Chương 2: Chó tinh và quỷ biển
Tôi sốc đến mức hai bên thái dương giật lên từng hồi đau buốt, lồng ngực thắt nghẹt như có một bàn tay vô hình bằng sắt nguội bóp chặt lấy khí quản, khiến hơi thở bị chặn đứng lại giữa chừng. Trong căn phòng ngủ tối nhờ nhờ chỉ lọt vào đôi vệt sáng mỏng manh từ ánh trăng lướt qua song cửa sổ, khuôn mặt của bà Hạnh đang dí sát vào mặt tôi ở một khoảng cách không tưởng, gần đến nỗi chóp mũi của bà ta hầu như đã chạm hờ vào làn da mỏng manh trên gò má tôi. Một luồng tử khí tanh nồng mùi bùn rêu đáy biển và thịt cá thối rữa phả từng đợt lạnh buốt vào da thịt, khiến toàn bộ chân lông trên cơ thể tôi dựng đứng cả lên. Đôi mắt bà ta trợn trừng thô lố, hai con ngươi lồi hẳn ra ngoài như mắt cá chết phơi nắng lâu ngày, phủ một màng đục mờ nhờ nhờ nhưng lại chằm chằm ghim thẳng vào hai mắt tôi mà không hề chớp lấy một cái. Tôi muốn hét to lên để gọi người cứu mạng nhưng cuống họng khô khốc, cứng đờ như bị đổ một lớp hồ dán đặc quánh, chỉ có thể phát ra những tiếng nghẹn ứ vô vọng trong lồng ngực đang đập thình thịch từng nhịp hoảng loạn.
Tôi không dám thở mạnh, thậm chí cố nín thở đến mức hai bên màng tang giật giật từng cơn nhức nhối, bởi trong đầu tôi bất chợt nhớ lại những câu chuyện rùng rợn mà người già trong làng vẫn thường hay kể bên bàn trà mỗi buổi chiều muộn. Người ta bảo rằng thi thể người vừa mới chết trôi rất nhạy cảm với hơi ấm của người sống, chỉ cần ngửi thấy một làn hơi thở người phả ra là cái xác sẽ lập tức chụp lấy, dùng những ngón tay khô cứng cắm sâu vào cổ họng để cướp đi tấc hơi tàn. Nhưng cứ ngồi bất động thi gan với một xác chết trôi sông trương phình như thế này thì quả thực tim tôi sẽ vỡ tung ra vì sợ hãi trước khi trời kịp sáng. Lấy hết chút can đảm sót lại trong tâm trí đang hoảng loạn, tôi khẽ nghiêng đầu sang bên trái một chút hòng thăm dò phản ứng của cái xác. Nào ngờ, ngay khoảnh khắc tôi vừa nhích người, toàn bộ cái xác lạnh ngắt cũng lập tức lắc lư, chầm chậm ngoẹo đầu sang cùng một hướng, giữ cho khoảng cách giữa hai khuôn mặt luôn luôn vừa đủ chạm nhẹ vào nhau. Thứ cảm giác da thịt nhầy nhụa, lạnh như đá tảng cọ xát vào da mặt làm dấy lên một cơn ngứa ngáy châm chích ghê rợn, giống như có hàng ngàn con sâu bọ li ti đang bò ngoằn ngoèo dưới lớp biểu bì.
Nước mắt tôi không kìm được nữa, cứ thế ứa ra tràn mi rồi chảy dài xuống hai bên thái dương. Tôi dùng hết sức bình sinh để điều khiển đôi chân của mình vùng dậy tháo chạy, nhưng hai bắp chân từ đầu gối trở xuống hoàn toàn tê dại, nặng trĩu tựa như có ai đó vừa đổ hàng tạ bê tông ướt trói chặt lấy cơ thể tôi vào mặt nệm. Trong cơn tuyệt vọng cùng cực, tôi thầm rủa xả trong bụng rằng tại sao bà hàng xóm này lại nhắm vào tôi, bởi từ trước đến nay tôi vốn là đứa lầm lì ít nói, chưa từng gây thù chuốc oán hay buông lời bất kính nào với gia đình bà ta. Vừa dứt ý nghĩ ấy, tôi kinh hoàng nhận ra khóe miệng nhớt nhát dãi dớt của cái xác bỗng nhếch lên thành một nụ cười méo mó đến rợn người, để lộ ra hai chiếc răng nanh nhọn hoắt vàng ệch đang rỉ ra từng giọt nước đen ngòm rớt tong tòng xuống vạt áo thun tôi đang mặc. Dường như nhờ vào phần trán đang chạm sát vào nhau mà cái xác chết trôi này có thể thấu suốt được toàn bộ những ý nghĩ giận dữ và hoảng loạn đang cuộn trào trong tâm trí tôi. Tôi run rẩy lẩm bẩm trong miệng những lời van xin đứt quãng, nhưng toàn thân đã bắt đầu rệu rã vì kiệt sức sau nhiều giờ đồng hồ ngồi căng cứng bất động.
Cơ thể tôi không còn chịu đựng nổi sức nặng của sự sợ hãi và tê dại nữa, cả người tôi bỗng chốc mất thăng bằng, bật ngửa ra phía sau rồi ngã bịch xuống mặt nệm giường. Ngay chính khoảnh khắc lưng tôi vừa chạm nệm, bóng đèn tròn leo lét ngoài góc phòng bỗng phụt tắt một tiếng khô khốc, ném cả căn phòng vào một khoảng tối đen như mực. Đồng thời, một luồng gió lạnh buốt thốc mạnh tới mang theo khối lượng nặng nề của cái xác bà Hạnh đang bổ nhào xuống đúng vị trí tôi vừa nằm ngửa. Không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì trong bóng đêm dày đặc, tôi chỉ cảm nhận được một sức ép nghẹt thở cùng thứ mùi hôi thối nồng nặc đang đè sụp xuống sát rạt bên người, kèm theo sự châm chích buốt giá trên da thịt ngày một dữ dội hơn. Bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt, tôi không dám ngồi dậy mà cuống cuồng dùng hai cùi chỏ và hai gót chân cào mạnh xuống mặt nệm, cố hết sức bình sinh đẩy toàn bộ thân người trườn lết thật nhanh về phía mép giường.
Nửa thân trên của tôi vừa nhoài ra khỏi nệm thì hẫng một nhịp rồi đập mạnh xuống nền đất xi măng lạnh buốt như nước đá mùa đông. Cú va chạm đột ngột làm trán và sống mũi tôi đau điếng, nhưng nỗi sợ hãi cái xác đang bay lơ lửng ngay phía trên đầu có thể đổ ụp xuống cắn xé da thịt đã lấn át toàn bộ cảm giác đau đớn thể xác. Lưng tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh hòa cùng bụi bặm dơ dáy dưới sàn nhà, tôi cuống cuồng lật úp người lại, chống hai tay xuống đất lấy đà rồi nhổm dậy lao thục mạng ra phía hành lang nhà trước. Hai đầu gối tôi bủn rủn, bước thấp bước cao quấn quýt vào nhau khiến tôi vấp phải bậc cửa gỗ, ngã dúi dụi đập cả mặt và hai cẳng tay xuống nền gạch tàu thô ráp. Những vết trầy xước toác ra rỉ máu rát bỏng, nhưng tôi chẳng còn tâm trí đâu mà bận tâm, chỉ biết cắm đầu cắm cổ bò dậy rồi chồm tới cánh cửa chính đang khóa chặt bằng chiếc then sắt gỉ sét.
Căn nhà trước tối đen như hũ nút, chỉ có hai chiếc bóng đèn trái ớt nhỏ xíu đặt trên bàn thờ tổ tiên tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch mờ ảo, hắt những vệt bóng dài ngoằng và ma quái lên các khung ảnh thờ của những người đã khuất. Trong luồng sáng đỏ nhờ nhờ đó, những đường nét trên gương mặt người trong ảnh như đang rỉ máu và lay động theo từng nhịp thở dồn dập của tôi. Đôi bàn tay tôi run bắn lên bần bật, chùm chìa khóa sắt trong tay rơi leng keng xuống nền nhà mấy lần liền khiến tôi suýt chút nữa ngất xỉu vì hoảng loạn. Tôi vừa luống cuống tra chìa vào ổ khóa vừa ngoái đầu nhìn trừng trừng về phía khúc quanh chữ L dẫn vào phòng ngủ, nửa như chờ đợi nửa như khiếp sợ cái bóng đen lặc lìa của bà Hạnh sẽ thình lình thò đầu ra với nụ cười nham nhở. Sau những giây phút dài như cả thế kỷ mò mẫm trong sợ hãi, chiếc then sắt cuối cùng cũng kêu lên một tiếng cạch giòn giã, tôi dùng cả bả vai húc mạnh tung cánh cửa gỗ rồi lao vụt ra ngoài khoảng sân rộng trước nhà.
Gió biển lúc rạng sáng thổi thốc vào từng cơn buốt giá làm tôi run rẩy cầm cập, chiếc áo thun mỏng manh ướt đẫm mồ hôi dán chặt vào da thịt lạnh ngắt. Bầu trời phương đông mới chỉ le lói những vệt sáng màu lam nhạt mờ mịt, vạn vật xung quanh vẫn còn chìm đắm trong sự tĩnh mịch ghê rợn, thỉnh thoảng chỉ có tiếng gà gáy sớm vọng lại từ những xóm chài xa xôi. Tôi đứng chơ vơ giữa sân nhìn quanh bốn phía, một cảm giác cô độc và bất lực đến tột cùng bóp nghẹt lấy trái tim một đứa con gái mười lăm tuổi. Tôi không biết mình nên chạy đi đâu để tìm kiếm sự an toàn trong cái làng chài biệt lập này, bởi cha mẹ tôi đã có việc đi xa sang cù lao bên cạnh từ hai ngày trước, còn người chị họ ở chung thì đã bỏ đi đâu mất tăm mất tích. Cuối cùng, tôi đành ngồi thu lu một góc sát vách tường trước cửa nhà, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, cằm tì lên xương bánh chè run rẩy thi gan với màn sương sớm lạnh lẽo rải đầy hơi muối.
Cha tôi là một người đàn ông miền biển dạn dày sương gió nhưng tính tình lại vô cùng khép kín và có phần cay nghiệt với thói đời. Mỗi bận đi nhậu say mèm trở về nhà, ông lại lôi tôi lại gần bên manh chiếu, phả ra mùi rượu đế nồng nặc rồi khề khà nhắc đi nhắc lại rằng thói đời bạc bẽo như vôi, tình cảm thế gian nhạt nhẽo tựa nước ốc, chỉ có ruột thịt cha mẹ mới thương mình thật lòng, tuyệt đối chớ dại dột tin cậy bất cứ kẻ nào trong làng. Ông vừa nói vừa vỗ bôm bốp vào đầu tôi như muốn khắc sâu bài học phòng người ấy vào tận óc tủy non nớt của tôi. Có lẽ chính vì những lời dạy dỗ đầy hoài nghi đó mà từ thuở tấm bé, tôi đã hình thành một thói quen xa cách, gặp ai trong xóm cũng chỉ gật đầu chào lấy lệ cho trọn đạo nghĩa rồi lặng lẽ quay đi, gương mặt lúc nào cũng lạnh tanh như tảng băng trôi ngâm dưới nước mặn. Người duy nhất chịu đựng được tính khí gàn dở và sự lạnh lùng của tôi là Biển, thằng anh họ bằng tuổi con nhà dì Hai. Tôi càng xua đuổi, càng buông lời gắt gỏng cay độc thì nó lại càng toe toét bám riết lấy tôi như hình với bóng, lâu dần thành một thói quen khó bỏ, nếu nửa ngày không thấy bóng dáng nó lảng vảng trước ngõ là tôi lại cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó thân thuộc.
Ngôi nhà của bà ngoại tôi thì nằm tít mãi tận mé bìa rừng bên kia ngọn đồi nhỏ, muốn đến được đó phải lội bộ băng qua một cánh rừng dương liễu rậm rạp um tùm. Ban ngày đi qua đó đã thấy rờn rợn bởi bóng râm che khuất ánh mặt trời, huống hồ là lúc trời tranh tối tranh sáng ma quái như lúc này. Mỗi khi bóng chiều tà đổ xuống hay những đêm gió bấc thổi mạnh từ biển khơi vào, những cành dương liễu khẳng khiu lại đung đưa lắc lư liên hồi trên nền cát trắng, in những cái bóng ngoằn ngoèo rũ rượi xuống mặt đất chẳng khác nào hình ảnh những người phụ nữ tóc dài xõa xượi đang ngồi chải đầu trong đêm vắng. Bà ngoại tôi từng trầm ngâm bảo rằng đó là khúc hát ai oán của những người con gái lỡ thì mòn mỏi chờ đợi chồng đi biển không bao giờ trở về, đau khổ u uất quá mà hóa thân thành rừng cây than khóc cùng sóng vỗ. Nghĩ đến cảnh tượng phải một mình mò mẫm qua cánh rừng dương rùng rợn ấy giữa lúc hồn ma bà Hạnh đang lẩn khuất đâu đây, tôi rùng mình thà chịu chết cóng trước hiên nhà mình còn hơn là đâm đầu vào chốn hiểm nguy ấy.
Cứ thế, tôi ngồi gà gật trong nỗi sợ hãi chực chờ, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập cho đến khi vầng thái dương từ từ nhô lên khỏi mặt biển đằng xa, rải những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên xuống mái ngói rêu phong và khoảng sân cát. Ánh sáng rực rỡ của ban ngày dần xua đi lớp sương mù ẩm ướt, cùng lúc đó tiếng bước chân lạo xạo của những người đi gỡ lưới sớm, tiếng í ới gọi nhau họp chợ cá bắt đầu vang lên rộn rã ngoài con đường đất đỏ. Thấy không gian xung quanh đã tràn ngập hơi thở của người sống, tâm thần tôi mới dần dần định hình trở lại sau một đêm kinh hoàng thót tim. Tôi lò dò đứng dậy mở then cửa bước vào nhà, gom hết mùng mền chiếu gối còn vương mùi tanh tưởi đem ra giàn phơi trước sân, rồi lại kéo một chiếc ghế đẩu ra ngồi thẫn thờ trước hiên, ngóng trông bóng dáng người thân sang đón.
Nghĩ đến cảnh ngộ đơn độc và nỗi kinh hoàng vừa trải qua trong đêm tối, một cơn tủi thân bất chợt trào dâng khiến sống mũi tôi cay xè, hai hàng nước mắt lại lã chã rơi xuống vạt áo. Cha mẹ thì bặt vô âm tín chưa thấy bóng thuyền cập bến, bà ngoại thì tuổi cao sức yếu chưa thể qua ngay, người chị họ thì biến mất không một lời nhắn nhủ, bỏ lại tôi một mình đối mặt với cái chết kề cận. Đang lúc tôi cúi gằm mặt xuống hai đầu gối nức nở khóc rấm rứt thì bỗng nhiên có một bàn tay đập mạnh vào sau ót tôi nghe một tiếng cốp khô khốc, làm trán tôi dộng thẳng vào đầu gối đau điếng. Tôi giật bắn mình giận dữ ngẩng phắt mặt lên toan gắt gỏng chửi bới, nhưng vừa nhìn thấy khuôn mặt hớn hở phớ lớ cùng hàm răng sún của thằng Biển đang nhe ra cười toe toét, cơn giận trong tôi bỗng chốc xẹp xuống, thay vào đó là một cảm giác nhẹ nhõm đến lạ kỳ.
Biển lập tức ngồi thụp xuống chiếc đòn gót bằng gỗ đối diện với tôi, thu lại nụ cười cợt nhả rồi bày ra một vẻ mặt nghiêm trọng đến mức hai hàng lông mày nhíu chặt vào nhau, tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán đen nhẻm vì nắng gió. Dù mới mười lăm tuổi nhưng mỗi khi nó bày ra cái bộ dạng trầm tư toan tính đó, trông nó chẳng khác nào mấy ông lão sáu mươi tuổi hay ngồi đánh cờ tướng dưới gốc cây bàng ngoài đình làng với ông ngoại tôi. Nhìn bộ dạng dở khóc dở cười ấy của nó, tôi vừa gạt nước mắt vừa cất giọng khàn đặc hỏi nó lại bày trò gì nữa. Biển không đáp ngay mà liếc mắt nhìn quanh quất ra ngoài ngõ như sợ có ai nghe lén, rồi ghé sát tai tôi thì thào với giọng điệu đầy vẻ bí hiểm rằng sáng nay lúc theo má nó ra chợ cá, nó đã chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng đến rợn tóc gáy ngay tại bãi đất bìa làng.
Tôi bực mình thúc cùi chỏ vào mạn sườn nó, giục nó có chuyện gì thì nói thẳng ra đừng có úp úp mở mở làm người khác phát sốt ruột. Thấy tôi không còn kiên nhẫn, Biển mới hạ giọng kể lại rằng sáng sớm hôm qua, sau khi gia đình bà Hạnh tìm khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trong nhà ngoài ngõ mà không thể nào tìm ra chiếc áo cưới gia truyền để mặc cho thi thể bà ta theo đúng tập tục khắt khe của làng chài, dân làng đã buộc phải dùng manh chiếu rách bó chặt lấy cái xác trần truồng của bà ta lại. Đến đúng giờ chính Ngọ hôm qua, dưới sự chứng kiến của các bậc cao niên trong làng, bốn người đàn ông lực lưỡng đã khiêng cái xác bó chiếu đó ra mỏm đá đầu cồn rồi vung tay quăng thẳng xuống dòng nước biển sâu thẳm để tống khứ vận hạn xui xẻo theo lệ tục ngàn đời. Chuyện đó thì cả làng này ai ai cũng đều biết rõ mười mươi, nhưng điều quái đản tột cùng xảy ra vào sáng nay là cái xác của bà Hạnh lại bất ngờ xuất hiện trở lại trên đất liền.
Biển ghé sát tai tôi, cất giọng run rẩy kể tiếp rằng theo tục lệ cổ xưa truyền đời của làng ta, phụ nữ khi tạ thế bắt buộc phải được mặc chiếc áo cưới lúc bước chân về nhà chồng để chôn xuống mồ sâu, xem như một tấm bùa hộ mệnh thiêng liêng gìn giữ thân thể và linh hồn thanh sạch trước ma quỷ biển sâu. Người nào bạc phước chết đi mà không có áo cưới bọc thân thì bị xem là kẻ mang nghiệp chướng nặng nề, vong hồn sẽ bị sóng gió đại dương ruồng bỏ, không bao giờ được siêu sinh tịnh độ. Người xưa tin rằng nếu để một cái xác đàn bà trần truồng không áo cưới chôn dưới lòng đất làng chài thì âm khí sẽ tích tụ thành đại dịch, quỷ biển dưới đáy sâu sẽ lần mò theo mùi tử khí trồi lên quấy phá nhân gian. Bởi vậy, từ bao đời nay, hễ ai mất áo cưới thì dân làng bắt buộc phải quấn chiếu rách đem thả trôi sông trôi biển, phó mặc số phận cho loài cá xâu xé để tiêu trừ nghiệp chướng. Nào ngờ, cái xác của bà Hạnh vừa bị quăng xuống biển trưa hôm qua thì ngay trong đêm tối đã tự mình đạp sóng bơi ngược vào bờ, cởi bỏ dây trói chiếu rách rồi tìm đường bò lên chiếm cứ nấm mồ của loài chó chết trôi.
Toàn thân tôi run lên bần bật, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả sống lưng khi nghe Biển nhắc đến hai chữ xác chết. Biển trợn tròn mắt kể tiếp rằng lúc sáng sớm, khi sương mù còn chưa kịp tan, những người đi chợ sớm đã bu đen bu đỏ ngoài bãi đất trống bìa làng vì phát hiện ra toàn bộ những ụ đất chôn xác chó chết trôi từ trước đến nay đều bị đào bới xới tung lên thành từng hố sâu hoắm, đất cát vung vãi tanh bành khắp nơi. Và nằm lọt thỏm ngay bên dưới một hố chôn chó bị cày xới sâu nhất chính là cái xác trần truồng, trương phình nham nhở của bà Hạnh, không hề có manh chiếu hay mảnh vải liệm nào che thân. Người ta xôn xao bàn tán rằng làm sao một cái xác chết đã bị quấn chặt trong chiếu rách rồi ném xuống đáy biển sâu hàng chục sải tay lại có thể tự mình cởi bỏ dây buộc, bơi ngược dòng nước xiết để leo lên bờ cát, rồi chui vào nằm gọn lỏn trong nấm mồ của một con chó chết trôi như thế được.
Nghe đến đó, hai tai tôi lùng bùng như có tiếng sóng biển gầm rú dữ dội bên trong màng nhĩ, mắt tôi hoa lên còn mặt mày thì tái mét không còn một giọt máu. Thằng Biển thấy tôi biến sắc đột ngột thì hốt hoảng đưa tay lay mạnh hai bờ vai tôi, hỏi dồn dập xem có phải tôi bị trúng gió độc hay trúng nắng hay không mà người lạnh ngắt như thây ma. Nhưng tôi không còn nghe lọt tai những lời cằn nhằn lo lắng của nó nữa, bởi vì một sự thật kinh hoàng tột độ đang hiện ra rõ mồn một trong tâm trí tôi: nếu như sáng sớm nay người ta mới phát hiện xác bà Hạnh nằm ngoài ụ đất bìa làng, vậy thì thứ dãi dớt nhờn nhợt và khuôn mặt tanh tưởi lạnh ngắt đã dí sát vào mặt tôi suốt cả đêm qua trên giường ngủ rốt cuộc là thứ quái quỷ gì. Chẳng lẽ cái xác chết trôi ấy sau khi bò từ dưới đáy biển lên đã không nằm yên một chỗ, mà đã mò mẫm khắp các nẻo đường trong làng rồi lần mò vào tận giường của tôi để trêu ngươi đe dọa.
Đúng lúc tâm trí tôi đang chao đảo trong cơn hoảng loạn tột cùng thì từ phía sân nhà bà Hạnh ở cách đó một bờ rào dâm bụt bỗng vang lên những tiếng cãi vã la hét vô cùng dữ dội. Tôi và Biển giật mình quay phắt đầu lại nhìn sang, chỉ thấy trước khoảnh sân đất nhà người đàn bà xấu số đã chật kín bóng người từ lúc nào không hay. Dân làng tụ tập đông như ong vỡ tổ, người cầm đòn gánh, kẻ mang nón lá, ai nấy đều xôn xao chỉ trỏ và lớn tiếng tra hỏi người nhà bà Hạnh với những ánh mắt tràn đầy sự nghi ngờ và phẫn nộ. Những lời bàn tán xì xào lẫn tiếng quát tháo the thé vang dội khắp cả một vùng không gian tĩnh lặng của xóm chài, xoay quanh những uẩn khúc kỳ quái về cái chết bất đắc kỳ tử của bà Hạnh, sự biến mất không một dấu vết của người chồng tên Hải cùng đứa con thơ, và nguồn cơn ma quái nào đã khiến cái xác chết trôi tự bò lên nằm chiếm cứ các hố chôn chó ngoài bìa rừng.
Tôi định kéo thằng Biển đứng dậy bước vào nhà để tránh vướng vào những chuyện thị phi rắc rối của người lớn, nhưng Biển đã nhanh tay nắm chặt lấy cổ tay tôi giật ngược trở lại. Nó đưa ngón tay trỏ lên miệng làm dấu suỵt một tiếng thật khẽ, rồi nháy mắt ra hiệu cho tôi cùng cúi thấp người nép sát vào chân bức tường gạch rêu phong ngăn cách hai gian nhà để dỏng tai lên nghe ngóng tình hình. Giữa đám đông đang nhốn nháo tranh nhau mở miệng, một người đàn ông trung niên làm nghề đi biển ở sát vách nhà bà Hạnh bước lên phía trước, hắng giọng thật mạnh rồi kể lại với giọng điệu run rẩy rằng vào buổi chiều tối hôm trước khi xảy ra thảm kịch, ông thấy bà Hạnh đi đâu về nhà rất muộn, áo quần lấm lem bùn đất và vẻ mặt vô cùng thất thần. Chồng bà ta là anh Hải gặng hỏi đi đâu cả ngày bỏ bê cơm nước con cái thì bà ta nổi khùng lên chửi bới thậm tệ, hai vợ chồng cự cãi xô xát ầm ĩ đến mức đứa con nhỏ khóc thét lên từng hồi thảm thiết, mãi đến khi ông hàng xóm bước sang khuyên can thì anh Hải mới chịu nín nhịn bỏ vào buồng trong.
Một cụ già đánh cá đêm khác cũng lập tức chen ngang vào lời kể, run rẩy bổ sung thêm rằng vào khoảng hai ba giờ sáng của đêm hôm đó, khi ông đang chèo ghe giăng lưới trở về bến thì bất chợt nhìn thấy một bóng đen to lớn dị thường đang kéo lê một vật gì đó rất nặng từ phía rừng dương liễu rậm rạp đi dần về phía các ụ đất chôn chó ngoài bìa làng. Lúc đó trời tối đen như mực lại có sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn, ông già cứ ngỡ mình đụng phải ma da hay quỷ biển hiện hình nên hoảng hồn cắm đầu cắm cổ chèo ghe thục mạng về nhà, trùm kín chăn run rẩy không dám bước chân ra ngoài cửa để dòm ngó xem đó thực chất là thứ gì. Lời kể của ông cụ vừa dứt đã khiến cả đám đông ồ lên một tiếng kinh hãi, những người phụ nữ yếu bóng vía vội vàng chắp tay lẩm bẩm niệm Phật cầu xin thần linh che chở.
Một người đàn bà bán cá ở đầu chợ cũng lớn tiếng chen vào, vẻ mặt đầy sự bức xúc và hoài nghi tột độ. Bà ta kể rằng cách đây nửa năm, sau một chuyến ra khơi gặp dông bão lớn, anh Hải chồng bà Hạnh đã vớt được một chiếc rương gỗ mục nát phủ đầy rong rêu trôi dạt ngoài rạn đá ngầm. Kể từ ngày đem chiếc rương bí ẩn đó về giấu trong gian buồng kín, gia đình bà Hạnh bỗng trở nên giàu có bất thường, thường xuyên có tiền mua sắm vàng bạc và ghe thuyền mới mà không rõ nguồn gốc từ đâu ra. Thế nhưng cũng chính từ dạo ấy, những người hàng xóm sống xung quanh thường xuyên nghe thấy những tiếng khóc thút thít ai oán của trẻ con vang lên từ căn nhà kín cổng cao tường vào những đêm thanh vắng, kèm theo mùi tanh nồng như mùi máu cá thối rữa phảng phất khắp xóm. Người ta nghi ngờ rằng sự mất tích đột ngột của chiếc áo cưới gia truyền cùng thảm kịch kinh hoàng giáng xuống gia đình này có liên quan mật thiết đến những thứ tà vật quái đản mà vợ chồng bà Hạnh đã lén lút cất giấu bấy lâu nay.
Lúc này, mẹ ruột của bà Hạnh – một bà lão gầy gò ốm yếu với mái tóc bạc phơ rối bù – bước ra giữa sân rồi ngồi bệt xuống đất nấc lên từng chập đau đớn, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo hốc hác. Bà nghẹn ngào kể lại rằng vào khoảng tờ mờ sáng hôm xảy ra án mạng, khi bà gánh quang gánh đi chợ sớm thì bàng hoàng phát hiện con gái mình đang nằm bất động giữa những ụ đất chôn chó đã bị đào xới tung tóe. Khi bà hốt hoảng chạy lại gần lay gọi thì thấy trên người con gái không có lấy một mảnh vải che thân, toàn thân phủ đầy bùn đất đen ngòm và những vết máu khô bết dính. Quá đỗi sợ hãi và thương xót con, bà không dám tri hô làng xóm mà vội vàng chạy vào nhà một người bà con gần đó nhờ hai người đàn ông chạy ra phụ khiêng con gái về nhà đặt lên giường rồi lấy nước nóng lau rửa vết thương và xoa dầu cứu chữa. Khi tỉnh lại được đôi chút trong hơi thở thều thào đứt quãng, bà Hạnh chỉ kịp kể lại rằng nửa đêm đang ngủ say thì bỗng nghe tiếng đàn chó tru trét rộ lên từng hồi inh ỏi ngoài đường làm bà bực bội không thể nào chợp mắt được. Bà bèn vùng dậy mở toang cửa lao ra đường buông lời chửi đổng xua đuổi bầy chó ma quái, thì bất thình lình bị một thứ gì đó vô cùng nặng nề đập thật mạnh từ phía sau gáy khiến bà choáng váng rồi ngã vật xuống đất ngất lịm đi không còn biết trời trăng mây nước gì nữa.
Đúng lúc không khí căng thẳng đang lên đến đỉnh điểm thì đám đông bỗng dạt ra hai bên để nhường lối đi cho hai nhân vật quan trọng nhất trong làng chài bước vào. Đi đầu là ông trưởng làng với vẻ mặt nghiêm nghị, quắc thước, mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sẫm, theo sát phía sau là thầy pháp Bảy Núi – một vị đạo sĩ danh tiếng ngoài sáu mươi tuổi đến từ vùng Thất Sơn An Giang xa xôi, người vốn nổi tiếng khắp các vùng duyên hải nhờ tài trừ tà diệt quỷ và am hiểu sâu sắc các bí thuật phong thủy cổ truyền. Thầy Bảy Núi bước đi khoan thai nhưng vững chãi, chòm râu dài bạc phơ rung rinh theo từng nhịp thở, đôi mắt sáng quắc như sao đêm quét một lượt qua khoảng sân nhà rồi dừng lại trên người mẹ bà Hạnh. Nhìn thấy vị pháp sư đức cao vọng trọng xuất hiện, dân làng lập tức im bặt không ai dám lớn tiếng xì xào nữa, chỉ còn lại tiếng gió biển rít qua ngọn dừa xào xạc từng cơn buốt giá.
Trưởng làng nghiêm giọng cất tiếng hỏi mẹ bà Hạnh về những uẩn khúc trong cái chết của con gái bà. Ông chất vấn rằng theo kết quả khám nghiệm sơ bộ của những người am hiểu pháp y, trên thi thể bà Hạnh tuy có nhiều vết cào xước sâu hoắm do móng vuốt của một loài dã thú nào đó để lại nhưng tuyệt nhiên không hề có vết thương nào mang tính chất chí mạng vào chỗ hiểm, vậy cớ sao bà ta lại tắt thở đột ngột như thế. Hơn thế nữa, điều khiến cả làng nghi ngờ và hoang mang tột cùng là việc gia đình bà tự ý làm đơn khai tử cho cả ba người gồm bà Hạnh, anh Hải và đứa con thơ, trong khi hiện trường chỉ có duy nhất thi thể của bà Hạnh, còn chồng và con bà ta thì biệt vô âm tín, không rõ còn sống hay đã chết, và chiếc áo cưới gia truyền mang tính chất thiêng liêng của dòng họ rốt cuộc đã bị ai lấy cắp mà biến mất một cách bí ẩn như vậy.
Mẹ bà Hạnh nghe hỏi thì chỉ biết đấm ngực thùm thụp mà khóc lóc thảm thiết, thanh minh rằng lúc đưa con gái về nhà thì cửa nẻo đã mở toang hoác, nhìn quanh quất khắp nơi không thấy bóng dáng con rể và cháu ngoại đâu cả. Khi bà Hạnh trút hơi thở cuối cùng quá nhanh chóng, cả nhà rơi vào cảnh bối rối hoảng loạn tột độ, lại thêm áp lực phải tìm chiếc áo cưới để khâm liệm theo đúng tục lệ làng chài trước giờ chính Ngọ nên trong lúc quẫn trí đã làm giấy báo tử cho cả ba người để mong sớm được lo liệu mồ yên mả đẹp. Lời giải thích vụng về trong nước mắt của bà lão chỉ càng làm cho không khí xung quanh thêm phần ngột ngạt và u ám, bởi ai nấy đều cảm nhận được một bức màn đen tối đầy chết chóc đang bao trùm lấy ngôi làng nhỏ bé này.
Thầy Bảy Núi không vội lên tiếng phán xét mà lẳng lặng rút từ trong tay áo ra một chiếc la bàn phong thủy bằng đồng cổ đã ngả màu xám xịt cùng một chiếc gương bát quái nhỏ viền gỗ mun. Thầy chầm chậm bước đi quanh sân đất, mắt chăm chú quan sát từng chuyển động quay cuồng bất thường của chiếc kim la bàn đang run rẩy chỉ về hướng đông nam ngoài biển khơi. Thầy cúi người xuống sát mặt đất, lấy ngón tay chấm một chút bùn đen còn dính lại trên các rãnh đất nứt nẻ rồi đưa lên mũi ngửi thử. Một cái nhíu mày trầm tư thoáng qua trên gương mặt phúc hậu của vị đạo sĩ già, làm sâu thêm những nếp nhăn thời gian trên trán. Sau một hồi quan sát kỹ lưỡng từ bậu cửa sổ cho đến gian buồng ngủ của người đàn bà xấu số, thầy khẽ thở dài một tiếng thật sâu rồi quay lại đối diện với đám đông dân làng đang nín thở chờ đợi.
Thầy Bảy Núi cất giọng trầm ấm nhưng vang vọng như tiếng chuông đồng giữa trưa hè, chậm rãi giải thích cho toàn thể dân làng hiểu rõ về chân tướng kinh hoàng của những sự việc quái dị vừa diễn ra. Thầy bảo rằng con chó đen trần trụi không có lấy một cọng lông, mắt đỏ ngầu như hai hòn than mà anh Dương vớt được từ dưới biển sâu lên cách đây hai ngày hoàn toàn không phải là một sinh vật bình thường của trần thế. Đó chính là một con chó tinh, hiện thân tà ác của những thây ma chết trôi oan khuất chìm sâu dưới đáy biển không được ai vớt lên cúng tế, tích tụ oán khí ngút trời qua hàng trăm năm mà biến thành loài quỷ biển hung dữ. Chúng đã mượn hình hài của một con thú kỳ dị trôi dạt vào bờ để đánh lừa lòng trắc ẩn của dân làng chài, mở đường cho lũ tà ma xâm nhập vào bờ cõi đất liền để gieo rắc tai ương hủy diệt.
Thầy giải thích thêm rằng dưới đáy biển sâu thẳm ngoài khơi xa có một vùng hang động ngầm ngập tràn đá nhọn và xoáy nước tử thần, nơi chôn vùi hàng ngàn thi thể của những người đi biển gặp nạn qua nhiều thế kỷ. Do không có người thân cúng tế, những oán linh ấy dần dần tụ hội lại với nhau, hấp thu âm khí của loài thủy quái mà biến thành loài quỷ biển chuyên săn lùng hồn vía người sống. Con chó tinh mà anh Dương cứu sống thực chất là một mắt xích đầu tiên do bầy quỷ biển phái lên bờ để thăm dò sinh khí của ngôi làng. Tiếng chó tru rộ lên từng hồi ai oán xé toạc màn đêm chính là khúc ca gọi hồn ma quỷ, nhằm đánh thức những tà linh ngủ vùi dưới lòng đất và làm suy yếu màng chắn tâm linh của những ngôi nhà ven biển.
Thầy Bảy Núi nghiêm giọng chỉ rõ rằng vào đúng cái đêm mà bà Hạnh bị tấn công rồi qua đời, con chó đen kỳ quái mà anh Dương nuôi nhốt cũng bất ngờ lăn đùng ra chết cứng trước đó vài canh giờ mà không hề có dấu hiệu bệnh tật. Khi con chó chết đi, linh hồn quỷ biển của nó đã thoát ra và tìm cách đoạt lấy một thể xác người sống mang nhiều oán hận để nương gá, và người phụ nữ chua ngoa đang lúc hấp hối vì phẫn uất như bà Hạnh chính là vật chủ hoàn hảo nhất cho chúng mượn xác. Tục lệ bó chiếu ném xác bà Hạnh xuống biển hôm qua vô tình lại là một hành động thả hổ về rừng, tạo cơ hội cho tà linh dưới biển hòa nhập hoàn toàn vào da thịt của cái xác chết. Đêm hôm qua, cái xác ấy đã tự mình đạp nước trồi lên từ đáy biển sâu, lê từng bước chân trần nhầy nhụa rong rêu và bùn mặn đi dọc theo các con đường đất dẫn vào từng ngõ ngách trong làng.
Thầy Bảy khẳng định rằng sáng nay chính mắt thầy đã quan sát thấy những dấu chân trần lún sâu hoắm in hằn trên nền đất trước cửa từng ngôi nhà trong xóm, chứng tỏ cái xác ma quái đó đã đứng rình rập ngoài hiên rất lâu để nhòm ngó vào bên trong trước khi gà gáy sáng buộc nó phải lết xác quay trở lại nằm trốn dưới các hố chôn chó ngoài bìa rừng. Thầy chỉ tay về phía những rãnh đất trước cửa nhà bà Hạnh rồi vạch rõ cho mọi người thấy những vệt nhớt đen ngòm bốc mùi thối rữa còn đọng lại trên cỏ khô. Còn số phận của anh Hải và đứa con thơ, thầy Bảy lắc đầu xót xa nhận định rằng rất có thể hai cha con họ đã bị đàn quỷ biển bắt cóc tha đi biệt tích vào sâu trong những hang động hẻo lánh dưới lòng biển cả để làm vật tế lễ cho ma trận La Hầu cổ đại.
Nghe những lời phân tích rành rẽ từng đường đi nước bước của vị đạo sĩ tài ba, toàn thể dân làng có mặt tại sân bỗng chốc rùng mình kinh hãi, mặt mày ai nấy đều xám ngoét như tro tàn. Riêng tôi và thằng Biển ngồi nép sau bức tường gạch thì lạnh toát cả sống lưng, mồ hôi túa ra như tắm. Tôi cắn chặt môi đến suýt bật máu để ngăn không cho tiếng nấc kinh hoàng thoát ra khỏi miệng, bởi lời nói của thầy Bảy đã xác nhận một sự thật khủng khiếp nhất: đêm qua, trong khi cái xác chết trôi ấy không thể bước qua bậu cửa của bất kỳ ngôi nhà nào khác trong làng nhờ có bàn thờ gia tiên và bùa chú trấn giữ, thì nó lại có thể đường hoàng bước vào tận phòng ngủ của tôi, ngồi đè lên giường và áp sát khuôn mặt tanh tưởi vào mặt tôi suốt nhiều giờ liền. Cảm giác cái chết đã lướt qua sợi tóc trong gang tấc làm toàn thân tôi bủn rủn, đầu óc quay cuồng như rơi vào một vực sâu không đáy.
Tôi thầm hiểu rằng sở dĩ căn nhà của tôi bị cái xác xâm nhập dễ dàng như vậy là bởi vì cha mẹ tôi đi vắng xa, căn nhà thiếu vắng dương khí bảo bọc của người lớn, lại thêm người chị họ bỏ đi để lại tôi một mình đơn độc trong đêm tối. Nhưng sâu xa hơn cả, dường như có một sợi dây liên kết tâm linh vô hình nào đó giữa huyết mạch dòng họ tôi và những hiện tượng kỳ bí đang xảy ra trên hòn đảo này. Nhớ lại ánh mắt ma quái của bà Hạnh khi nhìn tôi qua tấm vải liệm hôm qua tại đám tang và nụ cười rùng rợn trên chiếc giường ngủ đêm qua, tôi rùng mình nhận ra mình đã trở thành mục tiêu nhắm đến hàng đầu của đàn quỷ biển.
Giữa lúc đám đông đang chìm trong sự hoang mang tột độ, tiếng nói đanh thép của thầy Bảy Núi lại một lần nữa vang lên cắt đứt bầu không khí tĩnh mịch nghẹt thở. Thầy quả quyết tuyên bố rằng cái xác của bà Hạnh hiện tại đã bị tà linh quỷ biển chiếm đoạt hoàn toàn, nếu cứ để thi thể ấy tồn tại thì đêm nay nó sẽ tiếp tục đội mồ sống dậy, xông vào từng nhà để cắn xé cổ họng người sống, hút cạn sinh khí và uống máu tươi của dân làng để gia tăng tà lực. Biện pháp duy nhất để trừ tiệt mối đại họa này và cứu vãn sự an nguy cho toàn bộ hòn đảo là phải mang cái xác ấy về giữa làng, lập đàn tràng dùng chân hỏa tam muội thiêu rụi toàn bộ thi thể thành tro bụi trước khi giờ Hợi điểm canh ba. Dù mẹ bà Hạnh có gào khóc van xin đến mức nào đi chăng nữa, trước sự an nguy của hàng trăm mạng người trong làng chài, ông trưởng làng và các bậc cao niên đã đồng lòng chuẩn y quyết định hỏa táng của vị pháp sư.
Thầy Bảy Núi lập tức phân công công việc cụ thể cho từng nhóm người trong làng để chuẩn bị cho buổi đại lễ trừ tà vào chiều tối. Thầy dặn dò các bậc cao niên phải đi thông báo cho từng gia đình trong xóm lập tức dùng vôi trắng vẽ những đường tròn phong tỏa trước ngưỡng cửa, rắc tro bếp quanh chân giường của trẻ nhỏ và dán những lá bùa bình an mà thầy đã chuẩn bị sẵn lên các cửa sổ để ngăn chặn tà khí xâm nhập. Đàn bà con nít tuyệt đối không được bén mảng ra ngoài đường sau khi mặt trời lặn, còn thanh niên trai tráng thì phải chuẩn bị gậy gộc, đuốc lửa và dầu hỏa để hỗ trợ việc canh giữ giàn thiêu.
Ngay buổi trưa hôm đó, một không khí khẩn trương nhưng nặng nề như tang tóc bao trùm lên khắp mọi ngóc ngách của ngôi làng nhỏ ven biển. Dưới sự điều động nghiêm ngặt của trưởng làng, một nhóm thanh niên trai tráng khỏe mạnh được trang bị búa rìu, dây thừng và đuốc lửa đi ra bãi đất bìa làng để cẩn thận khiêng thi thể của bà Hạnh về bãi đất trống rộng lớn nằm ngay trung tâm làng chài. Tại đây, người ta đã đào sâu một hố đất lớn rồi dựng đứng một cây cột gỗ lim to lớn, cao hơn trượng, vững chãi như một cột buồm tàu biển. Xung quanh gốc cột, hàng chục bó củi khô, cành dương già và rơm rạ được chất cao ngang ngực, tẩm sẵn dầu phụng và dầu lửa nồng nặc mùi hăng hắc.
Khi cái xác của bà Hạnh được khiêng đến nơi đặt trên một tấm liếp tre, tôi và thằng Biển vì tò mò lẫn sợ hãi đã lén lút chen lấn qua dòng người để tận mắt chứng kiến. Nhìn thấy cái xác chết trôi ấy, tôi không khỏi rùng mình kinh khiếp: dù đã trải qua mấy ngày dầm mình dưới nước biển mặn chát và vùi lấp dưới bùn đất tanh hôi, nhưng làn da trên cơ thể bà ta lại không hề có dấu hiệu rữa nát hay bốc mùi thối rữa bình thường, mà trái lại nó căng bóng một cách dị thường, trắng bệch như mỡ lợn đông đặc. Thầy Bảy Núi mặc chiếc áo đạo sĩ màu vàng nghệ, tay cầm bút lông nhúng đẫm mực chu sa đỏ thắm, thoăn thoắt vẽ lên một tấm vải lanh vàng lớn những đường phù chú ngoằn ngoèo tựa như rồng bay phượng múa. Xong xuôi, thầy sai người dùng tấm vải lanh bùa chú ấy quấn chặt kín mít toàn bộ cơ thể bà Hạnh từ đỉnh đầu cho đến gót chân, tẩm thêm một lớp dầu hỏa dày đặc lên bề mặt rồi dùng những sợi dây thừng lớn trói gập thi thể vào thân cột gỗ lim sừng sững giữa trời.
Buổi chiều tà trôi qua thật nhanh chóng trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở của từng người dân chài. Mặt trời đỏ quạch như một lòng đỏ trứng gà từ từ chìm nghỉm xuống đáy biển phía tây, nhuộm đỏ rực cả một vùng trời nước mênh mông tựa như một biển máu khổng lồ. Từng đàn chim hải âu từ ngoài biển khơi hốt hoảng bay dạt vào bờ, cất lên những tiếng kêu thảm thiết chói tai rồi biến mất sau những rặng dừa xao xác. Gió biển bắt đầu đổi chiều, không còn mang theo vị mặn nồng quen thuộc của biển cả mà thoang thoảng mùi tử khí tanh tưởi lạnh buốt đến ghê người. Toàn bộ người già, trẻ nhỏ và trai tráng trong làng đều tề tựu đông đủ xung quanh giàn hỏa thiêu, đứng thành một vòng tròn lớn cách xa cây cột gỗ chừng mười sải chân.
Gương mặt ai nấy đều căng thẳng tột độ, hai mắt đăm đăm nhìn vào khối vải lanh vàng quấn xác chết treo lơ lửng trên cột gỗ, chẳng khác nào một chiếc kén tằm khổng lồ đầy tử khí. Dù thằng Biển run rẩy nắm chặt lấy gấu áo tôi khuyên nên đi về nhà, nhưng đôi chân tôi như bị chôn chặt tại chỗ, một linh cảm mơ hồ mách bảo rằng biến cố kinh hoàng nhất vẫn còn đang chực chờ phía trước. Thầy Bảy Núi bước ra trước bàn thờ tam bảo, nơi đã thắp sẵn ba mươi sáu ngọn nến sáp ong vàng óng xếp theo hình bát quái trận đồ. Thầy cung kính rót ba chén rượu trắng dâng lên trời đất, rồi bốc từng nắm gạo muối ngũ sắc tung về bốn phương tám hướng để tạ ơn các vị thần linh che chở cho buổi lễ trừ tà.
Khi canh giờ đã điểm, tiếng chuông đồng từ tay thầy Bảy Núi vang lên từng hồi dồn dập, xé toạc màn sương đêm đang bao phủ lấy bãi đất trống. Thầy vung thanh kiếm gỗ đào sáng loáng lên không trung rồi cất giọng trầm hùng tụng niệm những câu chú trừ tà cổ xưa bằng tiếng Phạn bí hiểm. Lời chú vừa dứt, thầy phóng mạnh một lá Hỏa Linh phù đã được đốt cháy đỏ rực vào đống củi khô dưới chân cột gỗ. Xăng dầu bén lửa lập tức bùng lên một tiếng phựt dữ dội, ngọn lửa đỏ rực liếm láp qua từng thớ củi rồi nhanh chóng bốc cao ngùn ngụt, tỏa ra sức nóng hầm hập và mùi khét lẹt xộc thẳng vào mũi mọi người xung quanh. Lửa đỏ bắt đầu bén dần lên gót chân của thi thể đang bọc kín trong tấm vải lanh vàng, soi rõ từng đường nét run rẩy của dân làng đang đứng chắp tay nín thở cầu nguyện cho tà ma sớm bị tiêu diệt.
Thế nhưng, đúng ngay khoảnh khắc ngọn lửa vừa chạm vào lớp vải lanh bùa chú, một cơn gió lốc từ ngoài khơi xa bất thần thổi thốc vào đất liền dữ dội, cuốn theo cát bụi mịt mù và tiếng sóng biển gầm thét ầm vang. Trên bầu trời cao vòi vọi, vầng trăng rằm sáng vằng vặc bỗng chốc bị một đám mây đen khổng lồ hình đầu lâu ma quái từ đâu cuồn cuộn kéo đến che khuất hoàn toàn, ném cả không gian vào một bóng tối mịt mùng rợn ngợp. Trong khoảnh khắc âm dương đảo lộn đó, cái xác chết bọc kín trong tấm vải lanh bỗng nhiên cựa quậy dữ dội, toàn thân giãy giụa điên cuồng làm thân cột gỗ lim rung lắc bần bật. Từ bên dưới lớp vải dày đặc, những tiếng rít the the chói tai như tiếng kim loại cào vào đá tảng bắt đầu vang lên đứt quãng, rồi chuyển dần thành những tiếng gào thét thảm thiết, man rợ đến lạnh người, tựa như một con ác thú hung tợn đang dồn hết sức tàn cào xé lớp vỏ bọc để thoát ra ngoài đoạt mạng người sống.
Chưa dừng lại ở đó, từ sâu trong bóng tối thâm u của cánh rừng dương bao quanh bãi đất trống, bỗng nhiên xuất hiện lốm đốm rồi dày đặc hàng trăm cặp mắt đỏ ngầu như máu đang trừng trừng phát sáng. Những tiếng thở phì phò tanh nồng mùi biển cả dội lại từ khắp bốn phương tám hướng, kèm theo bóng dáng của vô số những con chó đen trần trụi không có lông, thân hình ngoằn ngoèo dị dạng đang từ từ bò ra khỏi bìa rừng tạo thành một vòng vây xiết chặt lấy dân làng. Đột nhiên, cái xác của bà Hạnh đang bốc cháy ngùn ngụt trên cột gỗ bỗng ưỡn cong người ra phía trước, phần đầu ngoác rộng khẩu hình miệng dưới lớp vải lanh rồi ngửa mặt lên trời cất lên một tiếng hú dài ai oán xé toạc màn đêm. Ngay tức khắc, hàng trăm cặp mắt đỏ rực ngoài bìa rừng đồng loạt ngửa cổ hú vang phụ họa theo, tạo thành một bản trường ca rùng rợn của cõi âm làm kinh tâm động phách tất cả những ai có mặt.
Dân làng kinh hoàng thét lên hỗn loạn, mạnh ai nấy giẫm đạp lên nhau cắm đầu tháo chạy trong cơn hoảng loạn tột cùng. Giữa khung cảnh hỗn tạp đất trời rung chuyển ấy, một tiếng răng rắc chấn động vang lên từ gốc cột gỗ lim đang bốc cháy hừng hực. Chiếc cột khổng lồ mang theo ngọn lửa đỏ rực và cái xác chết quỷ dị đang giãy giụa la hét bỗng nhiên bật tung khỏi lòng đất, lơ lửng giữa không trung trong một khoảnh khắc kỳ quái rồi đổ ập xuống với một tốc độ kinh hoàng, nhằm thẳng vào vị trí tôi đang đứng chôn chân bất động giữa biển lửa và bầy quỷ dữ.
Cây cột gỗ lim nặng ngàn cân đang rực lửa đổ nhào xuống mang theo một luồng gió nóng rát mặt, tiếng lửa reo phần phật cùng mùi dầu khét lẹt táp thẳng vào da thịt khiến tôi nghẹt thở. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, khi cái chết chỉ còn cách đỉnh đầu tôi chừng nửa gang tay, một cánh tay rắn rỏi từ phía sau bất thần lao tới chộp mạnh lấy cổ áo tôi giật phắt về phía sau. Cả người tôi bị kéo lê trên nền cát thô ráp, lăn lông lốc ba bốn vòng trước khi va mạnh vào một gờ đất mấp mô. Ngay tích tắc sau đó, chiếc cột gỗ đồ sộ giáng mạnh xuống đúng vị trí tôi vừa đứng với một tiếng rầm chấn động mặt đất, tàn lửa và than hồng bắn tung tóe lên không trung như một trận mưa sao băng đỏ quạch. Khói đen mù mịt bốc lên ngùn ngụt hòa cùng tiếng nổ lách tách của những thớ gỗ lim cháy dở, tạo nên một khung cảnh địa ngục trần gian ngay giữa lòng làng chài yên ả thuở nào.
Tôi run rẩy ngước mắt lên thì thấy thằng Biển đang thở hồng hộc nằm sõng soài bên cạnh, hai bàn tay nó trầy trụa rỉ máu vì cú kéo liều mạng vừa rồi. Gương mặt nó lấm lem bùn đất và tàn tro đen sì, đôi mắt mở to thất thần nhìn đống lửa đang cháy rừng rực cách đó chỉ vài bước chân. Chưa kịp để hai đứa tôi hoàn hồn ngồi dậy, từ bên trong đống đổ nát của chiếc cột gỗ bốc cháy, một cảnh tượng rùng rợn đến thắt tim lại diễn ra trước mắt. Lớp vải lanh vàng dày cộp vẽ đầy bùa chú đã bị ngọn lửa thiêu rụi phân nửa, làm lộ ra một phần thân thể cháy đen thui nhưng vẫn không ngừng co giật của bà Hạnh. Những đường gân máu màu tím đen nổi cộm chằng chịt trên làn da cháy sém, hai cánh tay khô quắt với những móng vuốt dài nhọn hoắt cào cấu điên cuồng xuống mặt cát như muốn bấu víu vào sự sống ma quái. Từ trong cổ họng cháy khét của cái xác, những âm thanh the thé ồ ồ như tiếng nước sôi ùng ục trong nồi đồng vẫn không ngừng rít lên từng hồi ghê rợn, khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng phải rợn tóc gáy.
Lúc này, tiếng hú của bầy chó tinh ngoài bìa rừng dương lại rộ lên vang dội hơn bao giờ hết, tựa như một lời hiệu triệu ma quỷ thúc giục đồng loại xông lên cướp xác. Hàng trăm bóng đen trần trụi bắt đầu chuyển động, chúng không bước đi như những con chó thông thường mà trườn bò thoăn thoắt trên mặt cát bằng bốn chi khẳng khiu, đôi mắt đỏ ngầu chớp nháy liên hồi trong bóng tối. Mùi tanh tưởi của biển chết nồng nặc bốc lên ngập ngụa không gian, át đi cả mùi dầu hỏa và khét lẹt của gỗ cháy. Đám đông dân làng lúc này đã tan tác hoàn toàn, người thì chạy thục mạng về nhà cài then đóng cửa trùm chăn run rẩy, kẻ thì trèo lên những cành cây cao hay nhảy xuống mé biển trốn tránh, bỏ mặc bãi đất trống chỉ còn lại vị đạo sĩ già và hai đứa trẻ trơ trọi giữa vòng vây quỷ dữ.
Thầy Bảy Núi lúc này vẫn đứng sừng sững như một ngọn tháp đá trước đàn tràng, vạt áo đạo sĩ vàng nghệ phần phật bay trong cơn gió lốc dữ dội. Nhìn thấy cây cột gỗ ngã đổ và bầy quỷ biển đang lăm le tràn vào, sắc mặt thầy trầm xuống vô cùng nghiêm nghị nhưng tuyệt nhiên không hề lộ ra một chút nao núng hay sợ hãi. Thầy rút phắt từ trong tay áo ra một chiếc chuông đồng nhỏ cổ kính chạm khắc hình bát quái tinh xảo cùng một nắm gạo muối trắng tinh. Tay trái thầy lắc mạnh chiếc chuông phát ra những tiếng kêu leng keng trong trẻo nhưng đầy uy lực trấn áp ma tà, tay phải vung mạnh nắm gạo muối tung ra bốn phương tám hướng tạo thành một lằn ranh bảo vệ vô hình ngăn cách lũ súc sinh ma quái. Mỗi khi một hạt muối hay hạt gạo chạm vào thân thể lũ chó tinh đang bò tới gần, một tiếng xèo xèo như mỡ sôi lập tức vang lên, kèm theo những tia khói trắng bốc lên nghi ngút và tiếng rên rỉ đau đớn của loài quỷ dữ khi bị pháp lực thanh tẩy thiêu đốt da thịt.
Thầy Bảy quay phắt đầu lại, đưa đôi mắt sáng quắc nhìn trừng trừng về phía tôi và Biển rồi quát lớn một tiếng như sấm rền giữa trời quang, lệnh cho hai đứa chúng tôi phải lập tức bò lùi về phía sau đàn tràng và tuyệt đối không được bước chân ra khỏi vòng tròn bảo vệ rải bột chu sa mà thầy đã vẽ sẵn từ chiều. Tiếng quát đầy uy quyền của vị đạo sĩ già như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm trí đang bấn loạn của tôi, kéo tôi ra khỏi cơn tê liệt chết người. Tôi vội vàng túm lấy cánh tay thằng Biển, hai đứa vừa bò vừa lết trên nền cát nóng ran, lùi dần từng bước về phía chân bàn thờ tam bảo nơi có ngọn đèn dầu lạc vẫn đang kiên cường tỏa sáng leo lét trước gió bão. Vừa đặt chân vào bên trong lằn ranh màu đỏ thắm của bột chu sa, tôi bỗng cảm nhận được một luồng hơi ấm vô hình bao bọc lấy cơ thể, xua bớt đi phần nào cái lạnh buốt xương tủy đang bủa vây từ khắp bốn bề.
Nhưng bầy chó tinh quỷ biển dường như không dễ dàng từ bỏ con mồi ngon béo bở. Oán khí tích tụ ngàn năm dưới đáy biển sâu bị kích động bởi ngọn lửa thiêu xác khiến chúng trở nên hung bạo và cuồng loạn đến tột cùng. Hàng chục con quái vật to lớn nhất, với chiếc đầu méo mó dị dạng không có tai và hàm răng lởm chởm những chiếc răng nanh dài ngoằng như mũi dao găm, bắt đầu chồm lên phía trước, dùng những chiếc móng vuốt sắc nhọn cào xới điên cuồng vào bức tường vô hình do thầy Bảy giăng ra. Cát bụi bay mù mịt, những tiếng gầm gừ đe dọa gằn từng cơn trong lồng ngực lép kẹp của bầy súc sinh làm rung chuyển cả bầu không khí tĩnh mịch của đêm rằm. Tệ hại hơn cả, cái xác cháy dở của bà Hạnh trên mặt đất bỗng nhiên vặn vẹo thân mình một cách kỳ dị, những khúc xương kêu lên răng rắc khô khốc rồi từ từ chống hai cánh tay cháy đen nhổm dậy khỏi đống tro tàn, khuôn mặt nửa thịt nửa xương hướng thẳng về phía đàn tràng nơi thầy trò chúng tôi đang cố thủ.
Thầy Bảy Núi khẽ nhíu mày, tay bấm một liên hoàn quyết phức tạp rồi vung kiếm gỗ đào vẽ một vòng tròn Thái Cực giữa không trung. Một luồng kim quang mờ ảo lóe lên từ đầu mũi kiếm chém thẳng vào giữa trán cái thây ma đang gượng dậy, khiến nó rú lên một tiếng the thé đau đớn rồi ngã vật xuống mặt cát quằn quại. Nhưng pháp lực tiêu hao quá nhiều khiến trán vị đạo sĩ già lấm tấm những giọt mồ hôi hột, chòm râu bạc rung rinh theo từng nhịp thở gấp gáp. Thầy quay đầu lại nhìn tôi, ánh mắt chứa đựng một nỗi trăn trở sâu xa và bí hiểm mà lúc ấy một đứa bé mười lăm tuổi như tôi chưa thể nào thấu suốt được. Thầy cất giọng trầm thấp dặn dò rằng đêm nay mới chỉ là khúc dạo đầu của một đại kiếp nạn kinh hoàng giáng xuống hòn đảo này, bởi vì chiếc áo cưới chôn theo thi thể đã bị kẻ gian đánh cắp nhằm mục đích phá vỡ phong ấn cổ xưa, giải thoát cho hàng ngàn oán linh quỷ biển đang bị giam cầm dưới ma huyệt đáy sâu.
Lời cảnh báo của thầy Bảy Núi rơi vào màn đêm u tối như một điềm báo tử tang thương cho số phận của cả ngôi làng chài ven biển. Tôi ngồi co ro bên cạnh thằng Biển, hai bàn tay nắm chặt lấy gấu áo rách rưới của nhau, mắt không dám rời khỏi bầy quỷ đỏ ngầu đang chực chờ nuốt chửng sự sống sót lại. Gió biển ngoài khơi xa vẫn tiếp tục gầm rú từng cơn điên loạn, mang theo mùi tử khí mặn chát của ngàn bộ xương trắng dưới đáy sâu đang trỗi dậy, báo hiệu một chuỗi ngày đen tối đầy máu và nước mắt sắp sửa ập xuống mảnh đất chôn nhau cắt rốn này. Chiếc cột gỗ lim vẫn âm ỉ cháy đỏ như một đốm lửa tàn tạ giữa đêm đen mịt mùng, soi rõ những bóng ma lặc lìa đang từ từ khép chặt vòng vây tử thần quanh ngôi làng chài biệt lập.
Tôi sốc đến mức hai bên thái dương giật lên từng hồi đau buốt, lồng ngực thắt nghẹt như có một bàn tay vô hình bằng sắt nguội bóp chặt lấy khí quản, khiến hơi thở bị chặn đứng lại giữa chừng. Trong căn phòng ngủ tối nhờ nhờ chỉ lọt vào đôi vệt sáng mỏng manh từ ánh trăng lướt qua song cửa sổ, khuôn mặt của bà Hạnh đang dí sát vào mặt tôi ở một khoảng cách không tưởng, gần đến nỗi chóp mũi của bà ta hầu như đã chạm hờ vào làn da mỏng manh trên gò má tôi. Một luồng tử khí tanh nồng mùi bùn rêu đáy biển và thịt cá thối rữa phả từng đợt lạnh buốt vào da thịt, khiến toàn bộ chân lông trên cơ thể tôi dựng đứng cả lên. Đôi mắt bà ta trợn trừng thô lố, hai con ngươi lồi hẳn ra ngoài như mắt cá chết phơi nắng lâu ngày, phủ một màng đục mờ nhờ nhờ nhưng lại chằm chằm ghim thẳng vào hai mắt tôi mà không hề chớp lấy một cái. Tôi muốn hét to lên để gọi người cứu mạng nhưng cuống họng khô khốc, cứng đờ như bị đổ một lớp hồ dán đặc quánh, chỉ có thể phát ra những tiếng nghẹn ứ vô vọng trong lồng ngực đang đập thình thịch từng nhịp hoảng loạn.
Tôi không dám thở mạnh, thậm chí cố nín thở đến mức hai bên màng tang giật giật từng cơn nhức nhối, bởi trong đầu tôi bất chợt nhớ lại những câu chuyện rùng rợn mà người già trong làng vẫn thường hay kể bên bàn trà mỗi buổi chiều muộn. Người ta bảo rằng thi thể người vừa mới chết trôi rất nhạy cảm với hơi ấm của người sống, chỉ cần ngửi thấy một làn hơi thở người phả ra là cái xác sẽ lập tức chụp lấy, dùng những ngón tay khô cứng cắm sâu vào cổ họng để cướp đi tấc hơi tàn. Nhưng cứ ngồi bất động thi gan với một xác chết trôi sông trương phình như thế này thì quả thực tim tôi sẽ vỡ tung ra vì sợ hãi trước khi trời kịp sáng. Lấy hết chút can đảm sót lại trong tâm trí đang hoảng loạn, tôi khẽ nghiêng đầu sang bên trái một chút hòng thăm dò phản ứng của cái xác. Nào ngờ, ngay khoảnh khắc tôi vừa nhích người, toàn bộ cái xác lạnh ngắt cũng lập tức lắc lư, chầm chậm ngoẹo đầu sang cùng một hướng, giữ cho khoảng cách giữa hai khuôn mặt luôn luôn vừa đủ chạm nhẹ vào nhau. Thứ cảm giác da thịt nhầy nhụa, lạnh như đá tảng cọ xát vào da mặt làm dấy lên một cơn ngứa ngáy châm chích ghê rợn, giống như có hàng ngàn con sâu bọ li ti đang bò ngoằn ngoèo dưới lớp biểu bì.
Nước mắt tôi không kìm được nữa, cứ thế ứa ra tràn mi rồi chảy dài xuống hai bên thái dương. Tôi dùng hết sức bình sinh để điều khiển đôi chân của mình vùng dậy tháo chạy, nhưng hai bắp chân từ đầu gối trở xuống hoàn toàn tê dại, nặng trĩu tựa như có ai đó vừa đổ hàng tạ bê tông ướt trói chặt lấy cơ thể tôi vào mặt nệm. Trong cơn tuyệt vọng cùng cực, tôi thầm rủa xả trong bụng rằng tại sao bà hàng xóm này lại nhắm vào tôi, bởi từ trước đến nay tôi vốn là đứa lầm lì ít nói, chưa từng gây thù chuốc oán hay buông lời bất kính nào với gia đình bà ta. Vừa dứt ý nghĩ ấy, tôi kinh hoàng nhận ra khóe miệng nhớt nhát dãi dớt của cái xác bỗng nhếch lên thành một nụ cười méo mó đến rợn người, để lộ ra hai chiếc răng nanh nhọn hoắt vàng ệch đang rỉ ra từng giọt nước đen ngòm rớt tong tòng xuống vạt áo thun tôi đang mặc. Dường như nhờ vào phần trán đang chạm sát vào nhau mà cái xác chết trôi này có thể thấu suốt được toàn bộ những ý nghĩ giận dữ và hoảng loạn đang cuộn trào trong tâm trí tôi. Tôi run rẩy lẩm bẩm trong miệng những lời van xin đứt quãng, nhưng toàn thân đã bắt đầu rệu rã vì kiệt sức sau nhiều giờ đồng hồ ngồi căng cứng bất động.
Cơ thể tôi không còn chịu đựng nổi sức nặng của sự sợ hãi và tê dại nữa, cả người tôi bỗng chốc mất thăng bằng, bật ngửa ra phía sau rồi ngã bịch xuống mặt nệm giường. Ngay chính khoảnh khắc lưng tôi vừa chạm nệm, bóng đèn tròn leo lét ngoài góc phòng bỗng phụt tắt một tiếng khô khốc, ném cả căn phòng vào một khoảng tối đen như mực. Đồng thời, một luồng gió lạnh buốt thốc mạnh tới mang theo khối lượng nặng nề của cái xác bà Hạnh đang bổ nhào xuống đúng vị trí tôi vừa nằm ngửa. Không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì trong bóng đêm dày đặc, tôi chỉ cảm nhận được một sức ép nghẹt thở cùng thứ mùi hôi thối nồng nặc đang đè sụp xuống sát rạt bên người, kèm theo sự châm chích buốt giá trên da thịt ngày một dữ dội hơn. Bản năng sinh tồn trỗi dậy mãnh liệt, tôi không dám ngồi dậy mà cuống cuồng dùng hai cùi chỏ và hai gót chân cào mạnh xuống mặt nệm, cố hết sức bình sinh đẩy toàn bộ thân người trườn lết thật nhanh về phía mép giường.
Nửa thân trên của tôi vừa nhoài ra khỏi nệm thì hẫng một nhịp rồi đập mạnh xuống nền đất xi măng lạnh buốt như nước đá mùa đông. Cú va chạm đột ngột làm trán và sống mũi tôi đau điếng, nhưng nỗi sợ hãi cái xác đang bay lơ lửng ngay phía trên đầu có thể đổ ụp xuống cắn xé da thịt đã lấn át toàn bộ cảm giác đau đớn thể xác. Lưng tôi ướt đẫm mồ hôi lạnh hòa cùng bụi bặm dơ dáy dưới sàn nhà, tôi cuống cuồng lật úp người lại, chống hai tay xuống đất lấy đà rồi nhổm dậy lao thục mạng ra phía hành lang nhà trước. Hai đầu gối tôi bủn rủn, bước thấp bước cao quấn quýt vào nhau khiến tôi vấp phải bậc cửa gỗ, ngã dúi dụi đập cả mặt và hai cẳng tay xuống nền gạch tàu thô ráp. Những vết trầy xước toác ra rỉ máu rát bỏng, nhưng tôi chẳng còn tâm trí đâu mà bận tâm, chỉ biết cắm đầu cắm cổ bò dậy rồi chồm tới cánh cửa chính đang khóa chặt bằng chiếc then sắt gỉ sét.
Căn nhà trước tối đen như hũ nút, chỉ có hai chiếc bóng đèn trái ớt nhỏ xíu đặt trên bàn thờ tổ tiên tỏa ra thứ ánh sáng đỏ quạch mờ ảo, hắt những vệt bóng dài ngoằng và ma quái lên các khung ảnh thờ của những người đã khuất. Trong luồng sáng đỏ nhờ nhờ đó, những đường nét trên gương mặt người trong ảnh như đang rỉ máu và lay động theo từng nhịp thở dồn dập của tôi. Đôi bàn tay tôi run bắn lên bần bật, chùm chìa khóa sắt trong tay rơi leng keng xuống nền nhà mấy lần liền khiến tôi suýt chút nữa ngất xỉu vì hoảng loạn. Tôi vừa luống cuống tra chìa vào ổ khóa vừa ngoái đầu nhìn trừng trừng về phía khúc quanh chữ L dẫn vào phòng ngủ, nửa như chờ đợi nửa như khiếp sợ cái bóng đen lặc lìa của bà Hạnh sẽ thình lình thò đầu ra với nụ cười nham nhở. Sau những giây phút dài như cả thế kỷ mò mẫm trong sợ hãi, chiếc then sắt cuối cùng cũng kêu lên một tiếng cạch giòn giã, tôi dùng cả bả vai húc mạnh tung cánh cửa gỗ rồi lao vụt ra ngoài khoảng sân rộng trước nhà.
Gió biển lúc rạng sáng thổi thốc vào từng cơn buốt giá làm tôi run rẩy cầm cập, chiếc áo thun mỏng manh ướt đẫm mồ hôi dán chặt vào da thịt lạnh ngắt. Bầu trời phương đông mới chỉ le lói những vệt sáng màu lam nhạt mờ mịt, vạn vật xung quanh vẫn còn chìm đắm trong sự tĩnh mịch ghê rợn, thỉnh thoảng chỉ có tiếng gà gáy sớm vọng lại từ những xóm chài xa xôi. Tôi đứng chơ vơ giữa sân nhìn quanh bốn phía, một cảm giác cô độc và bất lực đến tột cùng bóp nghẹt lấy trái tim một đứa con gái mười lăm tuổi. Tôi không biết mình nên chạy đi đâu để tìm kiếm sự an toàn trong cái làng chài biệt lập này, bởi cha mẹ tôi đã có việc đi xa sang cù lao bên cạnh từ hai ngày trước, còn người chị họ ở chung thì đã bỏ đi đâu mất tăm mất tích. Cuối cùng, tôi đành ngồi thu lu một góc sát vách tường trước cửa nhà, hai tay ôm chặt lấy đầu gối, cằm tì lên xương bánh chè run rẩy thi gan với màn sương sớm lạnh lẽo rải đầy hơi muối.
Cha tôi là một người đàn ông miền biển dạn dày sương gió nhưng tính tình lại vô cùng khép kín và có phần cay nghiệt với thói đời. Mỗi bận đi nhậu say mèm trở về nhà, ông lại lôi tôi lại gần bên manh chiếu, phả ra mùi rượu đế nồng nặc rồi khề khà nhắc đi nhắc lại rằng thói đời bạc bẽo như vôi, tình cảm thế gian nhạt nhẽo tựa nước ốc, chỉ có ruột thịt cha mẹ mới thương mình thật lòng, tuyệt đối chớ dại dột tin cậy bất cứ kẻ nào trong làng. Ông vừa nói vừa vỗ bôm bốp vào đầu tôi như muốn khắc sâu bài học phòng người ấy vào tận óc tủy non nớt của tôi. Có lẽ chính vì những lời dạy dỗ đầy hoài nghi đó mà từ thuở tấm bé, tôi đã hình thành một thói quen xa cách, gặp ai trong xóm cũng chỉ gật đầu chào lấy lệ cho trọn đạo nghĩa rồi lặng lẽ quay đi, gương mặt lúc nào cũng lạnh tanh như tảng băng trôi ngâm dưới nước mặn. Người duy nhất chịu đựng được tính khí gàn dở và sự lạnh lùng của tôi là Biển, thằng anh họ bằng tuổi con nhà dì Hai. Tôi càng xua đuổi, càng buông lời gắt gỏng cay độc thì nó lại càng toe toét bám riết lấy tôi như hình với bóng, lâu dần thành một thói quen khó bỏ, nếu nửa ngày không thấy bóng dáng nó lảng vảng trước ngõ là tôi lại cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó thân thuộc.
Ngôi nhà của bà ngoại tôi thì nằm tít mãi tận mé bìa rừng bên kia ngọn đồi nhỏ, muốn đến được đó phải lội bộ băng qua một cánh rừng dương liễu rậm rạp um tùm. Ban ngày đi qua đó đã thấy rờn rợn bởi bóng râm che khuất ánh mặt trời, huống hồ là lúc trời tranh tối tranh sáng ma quái như lúc này. Mỗi khi bóng chiều tà đổ xuống hay những đêm gió bấc thổi mạnh từ biển khơi vào, những cành dương liễu khẳng khiu lại đung đưa lắc lư liên hồi trên nền cát trắng, in những cái bóng ngoằn ngoèo rũ rượi xuống mặt đất chẳng khác nào hình ảnh những người phụ nữ tóc dài xõa xượi đang ngồi chải đầu trong đêm vắng. Bà ngoại tôi từng trầm ngâm bảo rằng đó là khúc hát ai oán của những người con gái lỡ thì mòn mỏi chờ đợi chồng đi biển không bao giờ trở về, đau khổ u uất quá mà hóa thân thành rừng cây than khóc cùng sóng vỗ. Nghĩ đến cảnh tượng phải một mình mò mẫm qua cánh rừng dương rùng rợn ấy giữa lúc hồn ma bà Hạnh đang lẩn khuất đâu đây, tôi rùng mình thà chịu chết cóng trước hiên nhà mình còn hơn là đâm đầu vào chốn hiểm nguy ấy.
Cứ thế, tôi ngồi gà gật trong nỗi sợ hãi chực chờ, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập cho đến khi vầng thái dương từ từ nhô lên khỏi mặt biển đằng xa, rải những tia nắng vàng ấm áp đầu tiên xuống mái ngói rêu phong và khoảng sân cát. Ánh sáng rực rỡ của ban ngày dần xua đi lớp sương mù ẩm ướt, cùng lúc đó tiếng bước chân lạo xạo của những người đi gỡ lưới sớm, tiếng í ới gọi nhau họp chợ cá bắt đầu vang lên rộn rã ngoài con đường đất đỏ. Thấy không gian xung quanh đã tràn ngập hơi thở của người sống, tâm thần tôi mới dần dần định hình trở lại sau một đêm kinh hoàng thót tim. Tôi lò dò đứng dậy mở then cửa bước vào nhà, gom hết mùng mền chiếu gối còn vương mùi tanh tưởi đem ra giàn phơi trước sân, rồi lại kéo một chiếc ghế đẩu ra ngồi thẫn thờ trước hiên, ngóng trông bóng dáng người thân sang đón.
Nghĩ đến cảnh ngộ đơn độc và nỗi kinh hoàng vừa trải qua trong đêm tối, một cơn tủi thân bất chợt trào dâng khiến sống mũi tôi cay xè, hai hàng nước mắt lại lã chã rơi xuống vạt áo. Cha mẹ thì bặt vô âm tín chưa thấy bóng thuyền cập bến, bà ngoại thì tuổi cao sức yếu chưa thể qua ngay, người chị họ thì biến mất không một lời nhắn nhủ, bỏ lại tôi một mình đối mặt với cái chết kề cận. Đang lúc tôi cúi gằm mặt xuống hai đầu gối nức nở khóc rấm rứt thì bỗng nhiên có một bàn tay đập mạnh vào sau ót tôi nghe một tiếng cốp khô khốc, làm trán tôi dộng thẳng vào đầu gối đau điếng. Tôi giật bắn mình giận dữ ngẩng phắt mặt lên toan gắt gỏng chửi bới, nhưng vừa nhìn thấy khuôn mặt hớn hở phớ lớ cùng hàm răng sún của thằng Biển đang nhe ra cười toe toét, cơn giận trong tôi bỗng chốc xẹp xuống, thay vào đó là một cảm giác nhẹ nhõm đến lạ kỳ.
Biển lập tức ngồi thụp xuống chiếc đòn gót bằng gỗ đối diện với tôi, thu lại nụ cười cợt nhả rồi bày ra một vẻ mặt nghiêm trọng đến mức hai hàng lông mày nhíu chặt vào nhau, tạo thành những nếp nhăn sâu hoắm trên vầng trán đen nhẻm vì nắng gió. Dù mới mười lăm tuổi nhưng mỗi khi nó bày ra cái bộ dạng trầm tư toan tính đó, trông nó chẳng khác nào mấy ông lão sáu mươi tuổi hay ngồi đánh cờ tướng dưới gốc cây bàng ngoài đình làng với ông ngoại tôi. Nhìn bộ dạng dở khóc dở cười ấy của nó, tôi vừa gạt nước mắt vừa cất giọng khàn đặc hỏi nó lại bày trò gì nữa. Biển không đáp ngay mà liếc mắt nhìn quanh quất ra ngoài ngõ như sợ có ai nghe lén, rồi ghé sát tai tôi thì thào với giọng điệu đầy vẻ bí hiểm rằng sáng nay lúc theo má nó ra chợ cá, nó đã chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng đến rợn tóc gáy ngay tại bãi đất bìa làng.
Tôi bực mình thúc cùi chỏ vào mạn sườn nó, giục nó có chuyện gì thì nói thẳng ra đừng có úp úp mở mở làm người khác phát sốt ruột. Thấy tôi không còn kiên nhẫn, Biển mới hạ giọng kể lại rằng sáng sớm hôm qua, sau khi gia đình bà Hạnh tìm khắp mọi hang cùng ngõ hẻm trong nhà ngoài ngõ mà không thể nào tìm ra chiếc áo cưới gia truyền để mặc cho thi thể bà ta theo đúng tập tục khắt khe của làng chài, dân làng đã buộc phải dùng manh chiếu rách bó chặt lấy cái xác trần truồng của bà ta lại. Đến đúng giờ chính Ngọ hôm qua, dưới sự chứng kiến của các bậc cao niên trong làng, bốn người đàn ông lực lưỡng đã khiêng cái xác bó chiếu đó ra mỏm đá đầu cồn rồi vung tay quăng thẳng xuống dòng nước biển sâu thẳm để tống khứ vận hạn xui xẻo theo lệ tục ngàn đời. Chuyện đó thì cả làng này ai ai cũng đều biết rõ mười mươi, nhưng điều quái đản tột cùng xảy ra vào sáng nay là cái xác của bà Hạnh lại bất ngờ xuất hiện trở lại trên đất liền.
Biển ghé sát tai tôi, cất giọng run rẩy kể tiếp rằng theo tục lệ cổ xưa truyền đời của làng ta, phụ nữ khi tạ thế bắt buộc phải được mặc chiếc áo cưới lúc bước chân về nhà chồng để chôn xuống mồ sâu, xem như một tấm bùa hộ mệnh thiêng liêng gìn giữ thân thể và linh hồn thanh sạch trước ma quỷ biển sâu. Người nào bạc phước chết đi mà không có áo cưới bọc thân thì bị xem là kẻ mang nghiệp chướng nặng nề, vong hồn sẽ bị sóng gió đại dương ruồng bỏ, không bao giờ được siêu sinh tịnh độ. Người xưa tin rằng nếu để một cái xác đàn bà trần truồng không áo cưới chôn dưới lòng đất làng chài thì âm khí sẽ tích tụ thành đại dịch, quỷ biển dưới đáy sâu sẽ lần mò theo mùi tử khí trồi lên quấy phá nhân gian. Bởi vậy, từ bao đời nay, hễ ai mất áo cưới thì dân làng bắt buộc phải quấn chiếu rách đem thả trôi sông trôi biển, phó mặc số phận cho loài cá xâu xé để tiêu trừ nghiệp chướng. Nào ngờ, cái xác của bà Hạnh vừa bị quăng xuống biển trưa hôm qua thì ngay trong đêm tối đã tự mình đạp sóng bơi ngược vào bờ, cởi bỏ dây trói chiếu rách rồi tìm đường bò lên chiếm cứ nấm mồ của loài chó chết trôi.
Toàn thân tôi run lên bần bật, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm cả sống lưng khi nghe Biển nhắc đến hai chữ xác chết. Biển trợn tròn mắt kể tiếp rằng lúc sáng sớm, khi sương mù còn chưa kịp tan, những người đi chợ sớm đã bu đen bu đỏ ngoài bãi đất trống bìa làng vì phát hiện ra toàn bộ những ụ đất chôn xác chó chết trôi từ trước đến nay đều bị đào bới xới tung lên thành từng hố sâu hoắm, đất cát vung vãi tanh bành khắp nơi. Và nằm lọt thỏm ngay bên dưới một hố chôn chó bị cày xới sâu nhất chính là cái xác trần truồng, trương phình nham nhở của bà Hạnh, không hề có manh chiếu hay mảnh vải liệm nào che thân. Người ta xôn xao bàn tán rằng làm sao một cái xác chết đã bị quấn chặt trong chiếu rách rồi ném xuống đáy biển sâu hàng chục sải tay lại có thể tự mình cởi bỏ dây buộc, bơi ngược dòng nước xiết để leo lên bờ cát, rồi chui vào nằm gọn lỏn trong nấm mồ của một con chó chết trôi như thế được.
Nghe đến đó, hai tai tôi lùng bùng như có tiếng sóng biển gầm rú dữ dội bên trong màng nhĩ, mắt tôi hoa lên còn mặt mày thì tái mét không còn một giọt máu. Thằng Biển thấy tôi biến sắc đột ngột thì hốt hoảng đưa tay lay mạnh hai bờ vai tôi, hỏi dồn dập xem có phải tôi bị trúng gió độc hay trúng nắng hay không mà người lạnh ngắt như thây ma. Nhưng tôi không còn nghe lọt tai những lời cằn nhằn lo lắng của nó nữa, bởi vì một sự thật kinh hoàng tột độ đang hiện ra rõ mồn một trong tâm trí tôi: nếu như sáng sớm nay người ta mới phát hiện xác bà Hạnh nằm ngoài ụ đất bìa làng, vậy thì thứ dãi dớt nhờn nhợt và khuôn mặt tanh tưởi lạnh ngắt đã dí sát vào mặt tôi suốt cả đêm qua trên giường ngủ rốt cuộc là thứ quái quỷ gì. Chẳng lẽ cái xác chết trôi ấy sau khi bò từ dưới đáy biển lên đã không nằm yên một chỗ, mà đã mò mẫm khắp các nẻo đường trong làng rồi lần mò vào tận giường của tôi để trêu ngươi đe dọa.
Đúng lúc tâm trí tôi đang chao đảo trong cơn hoảng loạn tột cùng thì từ phía sân nhà bà Hạnh ở cách đó một bờ rào dâm bụt bỗng vang lên những tiếng cãi vã la hét vô cùng dữ dội. Tôi và Biển giật mình quay phắt đầu lại nhìn sang, chỉ thấy trước khoảnh sân đất nhà người đàn bà xấu số đã chật kín bóng người từ lúc nào không hay. Dân làng tụ tập đông như ong vỡ tổ, người cầm đòn gánh, kẻ mang nón lá, ai nấy đều xôn xao chỉ trỏ và lớn tiếng tra hỏi người nhà bà Hạnh với những ánh mắt tràn đầy sự nghi ngờ và phẫn nộ. Những lời bàn tán xì xào lẫn tiếng quát tháo the thé vang dội khắp cả một vùng không gian tĩnh lặng của xóm chài, xoay quanh những uẩn khúc kỳ quái về cái chết bất đắc kỳ tử của bà Hạnh, sự biến mất không một dấu vết của người chồng tên Hải cùng đứa con thơ, và nguồn cơn ma quái nào đã khiến cái xác chết trôi tự bò lên nằm chiếm cứ các hố chôn chó ngoài bìa rừng.
Tôi định kéo thằng Biển đứng dậy bước vào nhà để tránh vướng vào những chuyện thị phi rắc rối của người lớn, nhưng Biển đã nhanh tay nắm chặt lấy cổ tay tôi giật ngược trở lại. Nó đưa ngón tay trỏ lên miệng làm dấu suỵt một tiếng thật khẽ, rồi nháy mắt ra hiệu cho tôi cùng cúi thấp người nép sát vào chân bức tường gạch rêu phong ngăn cách hai gian nhà để dỏng tai lên nghe ngóng tình hình. Giữa đám đông đang nhốn nháo tranh nhau mở miệng, một người đàn ông trung niên làm nghề đi biển ở sát vách nhà bà Hạnh bước lên phía trước, hắng giọng thật mạnh rồi kể lại với giọng điệu run rẩy rằng vào buổi chiều tối hôm trước khi xảy ra thảm kịch, ông thấy bà Hạnh đi đâu về nhà rất muộn, áo quần lấm lem bùn đất và vẻ mặt vô cùng thất thần. Chồng bà ta là anh Hải gặng hỏi đi đâu cả ngày bỏ bê cơm nước con cái thì bà ta nổi khùng lên chửi bới thậm tệ, hai vợ chồng cự cãi xô xát ầm ĩ đến mức đứa con nhỏ khóc thét lên từng hồi thảm thiết, mãi đến khi ông hàng xóm bước sang khuyên can thì anh Hải mới chịu nín nhịn bỏ vào buồng trong.
Một cụ già đánh cá đêm khác cũng lập tức chen ngang vào lời kể, run rẩy bổ sung thêm rằng vào khoảng hai ba giờ sáng của đêm hôm đó, khi ông đang chèo ghe giăng lưới trở về bến thì bất chợt nhìn thấy một bóng đen to lớn dị thường đang kéo lê một vật gì đó rất nặng từ phía rừng dương liễu rậm rạp đi dần về phía các ụ đất chôn chó ngoài bìa làng. Lúc đó trời tối đen như mực lại có sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn, ông già cứ ngỡ mình đụng phải ma da hay quỷ biển hiện hình nên hoảng hồn cắm đầu cắm cổ chèo ghe thục mạng về nhà, trùm kín chăn run rẩy không dám bước chân ra ngoài cửa để dòm ngó xem đó thực chất là thứ gì. Lời kể của ông cụ vừa dứt đã khiến cả đám đông ồ lên một tiếng kinh hãi, những người phụ nữ yếu bóng vía vội vàng chắp tay lẩm bẩm niệm Phật cầu xin thần linh che chở.
Một người đàn bà bán cá ở đầu chợ cũng lớn tiếng chen vào, vẻ mặt đầy sự bức xúc và hoài nghi tột độ. Bà ta kể rằng cách đây nửa năm, sau một chuyến ra khơi gặp dông bão lớn, anh Hải chồng bà Hạnh đã vớt được một chiếc rương gỗ mục nát phủ đầy rong rêu trôi dạt ngoài rạn đá ngầm. Kể từ ngày đem chiếc rương bí ẩn đó về giấu trong gian buồng kín, gia đình bà Hạnh bỗng trở nên giàu có bất thường, thường xuyên có tiền mua sắm vàng bạc và ghe thuyền mới mà không rõ nguồn gốc từ đâu ra. Thế nhưng cũng chính từ dạo ấy, những người hàng xóm sống xung quanh thường xuyên nghe thấy những tiếng khóc thút thít ai oán của trẻ con vang lên từ căn nhà kín cổng cao tường vào những đêm thanh vắng, kèm theo mùi tanh nồng như mùi máu cá thối rữa phảng phất khắp xóm. Người ta nghi ngờ rằng sự mất tích đột ngột của chiếc áo cưới gia truyền cùng thảm kịch kinh hoàng giáng xuống gia đình này có liên quan mật thiết đến những thứ tà vật quái đản mà vợ chồng bà Hạnh đã lén lút cất giấu bấy lâu nay.
Lúc này, mẹ ruột của bà Hạnh – một bà lão gầy gò ốm yếu với mái tóc bạc phơ rối bù – bước ra giữa sân rồi ngồi bệt xuống đất nấc lên từng chập đau đớn, nước mắt giàn giụa trên đôi gò má nhăn nheo hốc hác. Bà nghẹn ngào kể lại rằng vào khoảng tờ mờ sáng hôm xảy ra án mạng, khi bà gánh quang gánh đi chợ sớm thì bàng hoàng phát hiện con gái mình đang nằm bất động giữa những ụ đất chôn chó đã bị đào xới tung tóe. Khi bà hốt hoảng chạy lại gần lay gọi thì thấy trên người con gái không có lấy một mảnh vải che thân, toàn thân phủ đầy bùn đất đen ngòm và những vết máu khô bết dính. Quá đỗi sợ hãi và thương xót con, bà không dám tri hô làng xóm mà vội vàng chạy vào nhà một người bà con gần đó nhờ hai người đàn ông chạy ra phụ khiêng con gái về nhà đặt lên giường rồi lấy nước nóng lau rửa vết thương và xoa dầu cứu chữa. Khi tỉnh lại được đôi chút trong hơi thở thều thào đứt quãng, bà Hạnh chỉ kịp kể lại rằng nửa đêm đang ngủ say thì bỗng nghe tiếng đàn chó tru trét rộ lên từng hồi inh ỏi ngoài đường làm bà bực bội không thể nào chợp mắt được. Bà bèn vùng dậy mở toang cửa lao ra đường buông lời chửi đổng xua đuổi bầy chó ma quái, thì bất thình lình bị một thứ gì đó vô cùng nặng nề đập thật mạnh từ phía sau gáy khiến bà choáng váng rồi ngã vật xuống đất ngất lịm đi không còn biết trời trăng mây nước gì nữa.
Đúng lúc không khí căng thẳng đang lên đến đỉnh điểm thì đám đông bỗng dạt ra hai bên để nhường lối đi cho hai nhân vật quan trọng nhất trong làng chài bước vào. Đi đầu là ông trưởng làng với vẻ mặt nghiêm nghị, quắc thước, mặc bộ quần áo bà ba màu nâu sẫm, theo sát phía sau là thầy pháp Bảy Núi – một vị đạo sĩ danh tiếng ngoài sáu mươi tuổi đến từ vùng Thất Sơn An Giang xa xôi, người vốn nổi tiếng khắp các vùng duyên hải nhờ tài trừ tà diệt quỷ và am hiểu sâu sắc các bí thuật phong thủy cổ truyền. Thầy Bảy Núi bước đi khoan thai nhưng vững chãi, chòm râu dài bạc phơ rung rinh theo từng nhịp thở, đôi mắt sáng quắc như sao đêm quét một lượt qua khoảng sân nhà rồi dừng lại trên người mẹ bà Hạnh. Nhìn thấy vị pháp sư đức cao vọng trọng xuất hiện, dân làng lập tức im bặt không ai dám lớn tiếng xì xào nữa, chỉ còn lại tiếng gió biển rít qua ngọn dừa xào xạc từng cơn buốt giá.
Trưởng làng nghiêm giọng cất tiếng hỏi mẹ bà Hạnh về những uẩn khúc trong cái chết của con gái bà. Ông chất vấn rằng theo kết quả khám nghiệm sơ bộ của những người am hiểu pháp y, trên thi thể bà Hạnh tuy có nhiều vết cào xước sâu hoắm do móng vuốt của một loài dã thú nào đó để lại nhưng tuyệt nhiên không hề có vết thương nào mang tính chất chí mạng vào chỗ hiểm, vậy cớ sao bà ta lại tắt thở đột ngột như thế. Hơn thế nữa, điều khiến cả làng nghi ngờ và hoang mang tột cùng là việc gia đình bà tự ý làm đơn khai tử cho cả ba người gồm bà Hạnh, anh Hải và đứa con thơ, trong khi hiện trường chỉ có duy nhất thi thể của bà Hạnh, còn chồng và con bà ta thì biệt vô âm tín, không rõ còn sống hay đã chết, và chiếc áo cưới gia truyền mang tính chất thiêng liêng của dòng họ rốt cuộc đã bị ai lấy cắp mà biến mất một cách bí ẩn như vậy.
Mẹ bà Hạnh nghe hỏi thì chỉ biết đấm ngực thùm thụp mà khóc lóc thảm thiết, thanh minh rằng lúc đưa con gái về nhà thì cửa nẻo đã mở toang hoác, nhìn quanh quất khắp nơi không thấy bóng dáng con rể và cháu ngoại đâu cả. Khi bà Hạnh trút hơi thở cuối cùng quá nhanh chóng, cả nhà rơi vào cảnh bối rối hoảng loạn tột độ, lại thêm áp lực phải tìm chiếc áo cưới để khâm liệm theo đúng tục lệ làng chài trước giờ chính Ngọ nên trong lúc quẫn trí đã làm giấy báo tử cho cả ba người để mong sớm được lo liệu mồ yên mả đẹp. Lời giải thích vụng về trong nước mắt của bà lão chỉ càng làm cho không khí xung quanh thêm phần ngột ngạt và u ám, bởi ai nấy đều cảm nhận được một bức màn đen tối đầy chết chóc đang bao trùm lấy ngôi làng nhỏ bé này.
Thầy Bảy Núi không vội lên tiếng phán xét mà lẳng lặng rút từ trong tay áo ra một chiếc la bàn phong thủy bằng đồng cổ đã ngả màu xám xịt cùng một chiếc gương bát quái nhỏ viền gỗ mun. Thầy chầm chậm bước đi quanh sân đất, mắt chăm chú quan sát từng chuyển động quay cuồng bất thường của chiếc kim la bàn đang run rẩy chỉ về hướng đông nam ngoài biển khơi. Thầy cúi người xuống sát mặt đất, lấy ngón tay chấm một chút bùn đen còn dính lại trên các rãnh đất nứt nẻ rồi đưa lên mũi ngửi thử. Một cái nhíu mày trầm tư thoáng qua trên gương mặt phúc hậu của vị đạo sĩ già, làm sâu thêm những nếp nhăn thời gian trên trán. Sau một hồi quan sát kỹ lưỡng từ bậu cửa sổ cho đến gian buồng ngủ của người đàn bà xấu số, thầy khẽ thở dài một tiếng thật sâu rồi quay lại đối diện với đám đông dân làng đang nín thở chờ đợi.
Thầy Bảy Núi cất giọng trầm ấm nhưng vang vọng như tiếng chuông đồng giữa trưa hè, chậm rãi giải thích cho toàn thể dân làng hiểu rõ về chân tướng kinh hoàng của những sự việc quái dị vừa diễn ra. Thầy bảo rằng con chó đen trần trụi không có lấy một cọng lông, mắt đỏ ngầu như hai hòn than mà anh Dương vớt được từ dưới biển sâu lên cách đây hai ngày hoàn toàn không phải là một sinh vật bình thường của trần thế. Đó chính là một con chó tinh, hiện thân tà ác của những thây ma chết trôi oan khuất chìm sâu dưới đáy biển không được ai vớt lên cúng tế, tích tụ oán khí ngút trời qua hàng trăm năm mà biến thành loài quỷ biển hung dữ. Chúng đã mượn hình hài của một con thú kỳ dị trôi dạt vào bờ để đánh lừa lòng trắc ẩn của dân làng chài, mở đường cho lũ tà ma xâm nhập vào bờ cõi đất liền để gieo rắc tai ương hủy diệt.
Thầy giải thích thêm rằng dưới đáy biển sâu thẳm ngoài khơi xa có một vùng hang động ngầm ngập tràn đá nhọn và xoáy nước tử thần, nơi chôn vùi hàng ngàn thi thể của những người đi biển gặp nạn qua nhiều thế kỷ. Do không có người thân cúng tế, những oán linh ấy dần dần tụ hội lại với nhau, hấp thu âm khí của loài thủy quái mà biến thành loài quỷ biển chuyên săn lùng hồn vía người sống. Con chó tinh mà anh Dương cứu sống thực chất là một mắt xích đầu tiên do bầy quỷ biển phái lên bờ để thăm dò sinh khí của ngôi làng. Tiếng chó tru rộ lên từng hồi ai oán xé toạc màn đêm chính là khúc ca gọi hồn ma quỷ, nhằm đánh thức những tà linh ngủ vùi dưới lòng đất và làm suy yếu màng chắn tâm linh của những ngôi nhà ven biển.
Thầy Bảy Núi nghiêm giọng chỉ rõ rằng vào đúng cái đêm mà bà Hạnh bị tấn công rồi qua đời, con chó đen kỳ quái mà anh Dương nuôi nhốt cũng bất ngờ lăn đùng ra chết cứng trước đó vài canh giờ mà không hề có dấu hiệu bệnh tật. Khi con chó chết đi, linh hồn quỷ biển của nó đã thoát ra và tìm cách đoạt lấy một thể xác người sống mang nhiều oán hận để nương gá, và người phụ nữ chua ngoa đang lúc hấp hối vì phẫn uất như bà Hạnh chính là vật chủ hoàn hảo nhất cho chúng mượn xác. Tục lệ bó chiếu ném xác bà Hạnh xuống biển hôm qua vô tình lại là một hành động thả hổ về rừng, tạo cơ hội cho tà linh dưới biển hòa nhập hoàn toàn vào da thịt của cái xác chết. Đêm hôm qua, cái xác ấy đã tự mình đạp nước trồi lên từ đáy biển sâu, lê từng bước chân trần nhầy nhụa rong rêu và bùn mặn đi dọc theo các con đường đất dẫn vào từng ngõ ngách trong làng.
Thầy Bảy khẳng định rằng sáng nay chính mắt thầy đã quan sát thấy những dấu chân trần lún sâu hoắm in hằn trên nền đất trước cửa từng ngôi nhà trong xóm, chứng tỏ cái xác ma quái đó đã đứng rình rập ngoài hiên rất lâu để nhòm ngó vào bên trong trước khi gà gáy sáng buộc nó phải lết xác quay trở lại nằm trốn dưới các hố chôn chó ngoài bìa rừng. Thầy chỉ tay về phía những rãnh đất trước cửa nhà bà Hạnh rồi vạch rõ cho mọi người thấy những vệt nhớt đen ngòm bốc mùi thối rữa còn đọng lại trên cỏ khô. Còn số phận của anh Hải và đứa con thơ, thầy Bảy lắc đầu xót xa nhận định rằng rất có thể hai cha con họ đã bị đàn quỷ biển bắt cóc tha đi biệt tích vào sâu trong những hang động hẻo lánh dưới lòng biển cả để làm vật tế lễ cho ma trận La Hầu cổ đại.
Nghe những lời phân tích rành rẽ từng đường đi nước bước của vị đạo sĩ tài ba, toàn thể dân làng có mặt tại sân bỗng chốc rùng mình kinh hãi, mặt mày ai nấy đều xám ngoét như tro tàn. Riêng tôi và thằng Biển ngồi nép sau bức tường gạch thì lạnh toát cả sống lưng, mồ hôi túa ra như tắm. Tôi cắn chặt môi đến suýt bật máu để ngăn không cho tiếng nấc kinh hoàng thoát ra khỏi miệng, bởi lời nói của thầy Bảy đã xác nhận một sự thật khủng khiếp nhất: đêm qua, trong khi cái xác chết trôi ấy không thể bước qua bậu cửa của bất kỳ ngôi nhà nào khác trong làng nhờ có bàn thờ gia tiên và bùa chú trấn giữ, thì nó lại có thể đường hoàng bước vào tận phòng ngủ của tôi, ngồi đè lên giường và áp sát khuôn mặt tanh tưởi vào mặt tôi suốt nhiều giờ liền. Cảm giác cái chết đã lướt qua sợi tóc trong gang tấc làm toàn thân tôi bủn rủn, đầu óc quay cuồng như rơi vào một vực sâu không đáy.
Tôi thầm hiểu rằng sở dĩ căn nhà của tôi bị cái xác xâm nhập dễ dàng như vậy là bởi vì cha mẹ tôi đi vắng xa, căn nhà thiếu vắng dương khí bảo bọc của người lớn, lại thêm người chị họ bỏ đi để lại tôi một mình đơn độc trong đêm tối. Nhưng sâu xa hơn cả, dường như có một sợi dây liên kết tâm linh vô hình nào đó giữa huyết mạch dòng họ tôi và những hiện tượng kỳ bí đang xảy ra trên hòn đảo này. Nhớ lại ánh mắt ma quái của bà Hạnh khi nhìn tôi qua tấm vải liệm hôm qua tại đám tang và nụ cười rùng rợn trên chiếc giường ngủ đêm qua, tôi rùng mình nhận ra mình đã trở thành mục tiêu nhắm đến hàng đầu của đàn quỷ biển.
Giữa lúc đám đông đang chìm trong sự hoang mang tột độ, tiếng nói đanh thép của thầy Bảy Núi lại một lần nữa vang lên cắt đứt bầu không khí tĩnh mịch nghẹt thở. Thầy quả quyết tuyên bố rằng cái xác của bà Hạnh hiện tại đã bị tà linh quỷ biển chiếm đoạt hoàn toàn, nếu cứ để thi thể ấy tồn tại thì đêm nay nó sẽ tiếp tục đội mồ sống dậy, xông vào từng nhà để cắn xé cổ họng người sống, hút cạn sinh khí và uống máu tươi của dân làng để gia tăng tà lực. Biện pháp duy nhất để trừ tiệt mối đại họa này và cứu vãn sự an nguy cho toàn bộ hòn đảo là phải mang cái xác ấy về giữa làng, lập đàn tràng dùng chân hỏa tam muội thiêu rụi toàn bộ thi thể thành tro bụi trước khi giờ Hợi điểm canh ba. Dù mẹ bà Hạnh có gào khóc van xin đến mức nào đi chăng nữa, trước sự an nguy của hàng trăm mạng người trong làng chài, ông trưởng làng và các bậc cao niên đã đồng lòng chuẩn y quyết định hỏa táng của vị pháp sư.
Thầy Bảy Núi lập tức phân công công việc cụ thể cho từng nhóm người trong làng để chuẩn bị cho buổi đại lễ trừ tà vào chiều tối. Thầy dặn dò các bậc cao niên phải đi thông báo cho từng gia đình trong xóm lập tức dùng vôi trắng vẽ những đường tròn phong tỏa trước ngưỡng cửa, rắc tro bếp quanh chân giường của trẻ nhỏ và dán những lá bùa bình an mà thầy đã chuẩn bị sẵn lên các cửa sổ để ngăn chặn tà khí xâm nhập. Đàn bà con nít tuyệt đối không được bén mảng ra ngoài đường sau khi mặt trời lặn, còn thanh niên trai tráng thì phải chuẩn bị gậy gộc, đuốc lửa và dầu hỏa để hỗ trợ việc canh giữ giàn thiêu.
Ngay buổi trưa hôm đó, một không khí khẩn trương nhưng nặng nề như tang tóc bao trùm lên khắp mọi ngóc ngách của ngôi làng nhỏ ven biển. Dưới sự điều động nghiêm ngặt của trưởng làng, một nhóm thanh niên trai tráng khỏe mạnh được trang bị búa rìu, dây thừng và đuốc lửa đi ra bãi đất bìa làng để cẩn thận khiêng thi thể của bà Hạnh về bãi đất trống rộng lớn nằm ngay trung tâm làng chài. Tại đây, người ta đã đào sâu một hố đất lớn rồi dựng đứng một cây cột gỗ lim to lớn, cao hơn trượng, vững chãi như một cột buồm tàu biển. Xung quanh gốc cột, hàng chục bó củi khô, cành dương già và rơm rạ được chất cao ngang ngực, tẩm sẵn dầu phụng và dầu lửa nồng nặc mùi hăng hắc.
Khi cái xác của bà Hạnh được khiêng đến nơi đặt trên một tấm liếp tre, tôi và thằng Biển vì tò mò lẫn sợ hãi đã lén lút chen lấn qua dòng người để tận mắt chứng kiến. Nhìn thấy cái xác chết trôi ấy, tôi không khỏi rùng mình kinh khiếp: dù đã trải qua mấy ngày dầm mình dưới nước biển mặn chát và vùi lấp dưới bùn đất tanh hôi, nhưng làn da trên cơ thể bà ta lại không hề có dấu hiệu rữa nát hay bốc mùi thối rữa bình thường, mà trái lại nó căng bóng một cách dị thường, trắng bệch như mỡ lợn đông đặc. Thầy Bảy Núi mặc chiếc áo đạo sĩ màu vàng nghệ, tay cầm bút lông nhúng đẫm mực chu sa đỏ thắm, thoăn thoắt vẽ lên một tấm vải lanh vàng lớn những đường phù chú ngoằn ngoèo tựa như rồng bay phượng múa. Xong xuôi, thầy sai người dùng tấm vải lanh bùa chú ấy quấn chặt kín mít toàn bộ cơ thể bà Hạnh từ đỉnh đầu cho đến gót chân, tẩm thêm một lớp dầu hỏa dày đặc lên bề mặt rồi dùng những sợi dây thừng lớn trói gập thi thể vào thân cột gỗ lim sừng sững giữa trời.
Buổi chiều tà trôi qua thật nhanh chóng trong sự ngột ngạt đến nghẹt thở của từng người dân chài. Mặt trời đỏ quạch như một lòng đỏ trứng gà từ từ chìm nghỉm xuống đáy biển phía tây, nhuộm đỏ rực cả một vùng trời nước mênh mông tựa như một biển máu khổng lồ. Từng đàn chim hải âu từ ngoài biển khơi hốt hoảng bay dạt vào bờ, cất lên những tiếng kêu thảm thiết chói tai rồi biến mất sau những rặng dừa xao xác. Gió biển bắt đầu đổi chiều, không còn mang theo vị mặn nồng quen thuộc của biển cả mà thoang thoảng mùi tử khí tanh tưởi lạnh buốt đến ghê người. Toàn bộ người già, trẻ nhỏ và trai tráng trong làng đều tề tựu đông đủ xung quanh giàn hỏa thiêu, đứng thành một vòng tròn lớn cách xa cây cột gỗ chừng mười sải chân.
Gương mặt ai nấy đều căng thẳng tột độ, hai mắt đăm đăm nhìn vào khối vải lanh vàng quấn xác chết treo lơ lửng trên cột gỗ, chẳng khác nào một chiếc kén tằm khổng lồ đầy tử khí. Dù thằng Biển run rẩy nắm chặt lấy gấu áo tôi khuyên nên đi về nhà, nhưng đôi chân tôi như bị chôn chặt tại chỗ, một linh cảm mơ hồ mách bảo rằng biến cố kinh hoàng nhất vẫn còn đang chực chờ phía trước. Thầy Bảy Núi bước ra trước bàn thờ tam bảo, nơi đã thắp sẵn ba mươi sáu ngọn nến sáp ong vàng óng xếp theo hình bát quái trận đồ. Thầy cung kính rót ba chén rượu trắng dâng lên trời đất, rồi bốc từng nắm gạo muối ngũ sắc tung về bốn phương tám hướng để tạ ơn các vị thần linh che chở cho buổi lễ trừ tà.
Khi canh giờ đã điểm, tiếng chuông đồng từ tay thầy Bảy Núi vang lên từng hồi dồn dập, xé toạc màn sương đêm đang bao phủ lấy bãi đất trống. Thầy vung thanh kiếm gỗ đào sáng loáng lên không trung rồi cất giọng trầm hùng tụng niệm những câu chú trừ tà cổ xưa bằng tiếng Phạn bí hiểm. Lời chú vừa dứt, thầy phóng mạnh một lá Hỏa Linh phù đã được đốt cháy đỏ rực vào đống củi khô dưới chân cột gỗ. Xăng dầu bén lửa lập tức bùng lên một tiếng phựt dữ dội, ngọn lửa đỏ rực liếm láp qua từng thớ củi rồi nhanh chóng bốc cao ngùn ngụt, tỏa ra sức nóng hầm hập và mùi khét lẹt xộc thẳng vào mũi mọi người xung quanh. Lửa đỏ bắt đầu bén dần lên gót chân của thi thể đang bọc kín trong tấm vải lanh vàng, soi rõ từng đường nét run rẩy của dân làng đang đứng chắp tay nín thở cầu nguyện cho tà ma sớm bị tiêu diệt.
Thế nhưng, đúng ngay khoảnh khắc ngọn lửa vừa chạm vào lớp vải lanh bùa chú, một cơn gió lốc từ ngoài khơi xa bất thần thổi thốc vào đất liền dữ dội, cuốn theo cát bụi mịt mù và tiếng sóng biển gầm thét ầm vang. Trên bầu trời cao vòi vọi, vầng trăng rằm sáng vằng vặc bỗng chốc bị một đám mây đen khổng lồ hình đầu lâu ma quái từ đâu cuồn cuộn kéo đến che khuất hoàn toàn, ném cả không gian vào một bóng tối mịt mùng rợn ngợp. Trong khoảnh khắc âm dương đảo lộn đó, cái xác chết bọc kín trong tấm vải lanh bỗng nhiên cựa quậy dữ dội, toàn thân giãy giụa điên cuồng làm thân cột gỗ lim rung lắc bần bật. Từ bên dưới lớp vải dày đặc, những tiếng rít the the chói tai như tiếng kim loại cào vào đá tảng bắt đầu vang lên đứt quãng, rồi chuyển dần thành những tiếng gào thét thảm thiết, man rợ đến lạnh người, tựa như một con ác thú hung tợn đang dồn hết sức tàn cào xé lớp vỏ bọc để thoát ra ngoài đoạt mạng người sống.
Chưa dừng lại ở đó, từ sâu trong bóng tối thâm u của cánh rừng dương bao quanh bãi đất trống, bỗng nhiên xuất hiện lốm đốm rồi dày đặc hàng trăm cặp mắt đỏ ngầu như máu đang trừng trừng phát sáng. Những tiếng thở phì phò tanh nồng mùi biển cả dội lại từ khắp bốn phương tám hướng, kèm theo bóng dáng của vô số những con chó đen trần trụi không có lông, thân hình ngoằn ngoèo dị dạng đang từ từ bò ra khỏi bìa rừng tạo thành một vòng vây xiết chặt lấy dân làng. Đột nhiên, cái xác của bà Hạnh đang bốc cháy ngùn ngụt trên cột gỗ bỗng ưỡn cong người ra phía trước, phần đầu ngoác rộng khẩu hình miệng dưới lớp vải lanh rồi ngửa mặt lên trời cất lên một tiếng hú dài ai oán xé toạc màn đêm. Ngay tức khắc, hàng trăm cặp mắt đỏ rực ngoài bìa rừng đồng loạt ngửa cổ hú vang phụ họa theo, tạo thành một bản trường ca rùng rợn của cõi âm làm kinh tâm động phách tất cả những ai có mặt.
Dân làng kinh hoàng thét lên hỗn loạn, mạnh ai nấy giẫm đạp lên nhau cắm đầu tháo chạy trong cơn hoảng loạn tột cùng. Giữa khung cảnh hỗn tạp đất trời rung chuyển ấy, một tiếng răng rắc chấn động vang lên từ gốc cột gỗ lim đang bốc cháy hừng hực. Chiếc cột khổng lồ mang theo ngọn lửa đỏ rực và cái xác chết quỷ dị đang giãy giụa la hét bỗng nhiên bật tung khỏi lòng đất, lơ lửng giữa không trung trong một khoảnh khắc kỳ quái rồi đổ ập xuống với một tốc độ kinh hoàng, nhằm thẳng vào vị trí tôi đang đứng chôn chân bất động giữa biển lửa và bầy quỷ dữ.
Cây cột gỗ lim nặng ngàn cân đang rực lửa đổ nhào xuống mang theo một luồng gió nóng rát mặt, tiếng lửa reo phần phật cùng mùi dầu khét lẹt táp thẳng vào da thịt khiến tôi nghẹt thở. Trong khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, khi cái chết chỉ còn cách đỉnh đầu tôi chừng nửa gang tay, một cánh tay rắn rỏi từ phía sau bất thần lao tới chộp mạnh lấy cổ áo tôi giật phắt về phía sau. Cả người tôi bị kéo lê trên nền cát thô ráp, lăn lông lốc ba bốn vòng trước khi va mạnh vào một gờ đất mấp mô. Ngay tích tắc sau đó, chiếc cột gỗ đồ sộ giáng mạnh xuống đúng vị trí tôi vừa đứng với một tiếng rầm chấn động mặt đất, tàn lửa và than hồng bắn tung tóe lên không trung như một trận mưa sao băng đỏ quạch. Khói đen mù mịt bốc lên ngùn ngụt hòa cùng tiếng nổ lách tách của những thớ gỗ lim cháy dở, tạo nên một khung cảnh địa ngục trần gian ngay giữa lòng làng chài yên ả thuở nào.
Tôi run rẩy ngước mắt lên thì thấy thằng Biển đang thở hồng hộc nằm sõng soài bên cạnh, hai bàn tay nó trầy trụa rỉ máu vì cú kéo liều mạng vừa rồi. Gương mặt nó lấm lem bùn đất và tàn tro đen sì, đôi mắt mở to thất thần nhìn đống lửa đang cháy rừng rực cách đó chỉ vài bước chân. Chưa kịp để hai đứa tôi hoàn hồn ngồi dậy, từ bên trong đống đổ nát của chiếc cột gỗ bốc cháy, một cảnh tượng rùng rợn đến thắt tim lại diễn ra trước mắt. Lớp vải lanh vàng dày cộp vẽ đầy bùa chú đã bị ngọn lửa thiêu rụi phân nửa, làm lộ ra một phần thân thể cháy đen thui nhưng vẫn không ngừng co giật của bà Hạnh. Những đường gân máu màu tím đen nổi cộm chằng chịt trên làn da cháy sém, hai cánh tay khô quắt với những móng vuốt dài nhọn hoắt cào cấu điên cuồng xuống mặt cát như muốn bấu víu vào sự sống ma quái. Từ trong cổ họng cháy khét của cái xác, những âm thanh the thé ồ ồ như tiếng nước sôi ùng ục trong nồi đồng vẫn không ngừng rít lên từng hồi ghê rợn, khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng phải rợn tóc gáy.
Lúc này, tiếng hú của bầy chó tinh ngoài bìa rừng dương lại rộ lên vang dội hơn bao giờ hết, tựa như một lời hiệu triệu ma quỷ thúc giục đồng loại xông lên cướp xác. Hàng trăm bóng đen trần trụi bắt đầu chuyển động, chúng không bước đi như những con chó thông thường mà trườn bò thoăn thoắt trên mặt cát bằng bốn chi khẳng khiu, đôi mắt đỏ ngầu chớp nháy liên hồi trong bóng tối. Mùi tanh tưởi của biển chết nồng nặc bốc lên ngập ngụa không gian, át đi cả mùi dầu hỏa và khét lẹt của gỗ cháy. Đám đông dân làng lúc này đã tan tác hoàn toàn, người thì chạy thục mạng về nhà cài then đóng cửa trùm chăn run rẩy, kẻ thì trèo lên những cành cây cao hay nhảy xuống mé biển trốn tránh, bỏ mặc bãi đất trống chỉ còn lại vị đạo sĩ già và hai đứa trẻ trơ trọi giữa vòng vây quỷ dữ.
Thầy Bảy Núi lúc này vẫn đứng sừng sững như một ngọn tháp đá trước đàn tràng, vạt áo đạo sĩ vàng nghệ phần phật bay trong cơn gió lốc dữ dội. Nhìn thấy cây cột gỗ ngã đổ và bầy quỷ biển đang lăm le tràn vào, sắc mặt thầy trầm xuống vô cùng nghiêm nghị nhưng tuyệt nhiên không hề lộ ra một chút nao núng hay sợ hãi. Thầy rút phắt từ trong tay áo ra một chiếc chuông đồng nhỏ cổ kính chạm khắc hình bát quái tinh xảo cùng một nắm gạo muối trắng tinh. Tay trái thầy lắc mạnh chiếc chuông phát ra những tiếng kêu leng keng trong trẻo nhưng đầy uy lực trấn áp ma tà, tay phải vung mạnh nắm gạo muối tung ra bốn phương tám hướng tạo thành một lằn ranh bảo vệ vô hình ngăn cách lũ súc sinh ma quái. Mỗi khi một hạt muối hay hạt gạo chạm vào thân thể lũ chó tinh đang bò tới gần, một tiếng xèo xèo như mỡ sôi lập tức vang lên, kèm theo những tia khói trắng bốc lên nghi ngút và tiếng rên rỉ đau đớn của loài quỷ dữ khi bị pháp lực thanh tẩy thiêu đốt da thịt.
Thầy Bảy quay phắt đầu lại, đưa đôi mắt sáng quắc nhìn trừng trừng về phía tôi và Biển rồi quát lớn một tiếng như sấm rền giữa trời quang, lệnh cho hai đứa chúng tôi phải lập tức bò lùi về phía sau đàn tràng và tuyệt đối không được bước chân ra khỏi vòng tròn bảo vệ rải bột chu sa mà thầy đã vẽ sẵn từ chiều. Tiếng quát đầy uy quyền của vị đạo sĩ già như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào tâm trí đang bấn loạn của tôi, kéo tôi ra khỏi cơn tê liệt chết người. Tôi vội vàng túm lấy cánh tay thằng Biển, hai đứa vừa bò vừa lết trên nền cát nóng ran, lùi dần từng bước về phía chân bàn thờ tam bảo nơi có ngọn đèn dầu lạc vẫn đang kiên cường tỏa sáng leo lét trước gió bão. Vừa đặt chân vào bên trong lằn ranh màu đỏ thắm của bột chu sa, tôi bỗng cảm nhận được một luồng hơi ấm vô hình bao bọc lấy cơ thể, xua bớt đi phần nào cái lạnh buốt xương tủy đang bủa vây từ khắp bốn bề.
Nhưng bầy chó tinh quỷ biển dường như không dễ dàng từ bỏ con mồi ngon béo bở. Oán khí tích tụ ngàn năm dưới đáy biển sâu bị kích động bởi ngọn lửa thiêu xác khiến chúng trở nên hung bạo và cuồng loạn đến tột cùng. Hàng chục con quái vật to lớn nhất, với chiếc đầu méo mó dị dạng không có tai và hàm răng lởm chởm những chiếc răng nanh dài ngoằng như mũi dao găm, bắt đầu chồm lên phía trước, dùng những chiếc móng vuốt sắc nhọn cào xới điên cuồng vào bức tường vô hình do thầy Bảy giăng ra. Cát bụi bay mù mịt, những tiếng gầm gừ đe dọa gằn từng cơn trong lồng ngực lép kẹp của bầy súc sinh làm rung chuyển cả bầu không khí tĩnh mịch của đêm rằm. Tệ hại hơn cả, cái xác cháy dở của bà Hạnh trên mặt đất bỗng nhiên vặn vẹo thân mình một cách kỳ dị, những khúc xương kêu lên răng rắc khô khốc rồi từ từ chống hai cánh tay cháy đen nhổm dậy khỏi đống tro tàn, khuôn mặt nửa thịt nửa xương hướng thẳng về phía đàn tràng nơi thầy trò chúng tôi đang cố thủ.
Thầy Bảy Núi khẽ nhíu mày, tay bấm một liên hoàn quyết phức tạp rồi vung kiếm gỗ đào vẽ một vòng tròn Thái Cực giữa không trung. Một luồng kim quang mờ ảo lóe lên từ đầu mũi kiếm chém thẳng vào giữa trán cái thây ma đang gượng dậy, khiến nó rú lên một tiếng the thé đau đớn rồi ngã vật xuống mặt cát quằn quại. Nhưng pháp lực tiêu hao quá nhiều khiến trán vị đạo sĩ già lấm tấm những giọt mồ hôi hột, chòm râu bạc rung rinh theo từng nhịp thở gấp gáp. Thầy quay đầu lại nhìn tôi, ánh mắt chứa đựng một nỗi trăn trở sâu xa và bí hiểm mà lúc ấy một đứa bé mười lăm tuổi như tôi chưa thể nào thấu suốt được. Thầy cất giọng trầm thấp dặn dò rằng đêm nay mới chỉ là khúc dạo đầu của một đại kiếp nạn kinh hoàng giáng xuống hòn đảo này, bởi vì chiếc áo cưới chôn theo thi thể đã bị kẻ gian đánh cắp nhằm mục đích phá vỡ phong ấn cổ xưa, giải thoát cho hàng ngàn oán linh quỷ biển đang bị giam cầm dưới ma huyệt đáy sâu.
Lời cảnh báo của thầy Bảy Núi rơi vào màn đêm u tối như một điềm báo tử tang thương cho số phận của cả ngôi làng chài ven biển. Tôi ngồi co ro bên cạnh thằng Biển, hai bàn tay nắm chặt lấy gấu áo rách rưới của nhau, mắt không dám rời khỏi bầy quỷ đỏ ngầu đang chực chờ nuốt chửng sự sống sót lại. Gió biển ngoài khơi xa vẫn tiếp tục gầm rú từng cơn điên loạn, mang theo mùi tử khí mặn chát của ngàn bộ xương trắng dưới đáy sâu đang trỗi dậy, báo hiệu một chuỗi ngày đen tối đầy máu và nước mắt sắp sửa ập xuống mảnh đất chôn nhau cắt rốn này. Chiếc cột gỗ lim vẫn âm ỉ cháy đỏ như một đốm lửa tàn tạ giữa đêm đen mịt mùng, soi rõ những bóng ma lặc lìa đang từ từ khép chặt vòng vây tử thần quanh ngôi làng chài biệt lập.