Chương 7: Hiểu Lầm Trùng Trùng
Khi những tia nắng ban mai đầu tiên le lói xuyên qua lớp giấy dán cửa sổ rọi vào góc phòng nhỏ dưới tầng trệt tú lâu, Lục Thượng Thiện bỗng giật mình tỉnh giấc, đưa hai bàn tay lên ôm chặt lấy đầu mà phát ra một tiếng rên rỉ nghẹn ngào từ tận đáy họng. Đầu óc hắn đau nhức ong ong như có người gõ búa, miệng đắng ngắt vì dư vị của hơi men cay nồng đêm qua. Thế nhưng nỗi đau đớn thể xác ấy làm sao sánh bằng sự xấu hổ và ngượng ngùng đang cào xé tâm can hắn lúc này.
Xưa nay tửu lượng của Thượng Thiện vốn dĩ đã cực kỳ kém cỏi, mà tửu phẩm lại càng tệ hại hơn gấp mười lần. Hắn có một tật xấu kỳ quái là hễ uống rượu say vào là không tài nào khống chế nổi cảm xúc của mình, thường hay kéo vạt tay áo người khác mà khóc lóc giãi bày tâm sự linh tinh. Bằng hữu thân thiết chốn thương trường ai nấy đều biết rõ thói quen ấy nên mỗi khi ngồi chung bàn rượu đều hết sức kiêng dè, bản thân hắn cũng luôn tự biết lượng sức mình mà khắc chế nghiêm ngặt, quanh năm suốt tháng hiếm khi nào để bản thân rơi vào cảnh say sưa túy lúy.
Thế nhưng điều trớ trêu và nghiệt ngã nhất chính là, dẫu cho hắn có say đến mức bất tỉnh nhân sự thì sau khi tỉnh rượu, từng câu từng chữ, từng cử chỉ than khóc mất mặt đêm qua hắn lại nhớ rõ mồn một như in trong đầu. Nhớ lại cảnh tượng bản thân một gã nam nhi bảy thước ngoài ba mươi tuổi mà lại đi nắm chặt vạt áo của một người phụ nữ bị hưu, gục đầu vào vai nàng khóc lóc nức nở như một đứa trẻ thơ bơ vơ giữa đêm tuyết, Thượng Thiện xấu hổ đến mức chỉ muốn đào một cái lỗ nẻ dưới nền đất để chui xuống. Hắn kéo chiếc chăn bông trùm kín mít qua đầu, quay mặt vào vách tường gạch mà nằm im thin thít, tuyệt nhiên không dám cựa quậy hay bước chân xuống giường.
Đang lúc hắn đang vò đầu bứt tai trong cơn dằn vặt bẽ bàng thì tiếng gõ cửa cọt kẹt nhẹ nhàng cùng tiếng bước chân rón rén vang lên từ bên ngoài thềm hiên. Tiếng nói trong trẻo của đại nha hoàn Tứ Hỉ Nhi cất lên qua khe cửa, kính cẩn thưa rằng trời đã sáng rõ, nàng mang một chậu nước ấm sạch sẽ đến để hầu hạ Lục gia rửa mặt chải đầu.
Nghe thấy cách xưng hô Lục gia lạ lẫm ấy, Thượng Thiện giật thót tim một cái. Hắn hít sâu vài hơi dài, cố gắng vận dụng toàn bộ tu vi điềm tĩnh bấy lâu nay bôn ba trên thương trường để điều chỉnh cơ mặt trở lại vẻ thản nhiên ung dung như thường ngày, rồi mới chậm rãi bước ra mở cửa. Cánh cửa vừa hé mở, Tứ Hỉ Nhi đã cúi đầu thật thấp, hai tay nâng chậu nước đồng ấm áp bốc hơi mờ ảo đưa tới, miệng nói lời cung kính rằng trang tử thôn dã nghèo khó thiếu thốn kẻ hầu người hạ, phu nhân dặn dò nàng xin ngài rộng lòng lượng thứ cho sự tiếp đãi sơ sài này. Nàng còn ân cần báo trước rằng chỉ chừng một khắc nữa thôi là nhà bếp sẽ dọn bữa cơm sáng, mời Lục gia mau chóng sửa soạn rồi qua dùng bữa cùng mọi người.
Nhìn chiếc khăn mặt trắng tinh tươm cùng đôi giày da của mình đã được ai đó cẩn thận hong khô bên bếp than từ lúc nào đặt ngay ngắn dưới chân giường, trong lòng Thượng Thiện bỗng dâng trào một làn sóng ấm áp lạ kỳ. Lưu nương tử quả thực là người chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc; nàng xem hắn như người thân trong nhà, mà chuyện than khóc thảm hại đêm qua dường như cũng chẳng hề khiến nàng có nửa phần chê cười hay khinh ghét.
Sau khi rửa mặt chải đầu gọn gàng, Thượng Thiện cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh bước ra khỏi căn phòng nhỏ tầng dưới tú lâu tiến về phía gian nhà chính. Vừa bước chân qua khỏi rặng trúc xanh rậm rạp, hắn bỗng chạm mặt Cẩn Ngôn đang đứng nép bên cạnh mẫu thân. Nhìn thấy Lục thúc thúc từ trong tú lâu của mẹ mình bước ra trong bộ dạng áo bông mộc mạc, đôi mắt Cẩn Ngôn bỗng chốc trợn tròn xoe lên như hai quả nhãn lồng, cậu bé nhìn chằm chằm vào Thượng Thiện từ đầu đến chân rồi lại quay sang nhìn gương mặt còn vương nét ngái ngủ của người mẹ nuôi.
Không kìm nổi sự tò mò trẻ thơ, Cẩn Ngôn liền kéo kéo vạt tay áo của Lưu nương tử, ngập ngừng hỏi nhỏ một câu rằng liệu bản thân mình từ nay về sau có nên đổi cách xưng hô gọi Lục thúc thúc thành phụ thân hay không. Lời nói ngây thơ ấy khiến cho khuôn mặt tròn trịa của Lưu nương tử giật giật hai cái dữ dội. Nàng lập tức vung tay thưởng cho cậu con trai một cái cốc đầu kêu một tiếng giòn tan, gắt gỏng mắng rằng Lục thúc thúc đêm qua đến chơi quá muộn, sợ làm ồn kinh động đến giấc ngủ của người già trẻ nhỏ nên mới tạm thời ở lại gian phòng trống dưới lầu ngủ nhờ một đêm mà thôi. Gương mặt vốn đang cố tỏ ra ung dung của Thượng Thiện cũng theo đó mà đỏ bừng lên tận mang tai, hắn ngượng ngùng hắng giọng một tiếng, vội vã chắp tay tạ ơn Lưu nương tử đã rủ lòng thu lưu cưu mang, bằng không trong trận bão tuyết đêm qua hắn đã sớm bị đông cứng thành một tảng băng ngoài đồng không mông quạnh rồi.
Cẩn Ngôn xoa xoa chỗ đầu bị cốc, đôi mắt vẫn ánh lên vẻ tò mò không chịu buông tha, liền cất tiếng hỏi dồn xem cớ sao Lục thúc thúc lại đến trang tử vào giờ khuya khoắt buốt giá như thế. Ở nhà họ Lưu, nếp sinh hoạt gia đình vốn dĩ vô cùng bình đẳng và ấm cúng; nếu không phải vì đám gia bộc kiên quyết giữ gìn tôn ti trật tự thì Lưu nương tử thậm chí đã kéo tất cả mọi người cùng ngồi chung một bàn lớn để ăn cơm. Lúc này trong gian nhà giữa, Lưu nương tử dẫn Thượng Thiện và Cẩn Ngôn ngồi ở chiếc bàn gỗ vuông nhỏ phía trên, còn đám cựu binh và tỳ nữ thì quây quần quanh chiếc bàn tròn lớn kê ở gian bên cạnh.
Vừa nghe Cẩn Ngôn thốt ra câu hỏi ấy, hơn mười ánh mắt của đám gia nhân đang ngồi bên bàn lớn bỗng chốc nhất tề quay ngoắt lại, đổ dồn lên người Thượng Thiện với vẻ dò xét và tò mò cao độ, khiến cho toàn thân hắn bất giác nổi gai ốc khắp người. Thượng Thiện nuốt khan một ngụm nước bọt, cố gắng giữ vẻ mặt lạnh nhạt của kẻ từng trải mà ứng biến rằng, người xưa thường bảo mỗi dịp lễ tết cuối năm lại càng nhớ nhung người thân ruột thịt da diết, đêm qua hắn nhớ Cẩn Ngôn quá đỗi nên mới cưỡi ngựa đến đây thăm cậu bé.
Câu trả lời gượng gạo ấy lập tức làm rộ lên một loạt tiếng ho khan khúc khích từ phía bàn ăn của đám gia bộc, có vài tiểu nha hoàn vụng trộm đưa tay áo lên che miệng cười tủm tỉm. Thượng Thiện dẫu có dày dạn sương gió thương trường đến đâu thì hai vành tai cũng không khỏi nóng rực lên vì thẹn thùng. Thế nhưng Cẩn Ngôn suy cho cùng vẫn chỉ là một đứa trẻ thơ ngây, nghe thúc thúc nói nhớ mình liền vui sướng tít mắt, cậu bé lập tức cầm đũa gắp một miếng dồi lợn xào dưa thơm lừng bỏ vào bát của Thượng Thiện, ríu rít mời mọc rằng món này do chính tay mẹ cậu làm, bảo hắn hãy mau chóng nếm thử xem ngon miệng đến nhường nào.
Bữa điểm tâm sáng mùa đông nơi trang tử tuy đạm bạc nhưng lại vô cùng thơm ngon và thịnh soạn. Một âu cháo hạt sen nấu đường phèn sánh mịn bốc khói ngào ngạt, một đĩa bánh ngô nướng vàng ươm giòn rụm bên ngoài nhưng mềm ngọt bên trong, cùng đĩa dồi lợn xào dưa chua thơm nức mũi. Thượng Thiện vừa ăn vừa chậm rãi lắng nghe Lưu nương tử căn dặn Cẩn Ngôn ăn cho no bụng để lát nữa còn phụ giúp Tôn bá dọn dẹp chuồng ngựa. Nhìn cảnh tượng đầm ấm rộn rã tiếng cười vui ấy, cõi lòng Thượng Thiện dâng lên một cảm giác bình yên đến lạ kỳ, hoàn toàn khác hẳn những bữa ăn ngột ngạt chan đầy nước mắt và toan tính nơi Lục phủ.
Thế nhưng Thượng Thiện không hề hay biết rằng, tính mạng của mình vào rạng sáng hôm nay vừa mới may mắn đi dạo một vòng qua quỷ môn quan trở về. Nguyên lai lúc sáng sớm tinh mơ, khi lão Tôn bá đi tuần tra phát hiện ra con ngựa chiến của Thượng Thiện được buộc trong chuồng và biết hắn đã ngủ lại qua đêm trong tú lâu của nữ chủ nhân, lão cựu binh già tính khí nóng như lửa than đã lập tức vác thanh đại đao sáng loáng định xông vào chém đầu tên công tử hào môn to gan lớn mật để bảo vệ danh tiết cho Lưu nương tử. May nhờ có Triệu bá là người từng trải cơ trí kịp thời giữ chặt lấy cán đao khuyên can hết lời.
Triệu bá mắng Tôn bá rằng đầu óc rỗng tuếch không biết suy nghĩ trước sau; phu nhân vốn dĩ là người có chủ kiến và bản lĩnh phi thường, nếu như nàng không tự nguyện mở cửa đón người vào thì dẫu có đốt nhà tạo ra tiếng động kinh thiên động địa nàng cũng chẳng để yên, làm sao có thể lặng lẽ êm đềm ngủ suốt một đêm như thế được. Nay nhìn thấy sắc mặt Lưu nương tử buổi sáng vẫn bình thản như thường, lại thấy Thượng Thiện trò chuyện thân mật cưng chiều Cẩn Ngôn như con đẻ, đám lão gia bộc không khỏi có một sự suy diễn sai lệch vô cùng ngọt ngào. Bọn họ đinh ninh rằng quan hệ giữa hai người đã gạo nấu thành cơm, từ nay về sau không gọi Thượng Thiện là Lục công tử nữa mà nhất tề đổi xưng hô thành Lục gia đầy vẻ tôn kính; thậm chí nếu không sợ Lưu nương tử thẹn quá hóa giận thì đám lão binh đã sớm mở miệng gọi thẳng hắn một tiếng cô gia cho danh chính ngôn thuận rồi.
Sau buổi sáng hôm ấy, Thượng Thiện quyết định dứt khoát không trở về Lục phủ ngột ngạt nữa. Hắn biết rõ việc mình nửa đêm phóng ngựa chạy trốn khỏi phủ đệ đã khiến lão tổ mẫu và hai người ca ca dòng chính hoảng loạn tột cùng. Quả nhiên đúng như dự đoán, ngay sáng mồng chín tiết Lạp Bát, Lục phủ bỗng rơi vào cảnh hỗn loạn như rắn mất đầu. Không có Thượng Thiện đứng ra ký duyệt ngân sách và điều phối các đơn hàng vải vóc cuối năm, các chủ nợ và lái buôn tơ lụa lũ lượt kéo đến vây kín cổng đòi thanh toán tiền hàng. Hai người ca ca dòng chính quanh năm chỉ biết ngâm thơ vịnh nguyệt run lẩy bẩy không biết xử trí ra sao, còn hai người chị dâu thì bắt đầu cãi cọ om sòm tranh giành từng chìa khóa kho gạo để thủ thân.
Lão tổ mẫu nằm trên giường bệnh tức giận đến mức thở không ra hơi, vội vã sai quản sự mang bạc đi khắp các trà lâu tửu quán và biệt viện truy tìm tung tích Thượng Thiện nhưng đều hoài công vô ích. Đến khi dò la biết được hắn đang nương náu tại trang tử họ Lưu, tổ mẫu liền phái đại ca dắt theo vài gia nhân mang lễ vật đến trước cổng Trương gia trang, định bụng dùng chiêu bài tình thân để khuyên nhủ hắn quay về gánh vác món nợ khổng lồ. Thế nhưng khi đám người Lục phủ vừa bước chân đến đầu ngõ, Tôn bá và các lão cựu binh đã vác đại đao và trường thương đứng chắn ngang đường, mắt quắc lên như hổ dữ quát tháo xua đuổi. Đám gia nhân Lục phủ sợ vỡ mật, dẫu có đưa bạc đút lót cũng bị ném trả thẳng vào mặt, đành phải ngậm ngùi dắt nhau xám xịt quay đầu trở về thành, để mặc cho Lục gia chìm trong những ngày tết ảm đạm thê lương.
Tại trang tử họ Lưu, Thượng Thiện phân phó cho Thị Mặc quay về biệt phủ thu dọn toàn bộ rương hòm hành lý cá nhân mang sang đây, đồng thời hào sảng móc túi lấy ra hai trăm lượng bạc trắng trao tận tay Lưu nương tử để góp vào chi phí ăn uống sinh hoạt hàng ngày cho cả gia đình. Hành động dọn đồ đến ở hẳn và chi ra một món tiền lớn như thế lại càng khiến cho người nhà họ Lưu tin chắc mười mươi rằng Lục Tam công tử chính là chàng rể hiền chưa cưới của gia đình, thái độ phục vụ đối đãi với hắn ngày càng thêm phần ân cần cung kính.
Gian nhà giữa vốn dĩ chỉ có một chiếc giường tre của Cẩn Ngôn, nay có thêm sự xuất hiện của Thượng Thiện liền trở nên vô cùng nhộn nhịp. Lưu nương tử bảo Tôn bá mang thêm một chiếc sập gỗ liễu chắc chắn kê vào góc phòng, dùng một tấm rèm lụa màu xanh biếc ngăn đôi gian phòng thành hai nửa trong ngoài, vừa giữ được sự riêng tư cần thiết lại vừa vô cùng ấm cúng. Chiếc bàn học của Cẩn Ngôn được dọn dẹp ngăn nắp, đặt ngay cạnh giá sách mới đóng bằng gỗ thông thơm phức.
Những buổi chiều rảnh rỗi sau giờ học chữ, Thượng Thiện lại lấy chiếc bàn tính bằng gỗ mun bóng lộn mang từ biệt phủ sang, kiên nhẫn cầm tay chỉ cho Cẩn Ngôn từng quy tắc gẩy bàn tính, cách cộng trừ nhân chia nhanh nhạy và phương pháp ghi chép sổ sách kế toán theo lối chữ thập của giới buôn bán lớn. Cẩn Ngôn thông minh đĩnh ngộ, ngón tay nhỏ nhắn thoăn thoắt gẩy từng hạt bàn tính lách cách giòn giã, chỉ trong vài buổi đã có thể tính toán thành thạo các khoản chi thu mớ rau con cá trong nhà. Đổi lại, đứa trẻ lớn lên nơi đồng nội lại hào hứng dắt Thượng Thiện ra sau đồi trúc, dạy cho hắn cách đẽo ống trúc làm sáo thổi véo von, cách dùng dây gai bện thành những chiếc bẫy bồ câu tinh xảo và cách phân biệt những loài nấm rừng thơm ngon có thể hái về nấu canh.
Không chỉ có Cẩn Ngôn, mà ngay cả năm người cựu binh già trong nhà cũng ngày càng yêu quý chàng nho thương họ Lục. Những buổi chiều đông râm mát khi công việc đồng áng đã vãn, các lão bộc thường quây quần bên đống lửa sưởi ngoài sân, vừa mài lại những thanh đại đao và mũi giáo cùn rỉ sét vừa râm ran kể lại những trận đánh giặc Oa khốc liệt nơi bờ biển phương đông năm nào. Thượng Thiện không hề có nửa phần kiêu căng ngạo mạn của con nhà quyền quý; hắn ngồi bệt trên khúc gỗ mục cùng các lão binh, sai Thị Mặc lấy ra những bình rượu ngon ủ bằng nếp cái hoa vàng mang từ trong thành ra mời các bậc tiền bối cùng nhắm với đĩa cá khô nướng than hồng. Hắn chăm chú lắng nghe từng chiến tích bi tráng, học hỏi những thế thương đâm thẳng dũng mãnh của quân đội, khiến đám cựu binh già cảm động khôn xiết, coi hắn như một người tướng lĩnh trẻ tuổi kiên trung mà họ sẵn sàng liều mạng bảo vệ.
Thế nhưng điều khiến đám gia bộc hoang mang và sốt ruột nhất chính là việc Lưu nương tử lại xếp đặt cho Thượng Thiện ở chung phòng với Cẩn Ngôn tại gian nhà giữa, tuyệt nhiên không hề đả động gì đến chuyện cưới xin hôn lễ. Hai người trong cuộc cứ thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, khiến cho đám gia nhân đứng ngoài nóng ruột như lửa đốt chẳng khác nào hoàng đế không vội mà thái giám đã vội đến muốn chết.
Thực chất, tất cả sự việc êm đềm này đều bắt nguồn từ những hiểu lầm chồng chất lên nhau giữa hai con người mang nhiều vết thương lòng. Về phía Thượng Thiện, sau khi nghe lỏm được dã tâm tàn độc của tổ mẫu muốn dùng miệng đời dìm chết danh dự của mình để biến hắn thành kẻ tôi tớ nuôi béo dòng chính, hắn đã hoàn toàn tuyệt vọng và đoạn tuyệt tình cảm với gia tộc họ Lục. Hắn trốn tránh sự quấy nhiễu của gia đình, tìm thấy nơi trang tử này một chốn dung thân ấm áp hiếm hoi giữa mùa đông giá rét, nên dứt khoát mặt dày nán lại nương nhờ vài ngày để tìm lại sự thanh thản cho tâm hồn.
Còn về phần Lưu nương tử, sự thấu hiểu và bao dung của nàng lại bắt nguồn từ một sự hiểu lầm tai hại đến mức dở khóc dở cười. Trong mắt nàng, chàng Tam công tử Lục gia này không những có thân thế con thứ mồ côi mẹ đáng thương, mà bi đát hơn cả là hắn dường như đang mắc phải chứng bệnh kín bất lực không thể làm một người đàn ông bình thường. Bản tính của người phụ nữ từng chịu nhiều đau khổ và mất đi thiên chức làm mẹ khiến nàng dâng trào một niềm trắc ẩn sâu sắc. Mặc kệ những lời đồn thổi cay nghiệt bên ngoài mắng chửi nàng là hồ ly tinh dụ dỗ công tử nhà giàu, nàng càng muốn giang rộng vòng tay che chở cho người đàn ông tội nghiệp ấy. Dù sao hắn ở lại đây cũng chỉ đọc sách dạy dỗ Cẩn Ngôn chứ chẳng làm điều gì thất lễ, có thêm một người bạn tri kỷ đàm đạo giải sầu qua ngày đông giá rét thì có gì là không tốt đâu.
Và trong chuỗi những hiểu lầm ngọt ngào ấy, người vui sướng và hạnh phúc nhất chính là cậu bé Trương Cẩn Ngôn. Suốt tám năm cuộc đời côi cút chịu nhiều tủi nhục, đây là lần đầu tiên cậu bé được nếm trải trọn vẹn cảm giác ấm áp của một mái ấm gia đình thực sự. Lục thúc thúc ngày ngày bên cạnh dạy cậu tập võ đọc sách, mẫu thân đối với thúc thúc lúc nào cũng ôn hòa tươi cười, nếp nhà rộn rã tiếng cười vui chẳng khác nào hương vị của một gia đình ba người ruột thịt đầm ấm.
Nguyên bản ban đầu Thượng Thiện chỉ định nán lại trang tử dăm ba bữa cho khuây khỏa cõi lòng, thế nhưng càng ở lâu, hắn lại càng quyến luyến không nỡ dứt áo ra đi. Hắn cùng Cẩn Ngôn dọn vào ở chung tại gian nhà giữa rộng rãi, chỉ dùng một tấm rèm lụa màu xanh biếc ngăn đôi gian phòng thành hai nửa trong ngoài. Khi trời còn chưa kịp sáng rõ, sương mai còn đọng long lanh trên cành lá, Cẩn Ngôn đã thức dậy kéo hắn ra khoảng sân rộng trước cửa để hoạt động gân cốt. Nếu không đau ốm, Lưu nương tử cũng dậy sớm quét tước sân phơi ngũ cốc, còn các lão cựu binh Tôn bá, Triệu bá thì đã sớm vung đại đao và trường thương loang loáng luyện tập võ nghệ giữa làn sương sớm.
Dưới rặng trúc xanh rì rào trong gió sớm, Lưu nương tử kiên nhẫn hướng dẫn Cẩn Ngôn từng động tác Niệm Đầu và kỹ thuật dính tay của bài quyền Vịnh Xuân. Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt biến ảo, lấy nhu thắng cương, mượn lực đánh lực, chỉ tập trung vào việc bảo vệ đường trung tuyến cơ thể. Thượng Thiện đứng bên cạnh chăm chú quan sát, nhận ra sự tinh diệu tuyệt luân của môn võ này liền rút thanh kiếm tùy thân ra múa vài đường kiếm hoa cương dẻo dai hỗ trợ đối luyện cùng hai mẹ con. Hắn tận tình chỉ điểm cho Cẩn Ngôn cách hạ thấp trọng tâm, cách thở đều theo nhịp đan điền để giữ cho đôi chân vững chãi như bàn thạch.
Thượng Thiện vừa vung kiếm gỗ đỡ những đòn chưởng pháp linh hoạt của Cẩn Ngôn vừa giảng giải rằng, kiếm pháp nội gia phương bắc chú trọng vào bộ pháp di chuyển như rồng bay phượng múa, mượn sức của trời đất để bồi đắp khí lực; nếu Cẩn Ngôn biết kết hợp sự mau lẹ, hiểm hóc ở tầm gần của quyền pháp Vịnh Xuân với sự vững chãi, biến hóa khôn lường của kiếm thuật phương bắc thì sau này dẫu có gặp phải đối thủ cao lớn gấp bội cũng hoàn toàn có thể thong dong ứng biến. Cậu bé nghe xong vô cùng thích thú, hai mắt sáng rực lên, vừa cười khanh khách vừa tung những cú đấm liên hoàn nhắm vào cán kiếm của Thượng Thiện. Lưu nương tử đứng bên bờ trúc nhìn hai chú cháu mồ hôi ướt đẫm trán nhưng nụ cười rạng rỡ như hoa nở ban mai, trong lòng bất giác dâng lên một cảm giác an tâm và ấm áp khôn tả.
Tập luyện xong xuôi, cả nhà lại quây quần bên bàn ăn dùng điểm tâm nóng sốt. Ban ngày, Thượng Thiện cùng Cẩn Ngôn vào thư phòng đọc sách luyện thư pháp và bàn luận đạo lý làm người; còn Lưu nương tử cùng đám gia bộc thì ai nấy đều có công việc đồng áng vườn tược riêng để chăm lo.
Trong thư phòng thoang thoảng mùi mực mới, Thượng Thiện cẩn thận mở cuốn sách Mạnh Tử ra giảng giải cho Cẩn Ngôn về tư tưởng dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Hắn phân tích rằng bậc thánh hiền thời xưa coi trọng ấm no của muôn dân hơn cả ngôi báu cửu ngũ, người làm quan hay kẻ làm giàu muốn có được chỗ đứng vững bền giữa trời đất thì điều cốt tử trước hết là phải biết lấy lòng nhân ái mà đối đãi với kẻ dưới quyền. Lưu nương tử đang ngồi nhặt đỗ ngoài hiên nghe thấy lời luận giải ấy liền mỉm cười gật đầu, cất giọng tiếp lời rằng một đất nước muốn thái bình thịnh trị thì từng mái nhà tranh phải được no ấm, mà một gia đình muốn hòa thuận hưng vượng thì từng con người dẫu là con nuôi hay kẻ ở người làm đều phải được tôn trọng nhân phẩm và yêu thương thật lòng. Lời đàm đạo mộc mạc mà sâu sắc giữa hai người lớn khiến cho Cẩn Ngôn ngồi giữa lắng nghe như nuốt từng lời từng chữ, cảm nhận được một nền tảng giáo dục nhân văn vững chãi đang từng ngày bồi đắp tâm hồn mình. Cuộc sống bình dị, tự do tự tại ấy tựa như một liều thuốc thần kỳ xoa dịu đi mọi vết thương lòng của người nho thương từng trải.
Thế nhưng điều khiến Thượng Thiện cảm thấy kinh ngạc và thán phục nhất chính là việc hắn phát hiện ra Lưu nương tử dường như sở hữu những hiểu biết và tiện nghi sinh hoạt tinh tế đến mức vượt xa thời đại. Khu vực nhà tắm trong trang tử chiếm một diện tích khá lớn ở góc hậu viện, toàn bộ nền đất đều được lát bằng những phiến đá xanh nhẵn thín được cọ rửa sạch bóng mỗi ngày. Nơi đây không hề dùng những chiếc thùng gỗ tắm thông thường chật chội, mà được xây dựng thành một cái ao tắm lát đá sâu chừng nửa mét vô cùng rộng rãi.
Thượng Thiện tò mò cùng Cẩn Ngôn đi một vòng khảo sát phía sau bức tường nhà tắm. Hắn kinh ngạc nhìn thấy một chiếc bồn chứa nước bằng đồng đỏ khổng lồ đặt trên giàn gạch cao kiên cố, nước giếng trong vắt được bơm lên bằng một cần gạt gỗ lợi dụng sức nước ròng rọc. Từ bồn chứa, nước lạnh chảy qua hệ thống ống đồng uốn lượn hình xoắn ốc chạy xuyên qua một chiếc lò than khép kín đang âm ỉ cháy, nhiệt lượng từ than củi lập tức đun sôi nước trong ống dẫn rồi truyền thẳng vào các vòi xả trong ao tắm. Cẩn Ngôn tự hào chỉ cho Thượng Thiện xem các mối nối được bọc kín bằng nhựa thông và keo sáp ong để chống rò rỉ, giải thích rằng mẹ cậu còn cho xây hai hầm lắng lọc ngầm dưới lòng đất chứa đầy cát thạch anh, than hoạt tính và sỏi cuội để lọc sạch xà phòng trước khi nước chảy ra tưới cho vườn rau. Giữa những ngày đông giá rét căm căm buốt xương này, mẹ con Lưu nương tử và đám gia nhân ngày nào cũng có đủ nước nóng để tắm gội sạch sẽ, một sự hưởng thụ xa hoa và văn minh mà ngay cả chốn hoàng cung vương phủ e rằng cũng chưa từng có được.
Không chỉ có nhà tắm, mà ngay cả khu nhà xí nơi góc vườn cũng được thiết kế vô cùng tinh xảo và sạch sẽ đến mức Thượng Thiện phải sững sờ kinh ngạc. Nơi đây có hệ thống bể chứa nước trên cao, dùng dây kéo để xả nước sạch cuốn trôi chất thải theo các đường ống ngầm dẫn ra hầm chứa cách xa khu nhà ở. Nước nóng sau khi dùng xong từ nhà tắm cũng được dẫn tuần hoàn qua hệ thống này, vừa làm sạch bóng loáng bề mặt đá lại vừa giữ cho các đường ống không bao giờ bị đóng băng nứt vỡ trong những ngày đông tuyết phủ. Nghe Cẩn Ngôn tự hào khoe rằng toàn bộ những công trình tiện nghi kỳ diệu này đều do một tay mẫu thân cậu tự vẽ bản vẽ và hướng dẫn thợ xây dựng nên, Thượng Thiện không khỏi choáng váng tâm can. Nhìn quanh ngôi nhà họ Lưu, trừ bộ bàn ghế liễu và chiếc giường ngủ thiết yếu thì bốn bức tường đều trống trơn không có lấy một món đồ cổ hay tranh chữ đắt tiền nào; nguyên lai người phụ nữ này đã dốc toàn bộ tiền bạc tích cóp được vào việc nâng cao chất lượng vệ sinh và sự tiện nghi hưởng thụ đời sống hàng ngày của gia đình.
Bản tính của một thương nhân nhạy bén bỗng chốc trỗi dậy mãnh liệt trong huyết quản Thượng Thiện. Hắn lập tức nhìn thấy một cơ hội kinh doanh béo bở ngàn năm có một; nếu như kỹ thuật lò nước nóng và hệ thống nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại này được đóng gói mang đi tiếp thị và bán bản quyền xây dựng cho các gia đình đại hào môn cự tộc chốn kinh kỳ hay các đại phú thương đất Giang Nam, thì số bạc kiếm được chắc chắn sẽ chất cao như núi, có thể thu về hàng vạn lượng bạc trắng một cách dễ dàng.
Nghĩ là làm, Thượng Thiện liền tìm gặp Lưu nương tử bên giàn hoa kim ngân, hào hứng bày tỏ ý định muốn bỏ vốn hợp tác để thương mại hóa phát minh vĩ đại này, cam kết sẽ chia cho nàng phân nửa lợi nhuận khổng lồ để mẹ con nàng cả đời sau được hưởng vinh hoa phú quý không bao giờ phải lo chuyện cơm áo gạo tiền.
Thế nhưng đáp lại sự sốt sắng của hắn, Lưu nương tử chỉ khẽ nhấp một ngụm trà đại mạch, thản nhiên buông một câu dứt khoát rằng chuyện này miễn bàn luận, phát minh này của nàng tuyệt đối không bao giờ được phép đem ra mua bán kiếm lời. Thượng Thiện ngạc nhiên gặng hỏi lý do, bảo rằng đây là cơ hội vàng để nàng trở thành một hào phú cự phách một phương, cớ sao lại thẳng thừng từ chối món hời lớn như vậy.
Lưu nương tử khẽ mỉm cười thanh thản, chậm rãi giải thích rằng bản thân nàng là một kẻ sợ khổ sợ bẩn, quen thói sạch sẽ nên mới mày mò làm ra những thứ này để phục vụ cuộc sống gia đình mà thôi. Trang tử nhà họ Lưu quy mô nhỏ hẹp chỉ có vài miệng ăn, nguồn nước thải được nàng dẫn qua các hầm lắng lọc bằng than củi và cát sỏi rồi mới thải ra đồng ruộng, nên có thể kiểm soát an toàn tuyệt đối. Thế nhưng nếu đem nhân rộng thứ kỹ thuật này ra các khu phố thị đông đúc của các đại hào môn, trong khi triều đình hoàn toàn chưa xây dựng được một hệ thống cống rãnh thoát nước ngầm đồng bộ và quy chuẩn xử lý nước thải quy mô lớn, thì hậu quả sẽ vô cùng khủng khiếp. Nước bẩn ngấm sâu vào lòng đất sẽ làm ô nhiễm toàn bộ mạch nước ngầm của các giếng ăn sinh hoạt, chuột bọ và ruồi muỗi sẽ sinh sôi nảy nở tràn lan, tạo nên những ổ dịch bệnh chết người như dịch tả, thương hàn hay chứng bệnh đen dịch hạch càn quét giết chết hàng ngàn hàng vạn sinh linh vô tội. Nàng dứt khoát tuyên bố rằng, bản thân dẫu có chết đói cũng tuyệt đối không bao giờ làm cái thứ kinh doanh thất đức, kiếm tiền trên xương máu và tính mạng của đồng bào thiên hạ như thế.
Những khái niệm dịch tễ học và y học môi trường hiện đại ấy nghe qua chẳng khác nào kinh thư từ trên trời rơi xuống, khiến cho một thương nhân học rộng hiểu nhiều như Thượng Thiện cũng phải lùng bùng lỗ tai, nghe nửa hiểu nửa không suốt hai ngày ròng rã. Phải nhờ đến Cẩn Ngôn, đứa trẻ đã quen với những lời nói kỳ lạ của mẹ từ thuở ấu thơ, đứng ra phiên dịch và giải thích lại bằng ngôn ngữ mộc mạc thôn dã thì Thượng Thiện mới dần dần ngộ ra được bức tranh toàn cảnh đáng sợ ấy. Hắn sững sờ kinh hãi nhìn người phụ nữ trước mặt, trong lòng nổi lên những đợt sóng cuộn trào dữ dội; hắn không thể nào tưởng tượng nổi một nữ nhân chốn khuê các thâm u làm sao có thể tích lũy được một vốn tri thức siêu việt, sâu sắc và bác ái đến mức độ phi thường như thế này.
Trước ánh mắt kinh ngạc dò xét của Thượng Thiện, Lưu nương tử khẽ rũ mi mắt xuống, khóe môi nở một nụ cười nhàn nhạt pha lẫn nỗi cô đơn chua xót như đóa hoa cúc tàn trước gió đông. Nàng thở dài buông một câu tự giễu rằng nửa đời người bị giam cầm trong bốn bức tường thâm trạch đại viện lạnh lẽo, nữ công gia chánh nàng lại vụng về chẳng biết thêu thùa, nếu đêm đêm không tự mình mày mò nghiên cứu những thứ kỳ quái này để giết thời gian thì những năm tháng đằng đẵng dài như vô tận ấy làm sao nàng có thể chống chọi để sống sót qua ngày được.
Nhìn thấy vẻ thê lương và nỗi đau sâu kín lướt qua đôi mắt người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh, cõi lòng Thượng Thiện quặn thắt lại từng cơn chua xót. Hắn hạ thấp giọng, nghiêm cẩn hứa chắc nịch rằng từ nay về sau hắn sẽ vĩnh viễn không bao giờ nhắc lại chuyện đem những tiện nghi này ra buôn bán nữa. Lưu nương tử giương mắt nhìn hắn mỉm cười, một nụ cười đượm vẻ biết ơn và thanh thản như làn gió xuân ấm áp, khiến cho trái tim người lãng tử bỗng chốc rung động rạo rực, vừa cay đắng xót xa lại vừa ngập tràn một tình yêu thương sâu sắc khôn nguôi.
Đêm hôm đó, gió bấc ngoài trời rít từng cơn lạnh buốt qua những rặng tre, tuyết trắng bắt đầu phủ dày từng lớp xốp mịn trên những mái ngói rêu phong. Thế nhưng bên trong gian nhà giữa lại ấm áp lạ thường nhờ ngọn lửa bập bùng từ chiếc lò sưởi nhỏ. Thượng Thiện cùng Cẩn Ngôn ngồi bệt trên chiếc đệm rơm, dùng que tre vùi những củ khoai lang mật béo tròn vào lớp tro than hồng rực, mùi thơm bùi ngậy ngào ngạt lan tỏa khắp gian phòng xua tan đi sự giá rét của mùa đông phương bắc.
Cẩn Ngôn háo hức dùng hai tay áo bưng một củ khoai chín nướng thơm lừng, vừa thổi phù phù vừa bẻ đôi ra làm hai nửa vàng ươm tươm mật ngọt, cậu bé lễ phép dâng nửa lớn cho Thượng Thiện rồi vui sướng chạy sang phòng bên dâng nửa còn lại cho mẫu thân. Nhìn đứa trẻ ríu rít nói cười quanh quẩn bên chân mẹ, thỉnh thoảng lại quay sang hỏi Thượng Thiện về phong tục đốt pháo hoa và treo câu đối đỏ trong ngày tết sắp tới, cõi lòng Thượng Thiện dâng lên một dòng cảm xúc ngọt ngào khó tả.
Lưu nương tử bưng ra một ấm trà nóng pha gừng cay nồng và vài lát cam thảo thơm lừng, ngồi xuống bên chiếc bàn trà nhỏ, cùng hắn và Cẩn Ngôn bàn tính chuyện sắm sửa đón tết Nguyên Đán. Nàng bảo rằng năm nay trang tử được mùa lúa, đậu tương đầy bồ, nàng dự định sẽ thưởng thêm cho mỗi lão bộc một bộ áo bông mới và vài quan tiền để họ ăn tết vui vẻ, lại mua thêm vài cỗ pháo hoa rực rỡ để tối ba mươi đốt cho cả làng cùng ngắm. Nghe giọng nói trong trẻo dịu dàng của nàng và tiếng Cẩn Ngôn vỗ tay reo hò, Thượng Thiện khẽ nhấp một ngụm trà gừng nóng ấm, nhìn qua song cửa sổ ngắm những bông tuyết trắng muốt đang lả tả bay ngoài hiên vắng. Hắn thầm cảm tạ trời đất đã ban cho hắn cơ duyên kỳ ngộ này, biến những hiểu lầm trớ trêu trở thành nhịp cầu nối liền hai tâm hồn cô độc, để hắn được nương náu trong một mái ấm bình dị chan chứa tình thân mà cả đời hắn hằng khao khát kiếm tìm.
Khi những tia nắng ban mai đầu tiên le lói xuyên qua lớp giấy dán cửa sổ rọi vào góc phòng nhỏ dưới tầng trệt tú lâu, Lục Thượng Thiện bỗng giật mình tỉnh giấc, đưa hai bàn tay lên ôm chặt lấy đầu mà phát ra một tiếng rên rỉ nghẹn ngào từ tận đáy họng. Đầu óc hắn đau nhức ong ong như có người gõ búa, miệng đắng ngắt vì dư vị của hơi men cay nồng đêm qua. Thế nhưng nỗi đau đớn thể xác ấy làm sao sánh bằng sự xấu hổ và ngượng ngùng đang cào xé tâm can hắn lúc này.
Xưa nay tửu lượng của Thượng Thiện vốn dĩ đã cực kỳ kém cỏi, mà tửu phẩm lại càng tệ hại hơn gấp mười lần. Hắn có một tật xấu kỳ quái là hễ uống rượu say vào là không tài nào khống chế nổi cảm xúc của mình, thường hay kéo vạt tay áo người khác mà khóc lóc giãi bày tâm sự linh tinh. Bằng hữu thân thiết chốn thương trường ai nấy đều biết rõ thói quen ấy nên mỗi khi ngồi chung bàn rượu đều hết sức kiêng dè, bản thân hắn cũng luôn tự biết lượng sức mình mà khắc chế nghiêm ngặt, quanh năm suốt tháng hiếm khi nào để bản thân rơi vào cảnh say sưa túy lúy.
Thế nhưng điều trớ trêu và nghiệt ngã nhất chính là, dẫu cho hắn có say đến mức bất tỉnh nhân sự thì sau khi tỉnh rượu, từng câu từng chữ, từng cử chỉ than khóc mất mặt đêm qua hắn lại nhớ rõ mồn một như in trong đầu. Nhớ lại cảnh tượng bản thân một gã nam nhi bảy thước ngoài ba mươi tuổi mà lại đi nắm chặt vạt áo của một người phụ nữ bị hưu, gục đầu vào vai nàng khóc lóc nức nở như một đứa trẻ thơ bơ vơ giữa đêm tuyết, Thượng Thiện xấu hổ đến mức chỉ muốn đào một cái lỗ nẻ dưới nền đất để chui xuống. Hắn kéo chiếc chăn bông trùm kín mít qua đầu, quay mặt vào vách tường gạch mà nằm im thin thít, tuyệt nhiên không dám cựa quậy hay bước chân xuống giường.
Đang lúc hắn đang vò đầu bứt tai trong cơn dằn vặt bẽ bàng thì tiếng gõ cửa cọt kẹt nhẹ nhàng cùng tiếng bước chân rón rén vang lên từ bên ngoài thềm hiên. Tiếng nói trong trẻo của đại nha hoàn Tứ Hỉ Nhi cất lên qua khe cửa, kính cẩn thưa rằng trời đã sáng rõ, nàng mang một chậu nước ấm sạch sẽ đến để hầu hạ Lục gia rửa mặt chải đầu.
Nghe thấy cách xưng hô Lục gia lạ lẫm ấy, Thượng Thiện giật thót tim một cái. Hắn hít sâu vài hơi dài, cố gắng vận dụng toàn bộ tu vi điềm tĩnh bấy lâu nay bôn ba trên thương trường để điều chỉnh cơ mặt trở lại vẻ thản nhiên ung dung như thường ngày, rồi mới chậm rãi bước ra mở cửa. Cánh cửa vừa hé mở, Tứ Hỉ Nhi đã cúi đầu thật thấp, hai tay nâng chậu nước đồng ấm áp bốc hơi mờ ảo đưa tới, miệng nói lời cung kính rằng trang tử thôn dã nghèo khó thiếu thốn kẻ hầu người hạ, phu nhân dặn dò nàng xin ngài rộng lòng lượng thứ cho sự tiếp đãi sơ sài này. Nàng còn ân cần báo trước rằng chỉ chừng một khắc nữa thôi là nhà bếp sẽ dọn bữa cơm sáng, mời Lục gia mau chóng sửa soạn rồi qua dùng bữa cùng mọi người.
Nhìn chiếc khăn mặt trắng tinh tươm cùng đôi giày da của mình đã được ai đó cẩn thận hong khô bên bếp than từ lúc nào đặt ngay ngắn dưới chân giường, trong lòng Thượng Thiện bỗng dâng trào một làn sóng ấm áp lạ kỳ. Lưu nương tử quả thực là người chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc; nàng xem hắn như người thân trong nhà, mà chuyện than khóc thảm hại đêm qua dường như cũng chẳng hề khiến nàng có nửa phần chê cười hay khinh ghét.
Sau khi rửa mặt chải đầu gọn gàng, Thượng Thiện cố gắng giữ vẻ mặt bình tĩnh bước ra khỏi căn phòng nhỏ tầng dưới tú lâu tiến về phía gian nhà chính. Vừa bước chân qua khỏi rặng trúc xanh rậm rạp, hắn bỗng chạm mặt Cẩn Ngôn đang đứng nép bên cạnh mẫu thân. Nhìn thấy Lục thúc thúc từ trong tú lâu của mẹ mình bước ra trong bộ dạng áo bông mộc mạc, đôi mắt Cẩn Ngôn bỗng chốc trợn tròn xoe lên như hai quả nhãn lồng, cậu bé nhìn chằm chằm vào Thượng Thiện từ đầu đến chân rồi lại quay sang nhìn gương mặt còn vương nét ngái ngủ của người mẹ nuôi.
Không kìm nổi sự tò mò trẻ thơ, Cẩn Ngôn liền kéo kéo vạt tay áo của Lưu nương tử, ngập ngừng hỏi nhỏ một câu rằng liệu bản thân mình từ nay về sau có nên đổi cách xưng hô gọi Lục thúc thúc thành phụ thân hay không. Lời nói ngây thơ ấy khiến cho khuôn mặt tròn trịa của Lưu nương tử giật giật hai cái dữ dội. Nàng lập tức vung tay thưởng cho cậu con trai một cái cốc đầu kêu một tiếng giòn tan, gắt gỏng mắng rằng Lục thúc thúc đêm qua đến chơi quá muộn, sợ làm ồn kinh động đến giấc ngủ của người già trẻ nhỏ nên mới tạm thời ở lại gian phòng trống dưới lầu ngủ nhờ một đêm mà thôi. Gương mặt vốn đang cố tỏ ra ung dung của Thượng Thiện cũng theo đó mà đỏ bừng lên tận mang tai, hắn ngượng ngùng hắng giọng một tiếng, vội vã chắp tay tạ ơn Lưu nương tử đã rủ lòng thu lưu cưu mang, bằng không trong trận bão tuyết đêm qua hắn đã sớm bị đông cứng thành một tảng băng ngoài đồng không mông quạnh rồi.
Cẩn Ngôn xoa xoa chỗ đầu bị cốc, đôi mắt vẫn ánh lên vẻ tò mò không chịu buông tha, liền cất tiếng hỏi dồn xem cớ sao Lục thúc thúc lại đến trang tử vào giờ khuya khoắt buốt giá như thế. Ở nhà họ Lưu, nếp sinh hoạt gia đình vốn dĩ vô cùng bình đẳng và ấm cúng; nếu không phải vì đám gia bộc kiên quyết giữ gìn tôn ti trật tự thì Lưu nương tử thậm chí đã kéo tất cả mọi người cùng ngồi chung một bàn lớn để ăn cơm. Lúc này trong gian nhà giữa, Lưu nương tử dẫn Thượng Thiện và Cẩn Ngôn ngồi ở chiếc bàn gỗ vuông nhỏ phía trên, còn đám cựu binh và tỳ nữ thì quây quần quanh chiếc bàn tròn lớn kê ở gian bên cạnh.
Vừa nghe Cẩn Ngôn thốt ra câu hỏi ấy, hơn mười ánh mắt của đám gia nhân đang ngồi bên bàn lớn bỗng chốc nhất tề quay ngoắt lại, đổ dồn lên người Thượng Thiện với vẻ dò xét và tò mò cao độ, khiến cho toàn thân hắn bất giác nổi gai ốc khắp người. Thượng Thiện nuốt khan một ngụm nước bọt, cố gắng giữ vẻ mặt lạnh nhạt của kẻ từng trải mà ứng biến rằng, người xưa thường bảo mỗi dịp lễ tết cuối năm lại càng nhớ nhung người thân ruột thịt da diết, đêm qua hắn nhớ Cẩn Ngôn quá đỗi nên mới cưỡi ngựa đến đây thăm cậu bé.
Câu trả lời gượng gạo ấy lập tức làm rộ lên một loạt tiếng ho khan khúc khích từ phía bàn ăn của đám gia bộc, có vài tiểu nha hoàn vụng trộm đưa tay áo lên che miệng cười tủm tỉm. Thượng Thiện dẫu có dày dạn sương gió thương trường đến đâu thì hai vành tai cũng không khỏi nóng rực lên vì thẹn thùng. Thế nhưng Cẩn Ngôn suy cho cùng vẫn chỉ là một đứa trẻ thơ ngây, nghe thúc thúc nói nhớ mình liền vui sướng tít mắt, cậu bé lập tức cầm đũa gắp một miếng dồi lợn xào dưa thơm lừng bỏ vào bát của Thượng Thiện, ríu rít mời mọc rằng món này do chính tay mẹ cậu làm, bảo hắn hãy mau chóng nếm thử xem ngon miệng đến nhường nào.
Bữa điểm tâm sáng mùa đông nơi trang tử tuy đạm bạc nhưng lại vô cùng thơm ngon và thịnh soạn. Một âu cháo hạt sen nấu đường phèn sánh mịn bốc khói ngào ngạt, một đĩa bánh ngô nướng vàng ươm giòn rụm bên ngoài nhưng mềm ngọt bên trong, cùng đĩa dồi lợn xào dưa chua thơm nức mũi. Thượng Thiện vừa ăn vừa chậm rãi lắng nghe Lưu nương tử căn dặn Cẩn Ngôn ăn cho no bụng để lát nữa còn phụ giúp Tôn bá dọn dẹp chuồng ngựa. Nhìn cảnh tượng đầm ấm rộn rã tiếng cười vui ấy, cõi lòng Thượng Thiện dâng lên một cảm giác bình yên đến lạ kỳ, hoàn toàn khác hẳn những bữa ăn ngột ngạt chan đầy nước mắt và toan tính nơi Lục phủ.
Thế nhưng Thượng Thiện không hề hay biết rằng, tính mạng của mình vào rạng sáng hôm nay vừa mới may mắn đi dạo một vòng qua quỷ môn quan trở về. Nguyên lai lúc sáng sớm tinh mơ, khi lão Tôn bá đi tuần tra phát hiện ra con ngựa chiến của Thượng Thiện được buộc trong chuồng và biết hắn đã ngủ lại qua đêm trong tú lâu của nữ chủ nhân, lão cựu binh già tính khí nóng như lửa than đã lập tức vác thanh đại đao sáng loáng định xông vào chém đầu tên công tử hào môn to gan lớn mật để bảo vệ danh tiết cho Lưu nương tử. May nhờ có Triệu bá là người từng trải cơ trí kịp thời giữ chặt lấy cán đao khuyên can hết lời.
Triệu bá mắng Tôn bá rằng đầu óc rỗng tuếch không biết suy nghĩ trước sau; phu nhân vốn dĩ là người có chủ kiến và bản lĩnh phi thường, nếu như nàng không tự nguyện mở cửa đón người vào thì dẫu có đốt nhà tạo ra tiếng động kinh thiên động địa nàng cũng chẳng để yên, làm sao có thể lặng lẽ êm đềm ngủ suốt một đêm như thế được. Nay nhìn thấy sắc mặt Lưu nương tử buổi sáng vẫn bình thản như thường, lại thấy Thượng Thiện trò chuyện thân mật cưng chiều Cẩn Ngôn như con đẻ, đám lão gia bộc không khỏi có một sự suy diễn sai lệch vô cùng ngọt ngào. Bọn họ đinh ninh rằng quan hệ giữa hai người đã gạo nấu thành cơm, từ nay về sau không gọi Thượng Thiện là Lục công tử nữa mà nhất tề đổi xưng hô thành Lục gia đầy vẻ tôn kính; thậm chí nếu không sợ Lưu nương tử thẹn quá hóa giận thì đám lão binh đã sớm mở miệng gọi thẳng hắn một tiếng cô gia cho danh chính ngôn thuận rồi.
Sau buổi sáng hôm ấy, Thượng Thiện quyết định dứt khoát không trở về Lục phủ ngột ngạt nữa. Hắn biết rõ việc mình nửa đêm phóng ngựa chạy trốn khỏi phủ đệ đã khiến lão tổ mẫu và hai người ca ca dòng chính hoảng loạn tột cùng. Quả nhiên đúng như dự đoán, ngay sáng mồng chín tiết Lạp Bát, Lục phủ bỗng rơi vào cảnh hỗn loạn như rắn mất đầu. Không có Thượng Thiện đứng ra ký duyệt ngân sách và điều phối các đơn hàng vải vóc cuối năm, các chủ nợ và lái buôn tơ lụa lũ lượt kéo đến vây kín cổng đòi thanh toán tiền hàng. Hai người ca ca dòng chính quanh năm chỉ biết ngâm thơ vịnh nguyệt run lẩy bẩy không biết xử trí ra sao, còn hai người chị dâu thì bắt đầu cãi cọ om sòm tranh giành từng chìa khóa kho gạo để thủ thân.
Lão tổ mẫu nằm trên giường bệnh tức giận đến mức thở không ra hơi, vội vã sai quản sự mang bạc đi khắp các trà lâu tửu quán và biệt viện truy tìm tung tích Thượng Thiện nhưng đều hoài công vô ích. Đến khi dò la biết được hắn đang nương náu tại trang tử họ Lưu, tổ mẫu liền phái đại ca dắt theo vài gia nhân mang lễ vật đến trước cổng Trương gia trang, định bụng dùng chiêu bài tình thân để khuyên nhủ hắn quay về gánh vác món nợ khổng lồ. Thế nhưng khi đám người Lục phủ vừa bước chân đến đầu ngõ, Tôn bá và các lão cựu binh đã vác đại đao và trường thương đứng chắn ngang đường, mắt quắc lên như hổ dữ quát tháo xua đuổi. Đám gia nhân Lục phủ sợ vỡ mật, dẫu có đưa bạc đút lót cũng bị ném trả thẳng vào mặt, đành phải ngậm ngùi dắt nhau xám xịt quay đầu trở về thành, để mặc cho Lục gia chìm trong những ngày tết ảm đạm thê lương.
Tại trang tử họ Lưu, Thượng Thiện phân phó cho Thị Mặc quay về biệt phủ thu dọn toàn bộ rương hòm hành lý cá nhân mang sang đây, đồng thời hào sảng móc túi lấy ra hai trăm lượng bạc trắng trao tận tay Lưu nương tử để góp vào chi phí ăn uống sinh hoạt hàng ngày cho cả gia đình. Hành động dọn đồ đến ở hẳn và chi ra một món tiền lớn như thế lại càng khiến cho người nhà họ Lưu tin chắc mười mươi rằng Lục Tam công tử chính là chàng rể hiền chưa cưới của gia đình, thái độ phục vụ đối đãi với hắn ngày càng thêm phần ân cần cung kính.
Gian nhà giữa vốn dĩ chỉ có một chiếc giường tre của Cẩn Ngôn, nay có thêm sự xuất hiện của Thượng Thiện liền trở nên vô cùng nhộn nhịp. Lưu nương tử bảo Tôn bá mang thêm một chiếc sập gỗ liễu chắc chắn kê vào góc phòng, dùng một tấm rèm lụa màu xanh biếc ngăn đôi gian phòng thành hai nửa trong ngoài, vừa giữ được sự riêng tư cần thiết lại vừa vô cùng ấm cúng. Chiếc bàn học của Cẩn Ngôn được dọn dẹp ngăn nắp, đặt ngay cạnh giá sách mới đóng bằng gỗ thông thơm phức.
Những buổi chiều rảnh rỗi sau giờ học chữ, Thượng Thiện lại lấy chiếc bàn tính bằng gỗ mun bóng lộn mang từ biệt phủ sang, kiên nhẫn cầm tay chỉ cho Cẩn Ngôn từng quy tắc gẩy bàn tính, cách cộng trừ nhân chia nhanh nhạy và phương pháp ghi chép sổ sách kế toán theo lối chữ thập của giới buôn bán lớn. Cẩn Ngôn thông minh đĩnh ngộ, ngón tay nhỏ nhắn thoăn thoắt gẩy từng hạt bàn tính lách cách giòn giã, chỉ trong vài buổi đã có thể tính toán thành thạo các khoản chi thu mớ rau con cá trong nhà. Đổi lại, đứa trẻ lớn lên nơi đồng nội lại hào hứng dắt Thượng Thiện ra sau đồi trúc, dạy cho hắn cách đẽo ống trúc làm sáo thổi véo von, cách dùng dây gai bện thành những chiếc bẫy bồ câu tinh xảo và cách phân biệt những loài nấm rừng thơm ngon có thể hái về nấu canh.
Không chỉ có Cẩn Ngôn, mà ngay cả năm người cựu binh già trong nhà cũng ngày càng yêu quý chàng nho thương họ Lục. Những buổi chiều đông râm mát khi công việc đồng áng đã vãn, các lão bộc thường quây quần bên đống lửa sưởi ngoài sân, vừa mài lại những thanh đại đao và mũi giáo cùn rỉ sét vừa râm ran kể lại những trận đánh giặc Oa khốc liệt nơi bờ biển phương đông năm nào. Thượng Thiện không hề có nửa phần kiêu căng ngạo mạn của con nhà quyền quý; hắn ngồi bệt trên khúc gỗ mục cùng các lão binh, sai Thị Mặc lấy ra những bình rượu ngon ủ bằng nếp cái hoa vàng mang từ trong thành ra mời các bậc tiền bối cùng nhắm với đĩa cá khô nướng than hồng. Hắn chăm chú lắng nghe từng chiến tích bi tráng, học hỏi những thế thương đâm thẳng dũng mãnh của quân đội, khiến đám cựu binh già cảm động khôn xiết, coi hắn như một người tướng lĩnh trẻ tuổi kiên trung mà họ sẵn sàng liều mạng bảo vệ.
Thế nhưng điều khiến đám gia bộc hoang mang và sốt ruột nhất chính là việc Lưu nương tử lại xếp đặt cho Thượng Thiện ở chung phòng với Cẩn Ngôn tại gian nhà giữa, tuyệt nhiên không hề đả động gì đến chuyện cưới xin hôn lễ. Hai người trong cuộc cứ thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra, khiến cho đám gia nhân đứng ngoài nóng ruột như lửa đốt chẳng khác nào hoàng đế không vội mà thái giám đã vội đến muốn chết.
Thực chất, tất cả sự việc êm đềm này đều bắt nguồn từ những hiểu lầm chồng chất lên nhau giữa hai con người mang nhiều vết thương lòng. Về phía Thượng Thiện, sau khi nghe lỏm được dã tâm tàn độc của tổ mẫu muốn dùng miệng đời dìm chết danh dự của mình để biến hắn thành kẻ tôi tớ nuôi béo dòng chính, hắn đã hoàn toàn tuyệt vọng và đoạn tuyệt tình cảm với gia tộc họ Lục. Hắn trốn tránh sự quấy nhiễu của gia đình, tìm thấy nơi trang tử này một chốn dung thân ấm áp hiếm hoi giữa mùa đông giá rét, nên dứt khoát mặt dày nán lại nương nhờ vài ngày để tìm lại sự thanh thản cho tâm hồn.
Còn về phần Lưu nương tử, sự thấu hiểu và bao dung của nàng lại bắt nguồn từ một sự hiểu lầm tai hại đến mức dở khóc dở cười. Trong mắt nàng, chàng Tam công tử Lục gia này không những có thân thế con thứ mồ côi mẹ đáng thương, mà bi đát hơn cả là hắn dường như đang mắc phải chứng bệnh kín bất lực không thể làm một người đàn ông bình thường. Bản tính của người phụ nữ từng chịu nhiều đau khổ và mất đi thiên chức làm mẹ khiến nàng dâng trào một niềm trắc ẩn sâu sắc. Mặc kệ những lời đồn thổi cay nghiệt bên ngoài mắng chửi nàng là hồ ly tinh dụ dỗ công tử nhà giàu, nàng càng muốn giang rộng vòng tay che chở cho người đàn ông tội nghiệp ấy. Dù sao hắn ở lại đây cũng chỉ đọc sách dạy dỗ Cẩn Ngôn chứ chẳng làm điều gì thất lễ, có thêm một người bạn tri kỷ đàm đạo giải sầu qua ngày đông giá rét thì có gì là không tốt đâu.
Và trong chuỗi những hiểu lầm ngọt ngào ấy, người vui sướng và hạnh phúc nhất chính là cậu bé Trương Cẩn Ngôn. Suốt tám năm cuộc đời côi cút chịu nhiều tủi nhục, đây là lần đầu tiên cậu bé được nếm trải trọn vẹn cảm giác ấm áp của một mái ấm gia đình thực sự. Lục thúc thúc ngày ngày bên cạnh dạy cậu tập võ đọc sách, mẫu thân đối với thúc thúc lúc nào cũng ôn hòa tươi cười, nếp nhà rộn rã tiếng cười vui chẳng khác nào hương vị của một gia đình ba người ruột thịt đầm ấm.
Nguyên bản ban đầu Thượng Thiện chỉ định nán lại trang tử dăm ba bữa cho khuây khỏa cõi lòng, thế nhưng càng ở lâu, hắn lại càng quyến luyến không nỡ dứt áo ra đi. Hắn cùng Cẩn Ngôn dọn vào ở chung tại gian nhà giữa rộng rãi, chỉ dùng một tấm rèm lụa màu xanh biếc ngăn đôi gian phòng thành hai nửa trong ngoài. Khi trời còn chưa kịp sáng rõ, sương mai còn đọng long lanh trên cành lá, Cẩn Ngôn đã thức dậy kéo hắn ra khoảng sân rộng trước cửa để hoạt động gân cốt. Nếu không đau ốm, Lưu nương tử cũng dậy sớm quét tước sân phơi ngũ cốc, còn các lão cựu binh Tôn bá, Triệu bá thì đã sớm vung đại đao và trường thương loang loáng luyện tập võ nghệ giữa làn sương sớm.
Dưới rặng trúc xanh rì rào trong gió sớm, Lưu nương tử kiên nhẫn hướng dẫn Cẩn Ngôn từng động tác Niệm Đầu và kỹ thuật dính tay của bài quyền Vịnh Xuân. Đôi bàn tay nàng thoăn thoắt biến ảo, lấy nhu thắng cương, mượn lực đánh lực, chỉ tập trung vào việc bảo vệ đường trung tuyến cơ thể. Thượng Thiện đứng bên cạnh chăm chú quan sát, nhận ra sự tinh diệu tuyệt luân của môn võ này liền rút thanh kiếm tùy thân ra múa vài đường kiếm hoa cương dẻo dai hỗ trợ đối luyện cùng hai mẹ con. Hắn tận tình chỉ điểm cho Cẩn Ngôn cách hạ thấp trọng tâm, cách thở đều theo nhịp đan điền để giữ cho đôi chân vững chãi như bàn thạch.
Thượng Thiện vừa vung kiếm gỗ đỡ những đòn chưởng pháp linh hoạt của Cẩn Ngôn vừa giảng giải rằng, kiếm pháp nội gia phương bắc chú trọng vào bộ pháp di chuyển như rồng bay phượng múa, mượn sức của trời đất để bồi đắp khí lực; nếu Cẩn Ngôn biết kết hợp sự mau lẹ, hiểm hóc ở tầm gần của quyền pháp Vịnh Xuân với sự vững chãi, biến hóa khôn lường của kiếm thuật phương bắc thì sau này dẫu có gặp phải đối thủ cao lớn gấp bội cũng hoàn toàn có thể thong dong ứng biến. Cậu bé nghe xong vô cùng thích thú, hai mắt sáng rực lên, vừa cười khanh khách vừa tung những cú đấm liên hoàn nhắm vào cán kiếm của Thượng Thiện. Lưu nương tử đứng bên bờ trúc nhìn hai chú cháu mồ hôi ướt đẫm trán nhưng nụ cười rạng rỡ như hoa nở ban mai, trong lòng bất giác dâng lên một cảm giác an tâm và ấm áp khôn tả.
Tập luyện xong xuôi, cả nhà lại quây quần bên bàn ăn dùng điểm tâm nóng sốt. Ban ngày, Thượng Thiện cùng Cẩn Ngôn vào thư phòng đọc sách luyện thư pháp và bàn luận đạo lý làm người; còn Lưu nương tử cùng đám gia bộc thì ai nấy đều có công việc đồng áng vườn tược riêng để chăm lo.
Trong thư phòng thoang thoảng mùi mực mới, Thượng Thiện cẩn thận mở cuốn sách Mạnh Tử ra giảng giải cho Cẩn Ngôn về tư tưởng dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Hắn phân tích rằng bậc thánh hiền thời xưa coi trọng ấm no của muôn dân hơn cả ngôi báu cửu ngũ, người làm quan hay kẻ làm giàu muốn có được chỗ đứng vững bền giữa trời đất thì điều cốt tử trước hết là phải biết lấy lòng nhân ái mà đối đãi với kẻ dưới quyền. Lưu nương tử đang ngồi nhặt đỗ ngoài hiên nghe thấy lời luận giải ấy liền mỉm cười gật đầu, cất giọng tiếp lời rằng một đất nước muốn thái bình thịnh trị thì từng mái nhà tranh phải được no ấm, mà một gia đình muốn hòa thuận hưng vượng thì từng con người dẫu là con nuôi hay kẻ ở người làm đều phải được tôn trọng nhân phẩm và yêu thương thật lòng. Lời đàm đạo mộc mạc mà sâu sắc giữa hai người lớn khiến cho Cẩn Ngôn ngồi giữa lắng nghe như nuốt từng lời từng chữ, cảm nhận được một nền tảng giáo dục nhân văn vững chãi đang từng ngày bồi đắp tâm hồn mình. Cuộc sống bình dị, tự do tự tại ấy tựa như một liều thuốc thần kỳ xoa dịu đi mọi vết thương lòng của người nho thương từng trải.
Thế nhưng điều khiến Thượng Thiện cảm thấy kinh ngạc và thán phục nhất chính là việc hắn phát hiện ra Lưu nương tử dường như sở hữu những hiểu biết và tiện nghi sinh hoạt tinh tế đến mức vượt xa thời đại. Khu vực nhà tắm trong trang tử chiếm một diện tích khá lớn ở góc hậu viện, toàn bộ nền đất đều được lát bằng những phiến đá xanh nhẵn thín được cọ rửa sạch bóng mỗi ngày. Nơi đây không hề dùng những chiếc thùng gỗ tắm thông thường chật chội, mà được xây dựng thành một cái ao tắm lát đá sâu chừng nửa mét vô cùng rộng rãi.
Thượng Thiện tò mò cùng Cẩn Ngôn đi một vòng khảo sát phía sau bức tường nhà tắm. Hắn kinh ngạc nhìn thấy một chiếc bồn chứa nước bằng đồng đỏ khổng lồ đặt trên giàn gạch cao kiên cố, nước giếng trong vắt được bơm lên bằng một cần gạt gỗ lợi dụng sức nước ròng rọc. Từ bồn chứa, nước lạnh chảy qua hệ thống ống đồng uốn lượn hình xoắn ốc chạy xuyên qua một chiếc lò than khép kín đang âm ỉ cháy, nhiệt lượng từ than củi lập tức đun sôi nước trong ống dẫn rồi truyền thẳng vào các vòi xả trong ao tắm. Cẩn Ngôn tự hào chỉ cho Thượng Thiện xem các mối nối được bọc kín bằng nhựa thông và keo sáp ong để chống rò rỉ, giải thích rằng mẹ cậu còn cho xây hai hầm lắng lọc ngầm dưới lòng đất chứa đầy cát thạch anh, than hoạt tính và sỏi cuội để lọc sạch xà phòng trước khi nước chảy ra tưới cho vườn rau. Giữa những ngày đông giá rét căm căm buốt xương này, mẹ con Lưu nương tử và đám gia nhân ngày nào cũng có đủ nước nóng để tắm gội sạch sẽ, một sự hưởng thụ xa hoa và văn minh mà ngay cả chốn hoàng cung vương phủ e rằng cũng chưa từng có được.
Không chỉ có nhà tắm, mà ngay cả khu nhà xí nơi góc vườn cũng được thiết kế vô cùng tinh xảo và sạch sẽ đến mức Thượng Thiện phải sững sờ kinh ngạc. Nơi đây có hệ thống bể chứa nước trên cao, dùng dây kéo để xả nước sạch cuốn trôi chất thải theo các đường ống ngầm dẫn ra hầm chứa cách xa khu nhà ở. Nước nóng sau khi dùng xong từ nhà tắm cũng được dẫn tuần hoàn qua hệ thống này, vừa làm sạch bóng loáng bề mặt đá lại vừa giữ cho các đường ống không bao giờ bị đóng băng nứt vỡ trong những ngày đông tuyết phủ. Nghe Cẩn Ngôn tự hào khoe rằng toàn bộ những công trình tiện nghi kỳ diệu này đều do một tay mẫu thân cậu tự vẽ bản vẽ và hướng dẫn thợ xây dựng nên, Thượng Thiện không khỏi choáng váng tâm can. Nhìn quanh ngôi nhà họ Lưu, trừ bộ bàn ghế liễu và chiếc giường ngủ thiết yếu thì bốn bức tường đều trống trơn không có lấy một món đồ cổ hay tranh chữ đắt tiền nào; nguyên lai người phụ nữ này đã dốc toàn bộ tiền bạc tích cóp được vào việc nâng cao chất lượng vệ sinh và sự tiện nghi hưởng thụ đời sống hàng ngày của gia đình.
Bản tính của một thương nhân nhạy bén bỗng chốc trỗi dậy mãnh liệt trong huyết quản Thượng Thiện. Hắn lập tức nhìn thấy một cơ hội kinh doanh béo bở ngàn năm có một; nếu như kỹ thuật lò nước nóng và hệ thống nhà tắm, nhà vệ sinh tự hoại này được đóng gói mang đi tiếp thị và bán bản quyền xây dựng cho các gia đình đại hào môn cự tộc chốn kinh kỳ hay các đại phú thương đất Giang Nam, thì số bạc kiếm được chắc chắn sẽ chất cao như núi, có thể thu về hàng vạn lượng bạc trắng một cách dễ dàng.
Nghĩ là làm, Thượng Thiện liền tìm gặp Lưu nương tử bên giàn hoa kim ngân, hào hứng bày tỏ ý định muốn bỏ vốn hợp tác để thương mại hóa phát minh vĩ đại này, cam kết sẽ chia cho nàng phân nửa lợi nhuận khổng lồ để mẹ con nàng cả đời sau được hưởng vinh hoa phú quý không bao giờ phải lo chuyện cơm áo gạo tiền.
Thế nhưng đáp lại sự sốt sắng của hắn, Lưu nương tử chỉ khẽ nhấp một ngụm trà đại mạch, thản nhiên buông một câu dứt khoát rằng chuyện này miễn bàn luận, phát minh này của nàng tuyệt đối không bao giờ được phép đem ra mua bán kiếm lời. Thượng Thiện ngạc nhiên gặng hỏi lý do, bảo rằng đây là cơ hội vàng để nàng trở thành một hào phú cự phách một phương, cớ sao lại thẳng thừng từ chối món hời lớn như vậy.
Lưu nương tử khẽ mỉm cười thanh thản, chậm rãi giải thích rằng bản thân nàng là một kẻ sợ khổ sợ bẩn, quen thói sạch sẽ nên mới mày mò làm ra những thứ này để phục vụ cuộc sống gia đình mà thôi. Trang tử nhà họ Lưu quy mô nhỏ hẹp chỉ có vài miệng ăn, nguồn nước thải được nàng dẫn qua các hầm lắng lọc bằng than củi và cát sỏi rồi mới thải ra đồng ruộng, nên có thể kiểm soát an toàn tuyệt đối. Thế nhưng nếu đem nhân rộng thứ kỹ thuật này ra các khu phố thị đông đúc của các đại hào môn, trong khi triều đình hoàn toàn chưa xây dựng được một hệ thống cống rãnh thoát nước ngầm đồng bộ và quy chuẩn xử lý nước thải quy mô lớn, thì hậu quả sẽ vô cùng khủng khiếp. Nước bẩn ngấm sâu vào lòng đất sẽ làm ô nhiễm toàn bộ mạch nước ngầm của các giếng ăn sinh hoạt, chuột bọ và ruồi muỗi sẽ sinh sôi nảy nở tràn lan, tạo nên những ổ dịch bệnh chết người như dịch tả, thương hàn hay chứng bệnh đen dịch hạch càn quét giết chết hàng ngàn hàng vạn sinh linh vô tội. Nàng dứt khoát tuyên bố rằng, bản thân dẫu có chết đói cũng tuyệt đối không bao giờ làm cái thứ kinh doanh thất đức, kiếm tiền trên xương máu và tính mạng của đồng bào thiên hạ như thế.
Những khái niệm dịch tễ học và y học môi trường hiện đại ấy nghe qua chẳng khác nào kinh thư từ trên trời rơi xuống, khiến cho một thương nhân học rộng hiểu nhiều như Thượng Thiện cũng phải lùng bùng lỗ tai, nghe nửa hiểu nửa không suốt hai ngày ròng rã. Phải nhờ đến Cẩn Ngôn, đứa trẻ đã quen với những lời nói kỳ lạ của mẹ từ thuở ấu thơ, đứng ra phiên dịch và giải thích lại bằng ngôn ngữ mộc mạc thôn dã thì Thượng Thiện mới dần dần ngộ ra được bức tranh toàn cảnh đáng sợ ấy. Hắn sững sờ kinh hãi nhìn người phụ nữ trước mặt, trong lòng nổi lên những đợt sóng cuộn trào dữ dội; hắn không thể nào tưởng tượng nổi một nữ nhân chốn khuê các thâm u làm sao có thể tích lũy được một vốn tri thức siêu việt, sâu sắc và bác ái đến mức độ phi thường như thế này.
Trước ánh mắt kinh ngạc dò xét của Thượng Thiện, Lưu nương tử khẽ rũ mi mắt xuống, khóe môi nở một nụ cười nhàn nhạt pha lẫn nỗi cô đơn chua xót như đóa hoa cúc tàn trước gió đông. Nàng thở dài buông một câu tự giễu rằng nửa đời người bị giam cầm trong bốn bức tường thâm trạch đại viện lạnh lẽo, nữ công gia chánh nàng lại vụng về chẳng biết thêu thùa, nếu đêm đêm không tự mình mày mò nghiên cứu những thứ kỳ quái này để giết thời gian thì những năm tháng đằng đẵng dài như vô tận ấy làm sao nàng có thể chống chọi để sống sót qua ngày được.
Nhìn thấy vẻ thê lương và nỗi đau sâu kín lướt qua đôi mắt người phụ nữ tài hoa nhưng bạc mệnh, cõi lòng Thượng Thiện quặn thắt lại từng cơn chua xót. Hắn hạ thấp giọng, nghiêm cẩn hứa chắc nịch rằng từ nay về sau hắn sẽ vĩnh viễn không bao giờ nhắc lại chuyện đem những tiện nghi này ra buôn bán nữa. Lưu nương tử giương mắt nhìn hắn mỉm cười, một nụ cười đượm vẻ biết ơn và thanh thản như làn gió xuân ấm áp, khiến cho trái tim người lãng tử bỗng chốc rung động rạo rực, vừa cay đắng xót xa lại vừa ngập tràn một tình yêu thương sâu sắc khôn nguôi.
Đêm hôm đó, gió bấc ngoài trời rít từng cơn lạnh buốt qua những rặng tre, tuyết trắng bắt đầu phủ dày từng lớp xốp mịn trên những mái ngói rêu phong. Thế nhưng bên trong gian nhà giữa lại ấm áp lạ thường nhờ ngọn lửa bập bùng từ chiếc lò sưởi nhỏ. Thượng Thiện cùng Cẩn Ngôn ngồi bệt trên chiếc đệm rơm, dùng que tre vùi những củ khoai lang mật béo tròn vào lớp tro than hồng rực, mùi thơm bùi ngậy ngào ngạt lan tỏa khắp gian phòng xua tan đi sự giá rét của mùa đông phương bắc.
Cẩn Ngôn háo hức dùng hai tay áo bưng một củ khoai chín nướng thơm lừng, vừa thổi phù phù vừa bẻ đôi ra làm hai nửa vàng ươm tươm mật ngọt, cậu bé lễ phép dâng nửa lớn cho Thượng Thiện rồi vui sướng chạy sang phòng bên dâng nửa còn lại cho mẫu thân. Nhìn đứa trẻ ríu rít nói cười quanh quẩn bên chân mẹ, thỉnh thoảng lại quay sang hỏi Thượng Thiện về phong tục đốt pháo hoa và treo câu đối đỏ trong ngày tết sắp tới, cõi lòng Thượng Thiện dâng lên một dòng cảm xúc ngọt ngào khó tả.
Lưu nương tử bưng ra một ấm trà nóng pha gừng cay nồng và vài lát cam thảo thơm lừng, ngồi xuống bên chiếc bàn trà nhỏ, cùng hắn và Cẩn Ngôn bàn tính chuyện sắm sửa đón tết Nguyên Đán. Nàng bảo rằng năm nay trang tử được mùa lúa, đậu tương đầy bồ, nàng dự định sẽ thưởng thêm cho mỗi lão bộc một bộ áo bông mới và vài quan tiền để họ ăn tết vui vẻ, lại mua thêm vài cỗ pháo hoa rực rỡ để tối ba mươi đốt cho cả làng cùng ngắm. Nghe giọng nói trong trẻo dịu dàng của nàng và tiếng Cẩn Ngôn vỗ tay reo hò, Thượng Thiện khẽ nhấp một ngụm trà gừng nóng ấm, nhìn qua song cửa sổ ngắm những bông tuyết trắng muốt đang lả tả bay ngoài hiên vắng. Hắn thầm cảm tạ trời đất đã ban cho hắn cơ duyên kỳ ngộ này, biến những hiểu lầm trớ trêu trở thành nhịp cầu nối liền hai tâm hồn cô độc, để hắn được nương náu trong một mái ấm bình dị chan chứa tình thân mà cả đời hắn hằng khao khát kiếm tìm.