đến mức thảm thương thế này?"
Chúc Hợp khẽ mỉm cười gượng gạo, chắp hai tay lại thi lễ rồi cất giọng nhã nhặn đáp lời: "Tiểu đệ họ Chúc, vốn là một kẻ đọc sách nơi phương nam lưu lạc đến chốn này. Dọc đường không may gặp phải giặc cướp chặn đường lột sạch hành lý, lại phải bôn ba qua rừng sâu gai góc nên mới thành ra nông nỗi dở khóc dở cười này. Mong lão ca ca chớ chê cười bộ dạng nhếch nhác của tiểu đệ."
Lão khất cái nghe cách xưng hô lễ độ và giọng điệu nho nhã của Chúc Hợp thì trong lòng càng thêm kinh ngạc và thiện cảm. Lão khoát tay cười khà khà: "Chê cười cái gì chứ! Thời buổi loạn lạc đao kiếm vô tình, mạng người rẻ rúng như cỏ rác, giữ được cái mạng nguyên vẹn để đứng đây xếp hàng xin bát cháo nóng đã là đại phúc đức ba đời rồi. Lão già này phiêu bạt giang hồ hơn nửa đời người, thấy bao nhiêu công tử thế gia hôm trước còn cưỡi ngựa ngắm hoa, hôm sau giặc tràn vào đã biến thành đống xương tàn nơi bờ bụi. Tiểu huynh đệ còn trẻ, thân thể dẫu có rách rưới nhưng phong thái đĩnh đạc thế kia, ắt không phải là kẻ tầm thường."
Được lão khất cái khen ngợi khéo léo, Chúc Hợp trong lòng khẽ động. Hắn liền thuận nước đẩy thuyền, nhỏ giọng dò hỏi: "Tiểu đệ mới chân ướt chân ráo đến Bình Thành, dọc đường nghe danh Tạ viên ngoại là bậc đại thiện nhân mở kho cứu bách tính. Không biết uy danh của Tạ phủ ở chốn này ra sao, mà gia phong lại nghiêm cẩn, nhân từ đến nhường ấy?"
Nhắc đến Tạ phủ, đôi mắt lão khất cái bỗng sáng rực lên vẻ sùng kính đặc biệt. Lão ghé sát lại gần Chúc Hợp, hạ thấp giọng thì thào kể: "Tiểu huynh đệ hỏi đúng người rồi đấy! Ở đất Bình Thành này, nếu Tạ gia nhận đứng thứ hai về lòng nhân nghĩa thì tuyệt đối không ai dám xưng thứ nhất. Tạ viên ngoại tên thật là Tạ Thành, xuất thân từ danh môn vọng tộc phương bắc, nhưng tính tình cương trực, ghét thói nịnh bợ gian tà nên đã rời bỏ bổn gia chuyển về Bình Thành gầy dựng cơ nghiệp. Ngài kinh doanh lụa là lương thảo, tiền tài nhiều vô kể nhưng không bao giờ ức hiếp dân lành. Cứ mỗi độ giáp hạt hay mùa đông giá rét, ngài đều mở kho lương phát cháo, cấp phát áo bông và thuốc thang cho người nghèo."
Lão khất cái dừng lại một chút, nuốt một ngụm nước bọt rồi tiếp tục hào hứng nói thêm: "Đặc biệt hơn nữa là vị đại tiểu thư Tạ Phác của Tạ gia, năm nay vừa độ trăng tròn mười tám tuổi. Nàng chẳng những có dung nhan khuê các đoan trang tựa tiên nữ giáng trần, mà tâm địa lại Bồ Tát muôn phần. Toàn bộ việc phát cháo, kiểm tra chất lượng gạo củi hôm nay đều do một tay đại tiểu thư quán xuyến chỉ đạo. Nàng dặn dò gia nhân phải đãi sạch sạn cát, nấu cháo đậu xanh thật đặc quánh chứ không cho phép nấu loãng lèo tèo như những nhà phú hộ giả tạo khác. Ai nấy ở Bình Thành này đều ca ngợi nàng là phúc tinh trời ban cho vùng đất biên thùy."
Nghe lão khất cái thao thao bất tuyệt kể về Tạ Phác với những lời tán dương chân thành nhất, trái tim Chúc Hợp lại nhói lên một cơn đau xót xa nhưng cũng ngập tràn niềm tự hào khôn tả. Đúng vậy, thê tử của hắn chính là một người con gái tuyệt vời và nhân hậu như thế đấy. Ấy vậy mà ở kiếp trước, sau khi cưới được nàng, hắn lại để cho thói trăng hoa làm mờ mắt, phụ bạc tấm chân tình ngọc ngà của nàng, biến nàng thành người phụ nữ bất hạnh chịu bao cay đắng nơi hậu viện. Nắm chặt hai bàn tay lại, Chúc Hợp tự nhủ thầm trong đáy lòng: Tạ Phác ơi Tạ Phác, kiếp này ta nhất định sẽ dùng cả sinh mệnh này để bảo bọc nàng, trân trọng nàng, tuyệt đối không để nàng phải chịu bất kỳ một tia tổn thương hay ấm ức nào nữa.
Nhận thấy lão khất cái là một kẻ từng trải và nắm bắt rất nhiều tin tức cơ mật chốn giang hồ, Chúc Hợp khẽ đảo mắt nhìn quanh rồi ghé sát tai lão hỏi nhỏ: "Lão ca ca, tiểu đệ thấy dọc đường đi dân chúng chạy nạn đông đúc, quan binh giữ cửa thành phòng bị cẩn mật khác thường. Chẳng hay bên ngoài biên ải có biến cố gì lớn chăng?"
Sắc mặt lão khất cái lập tức trở nên nghiêm trọng lạ thường, lão liếc mắt nhìn quanh đám đông đang bận rộn nhìn về phía nồi cháo, rồi ghé tai Chúc Hợp thì thầm bằng giọng điệu căng thẳng: "Tiểu huynh đệ quả là người tinh ý. Ta nói cho đệ biết, giặc Hồ phương bắc đang rục rịch điều động kỵ binh áp sát biên ải rồi đấy! Nghe đồn bọn chúng đã chiếm được mấy châu huyện phía bắc, chỉ trong vài ngày tới là mũi nhọn chiến tranh sẽ chĩa thẳng vào Bình Thành này. Quan phủ trong thành bên ngoài thì tỏ ra bình tĩnh, nhưng bên trong thì đám nha lại đã bắt đầu bí mật thu vén của cải quý giá chuẩn bị tháo chạy về phương nam rồi. Đất Bình Thành này sắp sửa nổi lên một trận phong ba bão táp ngút trời rồi đấy!"
Lão khất cái thở dài một hơi não nề, rồi lại vỗ vai Chúc Hợp dặn dò thêm: "Chẳng những giặc ngoài rình rập, mà thù trong cũng đang nhung nhúc. Trong đám khất cái và lưu dân chúng ta, có một toán giang hồ do tên Mã Đại cầm đầu, tính tình hung hãn thô bạo, chuyên môn tụ tập đàn em cướp đoạt thức ăn và tiền bạc của những kẻ yếu thế. Lát nữa nhận được cháo xong, tiểu huynh đệ phải mau chóng tìm chỗ vắng mà ăn cho hết, chớ có lảng vảng quanh các góc hẻm tối tăm kẻo bị bọn chúng đánh đập cướp mất phần ăn đấy."
Những lời cảnh báo của lão khất cái như những tia chớp lóe lên xé toạc màn sương mù trong ký ức tiền kiếp của Chúc Hợp. Tên Mã Đại! Đúng rồi, chính là tên đầu sỏ đám ăn mày bặm trợn mà ở kiếp trước đã từng chặn đường cướp bóc chiếc bánh của hắn, nhưng sau đó lại trở thành một vị đại tướng quân dũng mãnh dưới trướng nghĩa quân khởi nghĩa phương bắc! Và quân Hồ xâm lăng, Tạ gia gặp nạn... tất cả những biến cố lịch sử đẫm máu ấy đang từng bước một tiến lại gần, gõ cửa vận mệnh của hắn.
Chúc Hợp cúi đầu nhìn lại bộ trang phục kỳ quặc lấm lem trên người mình, trong lòng vừa buồn cười lại vừa dâng lên một nỗi chua chát khó tả. Thú thật với lòng mình, hắn cũng chẳng hề muốn bản thân biến thành một kẻ lôi thôi lếch thếch, trông chẳng khác nào một gã ăn mày hạ đẳng như thế này. Nhưng nghĩ đến việc kiếp này hắn được ông trời ban cho cơ hội quý giá để làm lại từ đầu, cơ hội để chuộc lại những tội lỗi tày đình kiếp trước đối với Tạ Phác và cưới lại nàng làm vợ hiền, thì dẫu cho có phải chịu đói khát, chịu nhục nhã thảm hại hơn thế này gấp mười lần, gấp trăm lần đi chăng nữa, trong lòng hắn cũng cam tâm tình nguyện chấp nhận mà không một lời than vãn.
Hắn ngước nhìn lên phía trước, dòng người xếp hàng xin cháo vẫn đang nhích từng bước một cách chậm chạp và kiên nhẫn. Nồi cháo nghĩa tình của Tạ phủ ở đằng xa vẫn bốc khói nghi ngút, báo hiệu một hành trình mới đầy gian nan nhưng cũng tràn ngập hy vọng đang mở ra trước mắt hắn. Không có cảnh đẹp để thưởng ngoạn, cũng chẳng có chiếc điện thoại thông minh để giải trí giết thời gian như thời hiện đại, Chúc Hợp khẽ mỉm cười nhã nhặn, chăm chú lắng nghe từng lời của lão khất cái để gom góp thêm những mảnh ghép thông tin vô giá. Hắn biết rất rõ, chỉ trong vài canh giờ nữa thôi, số phận sẽ trao vào tay hắn những ngã rẽ sinh tử, và hắn nhất định phải dùng toàn bộ trí lực và sự quyết tâm của cả hai kiếp người để xoay chuyển càn khôn, mở ra con đường bước chân vào cánh cổng lớn uy nghiêm của Tạ gia.