Cấm Luật

Chương 1: Áo cưới chôn theo xuống mồ

Cập nhật: 15/10/2026 11:45

Trước Sau
Chương 1: Áo cưới chôn theo xuống mồ

Tôi sinh ra và lớn lên tại một làng chài heo hút, nằm nép mình bên triền cát trắng phau của một hòn đảo hoang sơ ngoài khơi xa. Người già trong làng vẫn thường bảo nhau rằng, dải đất này nếu nhìn từ trên tầng không cao vút trông chẳng khác nào một cỗ áo quan khổng lồ đang bập bềnh trôi giữa ngút ngàn sóng gió đại dương; phần đầu quay thẳng về hướng đất liền, còn phần đuôi lại chìm sâu dưới những rạn đá ngầm đen thẳm quanh năm gầm thét dữ dội. Những mỏm đá ngầm nhô lên lởm chởm ngoài khơi xa tựa như những chiếc đinh tán bằng sắt gỉ đóng chặt nắp quan tài xuống lòng biển sâu, giam cầm biết bao bí mật kinh hoàng của tiền nhân dưới đáy nước lạnh ngắt. Cả đời người dân nơi đây gắn chặt miếng cơm manh áo với biển cả mênh mông, lớn lên cùng tiếng sóng rì rào vỗ vào bờ đá từ thuở còn nằm nôi, già đi theo những mùa gió chướng thổi rát buốt mặt người, và không ít người đã vĩnh viễn nằm lại nơi đáy nước lạnh lẽo mà chẳng thể tìm thấy nắm xương tàn. Mỗi bận dong thuyền gối sóng ra khơi xa hay trở về sau những chuyến đánh bắt dài ngày đầy hiểm nguy, các bậc bô lão cùng trai tráng trong làng đều phải dắt díu nhau đến ngôi đền thờ cá Ông nằm uy nghiêm trên mỏm đá Đầu Rồng cao nhất bến bãi. Họ thành kính dâng lên những mâm lễ vật tươm tất với cau tươi, rượu nếp trắng và hương trầm ngào ngạt, hương khói nghi ngút suốt ngày đêm, sụp lạy van vái đấng bảo hộ thần linh che chở cho sóng yên biển lặng, để những chiếc thuyền gỗ mong manh vượt qua ngàn cơn sóng dữ trở về với khoang đầy tôm cá nuôi sống mẹ già con thơ.

Trong ngôi đền thờ cổ kính rêu phong ấy, người ta trân trọng lưu giữ một bộ ngọc cốt cá Ông khổng lồ đã trải qua hàng trăm năm mưa nắng dãi dầu. Từng khúc xương trắng muốt, dài bằng cả thân cây gỗ lim già, được xếp đặt ngay ngắn trên bệ đá hoa cương, tỏa ra một mùi hương trầm mặc và uy nghiêm lạ lùng. Ngư dân trong vùng mỗi lần bước chân qua ngưỡng cửa đền đều phải cởi bỏ nón mê, cúi đầu cung kính, tuyệt đối không ai dám cất tiếng cười đùa hay nói những lời báng bổ xúc phạm. Người già vẫn thường kể lại cho con cháu nghe những câu chuyện huyền bí về những đêm bão tố mịt mùng trời đất, khi những con thuyền đánh cá bị sóng lớn đánh gãy cột buồm trôi dạt giữa lằn ranh sinh tử, bỗng nhiên có một tấm lưng đen trùi trũi khổng lồ của cá Ông từ dưới đáy biển trồi lên nâng đỡ mạn thuyền, dẫn lối đưa người sống vượt qua cửa tử trở về đoàn tụ với gia đình. Đối với người dân chài nơi đây, biển cả vừa là người mẹ bao dung ban phát nguồn tôm cá dồi dào, nhưng đồng thời cũng là một cõi thâm u khôn lường đầy rẫy những cấm kỵ tâm linh mà bất cứ ai dám phạm phải đều phải trả một cái giá vô cùng đắt.

Ở một nơi bốn bề ngút ngàn nước mặn như hòn đảo này, luật lệ của chốn trần gian có thể đôi lúc lơi lỏng, nhưng những điều cấm kỵ truyền đời của tiền nhân thì tuyệt đối không một ai dám đem ra đùa cợt hay xem nhẹ. Người dân chài luôn tâm niệm sâu sắc rằng cõi âm và cõi dương chỉ cách nhau một lằn ranh mỏng manh như làn sương sớm bốc lên từ mặt sóng biển lúc rạng đông. Bất kể là vào những ngày mưa bão mù trời hay những đêm thanh vắng trăng thanh gió mát, hễ ai đi biển mà tình cờ vớt được những xác chết trôi sông dạt biển tấp vào bờ cát, đều phải gác lại mọi công việc mưu sinh bận rộn để lo liệu chôn cất họ một cách chu đáo, tử tế nhất. Người ta dùng nước mưa tinh khiết gội rửa sạch sẽ bụi cát và mùi rong rêu bám trên thân xác người xấu số, bọc trong manh chiếu rách hoặc tấm vải xô trắng tinh, rồi chọn lấy gò đất cao ráo ngoài bìa rừng dương để đắp nấm mồ yên nghỉ. Thậm chí ngay cả những con chó, con mèo xấu số trôi dạt trên mặt nước cũng được người ta dùng vợt vớt lên cẩn thận, tìm một mô đất sạch sẽ để đắp thành nấm mộ nhỏ đàng hoàng. Dân làng tin tưởng tuyệt đối rằng, những sinh linh chết trôi nhận được ân đức nơi đây sẽ hóa thành thứ bùa hộ mạng trung thành bậc nhất; linh hồn của họ sẽ lảng vảng quanh bờ bãi, theo sát từng mạn thuyền gỗ để cảnh báo những luồng gió độc, xua đuổi loài thủy quái hung dữ và phù hộ cho người sống thoát khỏi miệng hùm nanh sói của biển cả bao la khôn lường.

Những nấm mộ chôn xác chó mèo chết trôi ngoài bìa rừng dương cứ thế mọc lên ngày càng nhiều theo năm tháng, xếp thành từng hàng dài ngay ngắn bên cạnh những gốc phi lao sừng sững chắn cát chắn gió. Người lớn trong làng tuyệt đối răn đe con nít không được bén mảng đến gần những ụ đất ấy để đùa nghịch quậy phá, cũng không một ai được phép dẫm đạp lên cỏ mồ hay buông những lời báng bổ xúc phạm vong linh. Các bậc cao niên từng trải thường dặn dò đám trai tráng rằng loài vật khi chết đuối thường mang một mối oán hận rất nặng nề với làn nước lạnh ngắt, nếu không được an táng chu toàn trên bờ đất khô ráo thì linh hồn chúng sẽ tụ lại thành bầy quỷ đói rình rập ngoài bờ sóng chờ cơ hội kéo chân người sống. Ngược lại, nếu được người trần đắp cho nấm mồ khô ráo, thắp nén nhang thơm vào những ngày rằm và mùng một đầu tháng, chúng sẽ trở thành tai mắt vô hình canh giữ bình yên cho xóm chài, sẵn sàng xả thân đánh đuổi những tà linh ma quái từ đáy biển đen ngòm trồi lên quấy phá dương gian.

Gia đình tôi từ đời ông nội đến đời cha tôi đều sống bằng nghề chài lưới và đan vá đăng đó, căn nhà gỗ vách nứa nằm chênh vênh trên triền cát cách mép sóng chừng vài trăm bước chân. Tôi tên là Mây, năm ấy vừa tròn mười lăm tuổi, từ nhỏ tính tình đã trầm tĩnh, ít nói cười hơn bạn bè đồng trang lứa, nhưng lại sở hữu một linh cảm đặc biệt nhạy bén với những điều kỳ lạ xung quanh. Mỗi khi trời sắp nổi cơn dông bão lớn hay ngoài khơi xa có chuyện chẳng lành, lòng dạ tôi lại cồn cào bồn chồn như có lửa đốt, tai vẳng nghe những thanh âm trầm đục từ biển sâu vọng về. Bà ngoại tôi vẫn thường xoa đầu tôi mà thở dài bảo rằng con bé này mang cốt cách và ánh mắt của người bà nội đã khuất bên dòng họ Lam, một gia tộc phong thủy lừng lẫy năm xưa từng dính dáng đến những thuật phong ma bí truyền nơi đất liền xa xôi. Nhưng những câu chuyện ấy đối với một đứa trẻ mười lăm tuổi như tôi lúc bấy giờ chỉ tựa như những câu chuyện cổ tích nửa hư nửa thực, chẳng thể ngờ rằng có ngày chính bản thân mình lại phải đối mặt với những cấm luật rùng rợn đến thấu xương tủy.

Mùa hè năm tôi vừa tròn mười lăm tuổi, cái nắng chói chang như thiêu như đốt trút xuống những rặng dừa nghiêng ngả, mang theo từng cơn gió lào hanh hao cùng hơi muối mặn chát táp vào từng mái nhà tranh xơ xác của xóm chài. Buổi chiều hôm ấy, trời bỗng dưng lặng gió một cách ngột ngạt bất thường, mặt biển phẳng lặng như một tấm gương đồng khổng lồ phản chiếu ánh hoàng hôn đỏ quạch như vệt máu gà loang lổ nơi chân trời xa tít tắp. Không gian oi nồng đến mức loài chim hải âu cũng chẳng buồn cất cánh chao liệng, chỉ biết đậu rũ cánh trên những mỏm đá nhấp nhô ven bờ. Trong khi tôi cùng đám trẻ con cùng xóm đang tụ tập chơi trò ném vỏ sò bên mép nước xâm xấp bọt bèo, một sự việc kỳ dị chưa từng có từ trước đến nay đã xảy ra, làm chấn động toàn bộ hòn đảo vốn dĩ yên bình.

Anh Dương, một thanh niên vạm vỡ ngoài hai mươi tuổi, nổi tiếng khắp vùng là tay bơi lặn cừ khôi ở cách nhà tôi chừng ba căn, trong lúc lặn bắt ốc tại rạn đá ngầm phía tây hòn đảo, bỗng phát hiện một vật thể đen sì trôi lững lờ sát chân sóng. Thoạt đầu, từ khoảng cách xa, anh cứ ngỡ đó là một tảng đá bám đầy rong rêu trôi nổi hay khúc gỗ mục bị sóng biển đánh dạt vào bờ cát sau những ngày giông bão. Thế nhưng khi bơi sải lại gần mỏm đá ngầm bám đầy hà sắc nhọn, anh giật mình thảng thốt nhận ra đó là một con chó còn thoi thóp thở, đang bập bềnh nửa chìm nửa nổi giữa những ngọn bọt nước sủi tăm tanh tưởi. Con vật dường như đã trôi dạt nhiều ngày trên biển cả bao la, nhưng kỳ lạ thay, nó không hề chìm xuống đáy nước mà cứ nổi bồng bềnh như có một lực vô hình nào đó nâng đỡ thân xác nó giữa làn sóng dữ.

Khi anh Dương dùng hai cánh tay cuồn cuộn gân guốc kéo con vật lên bờ cát thoai thoải, tất cả đám trẻ con chúng tôi đang nô đùa đều đồng loạt khựng lại, rồi thét lên những tiếng kinh hãi tột cùng trước khi lùi giật lùi về phía sau, nép chặt vào bóng những gốc dừa già cỗi. Đó là một sinh vật quái đản, dị hợm chưa từng xuất hiện trên cõi đời này, vượt xa mọi sự tưởng tượng thông thường của những người dân chài quanh năm bám biển. Toàn thân con vật đen trùi trũi, nhẵn thín bóng nhẫy và tuyệt nhiên không có lấy một cọng lông nào che phủ. Da thịt nó sần sùi từng cục u bướu gớm ghiếc, trơn tuột như lớp da của loài trăn biển khổng lồ vừa hoàn tất việc lột xác nơi hang tối. Nhìn kỹ vào thân hình trần trụi của nó, người ta không hề thấy những đường gân hay thớ thịt mềm mại bình thường của loài chó nhà, mà chỉ thấy một lớp da nhờn nhợt, nhớp nháp bọc chặt lấy một khung xương dị dạng, nhô lên từng đường gờ xương sống sắc lẹm như những lưỡi cưa sắt rỉ sét.

Từng giọt nước biển màu đen ngòm, sền sệt rỉ ra từ các lỗ chân lông li ti trên khắp thân mình con vật, rơi tí tách xuống nền cát trắng phau tạo thành những vệt bọt nước sủi tăm tanh tưởi đến lợm giọng. Bọt nước ấy vừa chạm vào mặt cát liền làm tan chảy những mảnh vụn san hô xung quanh, bốc lên một làn khói mỏng mang theo mùi hôi thối nồng nặc tựa mùi xác cá ươn thối rữa dưới đáy bùn lầy lâu năm. Kỳ dị và ghê rợn hơn cả chính là phần đầu của con vật trần trụi ấy; chiếc đầu méo mó lệch hẳn sang một bên, chiếc mõm dài ngoằng co giật liên hồi từng chập, để lộ ra hai hàm răng nhọn hoắt trắng ởn chìa ra ngoài mép thịt thâm sì bầm tím. Nước dãi màu vàng đục, nhờn nhợt nhỏ tong tỏng từ khóe mép nó xuống bãi cát, phát ra những tiếng xèo xèo ghê rợn như than hồng gặp nước.

Đặc biệt nhất là cặp mắt của sinh vật kỳ quái kia; nó không hề mang ánh nhìn ngờ nghệch hay hiền lành của loài súc sinh bốn chân, mà tròn vo, lồi hẳn ra ngoài hốc mắt sâu hoắm, đỏ ngầu rực lửa như hai hòn than đang cháy dở giữa lòng địa ngục tăm tối. Mặc dù vừa được kéo lên từ dưới đáy biển sâu thăm thẳm ngập tràn nước mặn, con vật quái dị kia chẳng hề sặc sặc hắt hơi hay run rẩy vì lạnh buốt; nó chỉ nằm im lìm trên bãi cát, đôi mắt đỏ ngầu không hề chớp lấy một lần, trừng trừng quét qua từng gương mặt của những người đang vây quanh. Mỗi nơi ánh nhìn đỏ lòm của nó lướt qua, không khí xung quanh dường như lập tức hạ xuống vài độ, tỏa ra một luồng hàn khí lạnh thấu xương tủy khiến cho bất cứ ai chạm phải ánh mắt ấy đều phải rùng mình nổi gai ốc khắp toàn thân, tim đập thình thịch trong nỗi sợ hãi mơ hồ.

Tiếng ồn ào hốt hoảng của đám trẻ con nhanh chóng kéo theo sự chú ý của những người lớn trong xóm chài đang chuẩn bị ngư cụ cho buổi tối. Mấy cụ già từng trải đi ngang qua thấy cảnh tượng kỳ quái ấy liền dừng bước lại xem, gương mặt ai nấy đều biến sắc trong chớp mắt, lộ rõ vẻ hoang mang tột độ. Ông cụ Bảy, người chuyên lo việc tế tự nhang đèn ngoài đền Ông suốt mấy chục năm qua, run rẩy chống cây gậy trúc chỉ thẳng vào con vật mà cất giọng run rẩy cảnh báo: "Dương ơi là Dương, con vật này tuyệt đối không phải súc sinh chốn dương gian đâu con à! Khí sắc trên mình nó tanh tao tà vạy, mắt đỏ như huyết đọng lại từ oán khí ngàn năm chốn đáy biển sâu. Đây là điềm quỷ biển tìm đường lên bờ, mau mang nó ra khơi xa mà thả lại chỗ cũ đi, chớ có dại dột rước của nợ này vào nhà mà mang họa sát thân diệt môn nghe con!".

Cùng lúc đó, ông Tư làm nghề thịt heo ở đầu xóm, một người đàn ông lực lưỡng quen tay mổ xẻ cầm dao bầu sắc lẹm, cũng tiến lại gần nhíu mày quan sát rất kỹ. Ông Tư chép miệng, giọng trầm đục đầy e ngại nói chen vào: "Thằng Dương nghe lời cụ Bảy đi con, tao mổ heo mổ chó mấy chục năm nay, chưa từng thấy con vật nào mà xương cốt lồi lõm, da thịt trơn tuột không lông lại bốc mùi tử khí nồng nặc như thế này. Cái mùi này là mùi xác chết người bị ngâm dưới đáy bùn lâu năm mới có, dính vào nó là rước vong hồn ma quỷ về ám quẻ cả xóm chài đó!". Mẹ anh Dương nghe tin dữ cũng tất tả chạy từ trong bếp ra bờ cát, nhìn thấy con chó quái đản thì mặt cắt không còn hạt máu, ôm chầm lấy tay con trai khóc lóc van xin anh mang trả lại biển cả kẻo rước tai ương vào cửa. Những người đàn ông khác đứng xung quanh cũng thi nhau bàn ra tán vào, khuyên anh Dương nên quẳng con vật kỳ dị ấy trở lại lòng biển cả hoặc châm lửa thiêu cháy xác nó ngay trên bãi cát để trừ tà tống quỷ.

Thế nhưng anh Dương vốn là người tính tình chất phác, thật thà và hay thương xót loài vật, lại thêm từ thuở bé đã thấm nhuần tập tục nhân đức truyền đời của làng chài là không bao giờ bỏ mặc những sinh linh chết trôi dạt vào bờ cát. Nhìn con vật đang thoi thóp thở từng hơi yếu ớt, anh Dương một mực không nỡ nhẫn tâm vứt bỏ nó trở lại làn sóng lạnh. Anh khẽ cúi người, cởi chiếc áo vải thô đã sờn rách trên vai mình bọc kín lấy thân hình nhẵn thín nhờn nhợt của nó, ôm chặt vào lồng ngực vạm vỡ rồi cất giọng phân bua với mọi người: "Các bác các chú để cháu mang nó về chuồng sau hè chăm sóc vài bữa xem sao. Dù gì nó cũng là một sinh mạng trôi dạt vào bờ đảo mình, tổ tiên dạy cứu một mạng vật cũng là tích thêm chút phúc đức cho con cháu mai sau, bỏ mặc nó chết khô trên cát thì tội nghiệp lắm!". Nói đoạn, anh Dương ôm bọc áo chứa con chó quái đản sải bước nhanh chân về phía ngôi nhà gỗ của mình ở cuối xóm.

Khi anh Dương mang con vật quái đản về đến sân sau nhà mình, mẹ anh là bà Tám đang cặm cụi phơi mẻ cá khô ngoài giàn, vừa ngẩng đầu nhìn thấy bọc vải đen sì liền rú lên một tiếng thất thanh, vứt cả chiếc rổ tre xuống nền cát. Bà Tám chắp hai tay run rẩy trước ngực, nước mắt giàn giụa van nài con trai mang vứt thứ tà khí ấy đi, nhưng anh Dương vẫn một mực tin vào lòng nhân ái của mình. Anh lấy mấy thanh ván gỗ tạp đóng vội thành một chiếc chuồng nhỏ sau chái bếp, đặt con vật nằm vào bên trong lớp rơm khô, rồi chạy vào nhà lấy một con cá nục tươi ném vào chuồng cho nó ăn lót dạ. Kỳ lạ thay, con vật trần trụi không hề ngó ngàng gì đến con cá tươi rói đang nằm ngay trước mõm; nó chỉ nằm cuộn tròn, ngước cặp mắt đỏ ngầu như máu trừng trừng nhìn thẳng vào mặt anh Dương, cổ họng phát ra những tiếng khè khè nghẹn ứ tựa như tiếng thở dốc của loài rắn độc chốn hang sâu tăm tối.

Đám người lớn đứng chứng kiến cảnh tượng ấy ngoài ngõ chỉ biết nhìn nhau thở dài sườn sượt, buông những lời bàn tán đầy lo ngại và âu lo. Gió biển chiều hôm ấy bỗng đổi chiều một cách bất thường, thổi thốc từ hướng tây nam mang theo hơi lạnh buốt giá và mùi tanh nồng khác thường bao trùm lên khắp xóm chài. Trong thâm tâm của mỗi người dân đảo, từ những cụ già tóc bạc phơ cho đến những đứa trẻ mười lăm tuổi như tôi, ai nấy đều lờ mờ cảm nhận được một luồng tà khí quái ác, lạnh lẽo vừa theo con sóng dữ tràn vào bờ cát bình yên, báo hiệu một cơn giông bão khủng khiếp sắp sửa giáng xuống mảnh đất hình cỗ quan tài này.

Đến khi bóng tối mịt mùng buông xuống nuốt chửng toàn bộ hòn đảo hoang sơ, cả làng chài dần chìm vào giấc ngủ sau một ngày lao động nhọc nhằn, nhà nhà đều cài chặt then cài cửa ngõ, tắt lịm những ánh đèn dầu leo lét để tiết kiệm dầu thắp. Đêm ấy, căn nhà gỗ xiêu vẹo của gia đình tôi trở nên trống trải và lạnh lẽo lạ thường khi chỉ có một mình tôi lẻ loi trùm chăn run rẩy. Ba má tôi vì có chuyến hàng cá khô gấp gáp đưa sang huyện đảo bên cạnh cho thương lái đóng đáy bè nên phải đi vắng hai ba ngày ròng rã. Trước khi bước chân xuống mạn thuyền gỗ rời bến vào buổi sáng sớm, má tôi đã cẩn thận ghé sang nhà người chị họ tên Lan ở đầu ngõ, gửi gắm ít tiền tiêu và dặn dò chị Lan tối nay nhất định phải sang nhà ngủ cùng để tôi đỡ sợ bóng sợ gió giữa đêm hôm thanh vắng.

Má tôi còn cẩn thận dặn thêm một điều mà đến giờ tôi vẫn nhớ như in: "Mây à, con ở nhà một mình phải nhớ thắp nén nhang thơm lên bàn thờ gia tiên nghe con. Ngày xưa bà nội Lam Ngọc của con có để lại một lá bùa phong thủy trấn trạch giấu kín dưới đáy chiếc lư hương đồng cổ, nếu nửa đêm có nghe tiếng động lạ hay điều gì bất an thì con cứ chạy lại bàn thờ ôm lấy chân nhang mà khấn vái tổ tiên phù hộ". Tôi ngoan ngoãn gật đầu ghi nhớ từng lời má dặn, nhưng trong lòng vẫn không khỏi cảm thấy trống vắng vô cùng. Chị Lan năm nay mười tám tuổi, tính tình vốn dĩ ham chơi, ưa làm đỏm và thích đàn đúm với đám thanh niên lêu lổng trong làng. Lúc má tôi dặn dò, chị ta vâng dạ ngọt xớt, hứa hẹn chắc như đinh đóng cột rằng trời vừa chập choạng tối sẽ có mặt ngay để thổi cơm ăn cùng tôi.

Nào ngờ đâu, khi ráng chiều đỏ quạch vừa tắt lịm trên mặt sóng, chị Lan đã lén lút thoa phấn nụ trắng bệch lên mặt, tô chút son đỏ chót lên môi, rồi lén lút trốn theo đám bạn trai tráng trong xóm đi xem hội hát đình ở làng bên cạnh. Chị ta chỉ kịp tạt qua cửa sổ nhà tôi ném vào một câu vội vã: "Mây ơi, tao đi xem hát chút xíu rồi về liền nghen, mày cứ cài then đi ngủ trước đi, đừng có khóa trái cửa bên trong đó!". Nói xong câu ấy, bóng dáng chị Lan thoăn thoắt biến mất sau rặng dừa dại, bỏ mặc tôi một mình trơ trọi giữa bốn bức tường ván mục ọp ẹp gió rít từng hồi qua khe liếp nứa. Tôi vừa giận vừa sợ, nhưng phận em nhỏ chẳng thể làm gì hơn ngoài việc lủi thủi xuống bếp nhen lửa nấu một nồi cháo cá cơm ăn qua bữa. Nhìn làn khói bếp mỏng manh bay lượn lờ qua những kẽ nứa xiêu vẹo rồi tan biến vào bóng đêm, lòng tôi dâng lên một nỗi bất an cồn cào khó tả.

Ăn xong bát cháo, tôi vội vàng đi một vòng quanh nhà kiểm tra lại các chốt cài cửa sổ và cửa chính. Căn nhà của gia đình tôi dựng bằng gỗ tạp và vách nứa đan nong mốt, qua bao mùa mưa nắng bão bùng đã bắt đầu mối mọt, nhiều chỗ hở ra những khe nứt dài bằng ngón tay trỏ. Mỗi khi có ngọn gió biển thổi mạnh, cả mái nhà lại rung lên bần bật, phát ra những tiếng cọt kẹt rợn người như tiếng xương khớp của một kẻ khổng lồ đang trở mình trong đêm tối. Nhớ lời má dặn, tôi cẩn thận thắp ba nén nhang trầm cắm vào chiếc lư hương đồng cổ trên bàn thờ gia tiên. Mùi nhang trầm thanh khiết tỏa ra ấm áp gian nhà trên, khiến lòng tôi phần nào vơi bớt nỗi sợ hãi. Thế nhưng vừa cắm nén nhang xuống chưa đầy một khắc, một cơn gió quái dị từ đâu luồn qua khe liếp thổi thốc vào, làm ba tàn nhang đỏ rực đứt lìa rơi lả tả xuống mặt bàn gỗ, rồi lịm tắt trong làn khói đen khét lẹt. Điềm gở ấy khiến tim tôi thắt lại, vội vàng châm sáng ngọn đèn dầu hột vịt đặt ngay ngắn trên chiếc bàn con cạnh đầu giường, rồi trèo lên chiếc giường tre cũ kỹ, kéo tấm chăn thô trùm kín mít từ đầu đến chân chỉ để hở ra hai con mắt cảnh giác nhìn quanh.

Đúng vào lúc nửa đêm canh ba, khi sương mù dày đặc từ ngoài biển khơi tràn vào giăng kín khắp các nẻo đường làng, không gian bỗng chốc trở nên tĩnh mịch đến mức nghẹt thở. Tiếng côn trùng rả rích thường ngày trong các bụi cỏ quanh nhà bỗng nhiên câm bặt hoàn toàn, không còn một tiếng dế mèn gáy đêm hay tiếng tắc kè điểm canh quen thuộc. Sự im lặng đè nặng lên vạn vật như một tấm màn tang tóc khổng lồ giăng mắc khắp chốn trần gian. Bất thình lình, từ phía ngôi nhà của anh Dương ở cuối xóm chài, một tràng tiếng chó tru bỗng chốc vang lên, xé toạc màn đêm đen kịt đang bao trùm khắp ngõ ngách.

Tiếng tru ban đầu nghe nghẹn ứ nơi cổ họng, trầm đục như tiếng thở dốc của một kẻ đang giãy giụa tuyệt vọng dưới đáy nước sâu thăm thẳm, rồi sau đó vút cao lên the thé, ai oán và não nề đến mức làm lạnh buốt từng đốt sống lưng người nghe. Đó hoàn toàn không phải tiếng sủa canh nhà hay tiếng tru mừng rỡ của loài chó nuôi bình thường, mà âm thanh ấy chứa chan sự thù hận ngút trời, ai oán và thê lương tột cùng, tựa như tiếng khóc than ai oán của một bầy vong hồn chết oan chốn âm ty địa ngục đang trỗi dậy đòi nợ máu nhân gian. Tiếng tru của con vật quái dị vừa dứt một nhịp ngắn ngủi thì lập tức, khắp bốn bề ngõ ngách trong làng chài, từ những bụi dứa dại mọc lan ra mé biển cho đến các gò đất chôn cất ngoài bìa rừng dương xa xăm, hàng chục tiếng chó khác đồng loạt cất lên đáp lời như một dàn hợp xướng ma quái.

Hàng chục, rồi hàng trăm tiếng tru rền rĩ, ai oán hòa vào nhau tạo thành một làn sóng âm thanh rùng rợn đến gai người, vang vọng đập vào các vách đá ngầm rồi dội ngược lại khắp các ngóc ngách của hòn đảo hoang vu. Tiếng tru lúc thì nghe văng vẳng xa xăm ngoài bờ sóng, lúc lại dồn dập như ở ngay sát vách nứa sau lưng tôi, khi lại trầm đục tựa hồ như từ dưới những tầng đất ẩm ướt sâu thẳm vọng lên. Cùng lúc đó, tai tôi nghe thấy những tiếng sột soạt ghê rợn ngay bên ngoài chân vách gỗ nhà mình; âm thanh của những móng vuốt sắc nhọn cào cấu từng vệt dài trên nền cát, xen lẫn tiếng thở phì phò nặng nề của loài dã thú đang lượn lờ rình mồi. Nằm co quắp trên chiếc giường tre cũ kỹ, tôi kéo tấm chăn thô trùm kín mít từ đầu đến chân, hai hàm răng va vào nhau lập cập không ngừng, tim đập thình thịch trong lồng ngực như muốn nhảy vọt ra ngoài. Càng lắng tai nghe, tôi lại càng cảm thấy tiếng tru quái đản kia đang dồn dập tiến lại gần khoảng sân trước cửa nhà mình, mang theo hơi thở tanh tưởi của biển mặn và mùi bùn rêu thối rữa.

Hình ảnh con chó đen trần trụi nhẵn thín với hai mắt đỏ ngầu cứ chập chờn hiện lên trong tâm trí tôi, khiến tôi tưởng tượng ra cảnh bầy chó quái dị đang cào cấu vào vách ván, chực chờ nhảy bổ lên giường xé xác tôi thành từng mảnh vụn. Tôi cuộn tròn người lại như con tôm khô, tay bấu chặt lấy mép nệm đến trắng bệch các đầu ngón tay. Trong căn phòng tăm tối, từng tiếng thở dốc của tôi nghe rõ mồn một, hòa lẫn với tiếng gió biển rít từng hồi qua các kẽ liếp nứa xiêu vẹo. Tôi thầm ước gì trời mau sáng, ước gì có tiếng bước chân của ba má hay tiếng cười nói của bà chị họ trở về, nhưng đáp lại nỗi tuyệt vọng của tôi chỉ là những hồi tru trét ma quái ngày một dữ dội hơn, dường như đang bao vây lấy toàn bộ xóm chài nhỏ bé này.

Giữa lúc bầy chó ma vẫn đang tru trét nhặng xị khắp đầu làng cuối xóm khiến bầu không khí căng thẳng như dây đàn sắp đứt, một âm thanh chát chúa bất ngờ vang lên từ phía căn nhà lá đối diện bên kia con đường cát. Tiếng cánh cửa gỗ bị đạp bung ra đánh rầm một cái khô khốc, kèm theo đó là tiếng bước chân huỳnh huỵch nện trên nền đất. Tiếp ngay sau là giọng chửi đổng the thé, chua ngoa quen thuộc của bà Hạnh vang lên chói tai. Bà Hạnh vốn là người đàn bà nổi tiếng đanh đá, cay nghiệt và hay khẩu nghiệp nhất cái làng chài này; ngày thường đi chợ bán cá chỉ cần ai lỡ miệng trả giá thấp một câu là bà ta có thể đứng chống nạnh chửi rủa ba đời tổ tông nhà người ta suốt từ sáng đến trưa không biết mệt mỏi. Chồng bà ta là ông Năm Thẹo, một người đàn ông hiền lành ít nói, suốt ngày chỉ biết cắm mặt vào thuyền lưới, cùng đứa con trai tên Cường mười tám tuổi tính tình ngỗ nghịch. Đêm nay, bị tiếng chó tru quấy rầy giấc ngủ, cơn thịnh nộ bốc lên ngùn ngụt khiến bà Hạnh không màng đến sự dị thường của đêm tối mà lao ra trước sân xả giận.

Bà ta đứng sừng sững giữa trời đêm, chống hai tay vào hông, ngửa mặt lên trời mà gào thét vào bóng tối đen kịt: "Chó má nhà ai mà cứ tru trét réo rắt suốt cả đêm thế hả, tính không để cho cả cái làng này chợp mắt một khắc nào hay sao! Lũ súc sinh ranh ma chết tiệt, có tin bà đây vác dao phay bằm nát từng khúc đem thui rơm, ném cục đá tảng vào nát bét cái mõm chó tụi bây ra không hả lũ súc sinh chết trôi chết dạt kia!". Giọng chửi bới the thé độc địa của bà Hạnh vừa dứt khỏi đầu môi thì một luồng gió lạnh buốt từ ngoài biển bất thình lình thốc mạnh vào xóm chài. Luồng gió mang theo mùi tanh nồng nặc của rong rêu và mùi xú uế của xác chết ngâm nước lâu ngày, quét qua hiên nhà bà ta làm ngọn đèn dầu treo trước cửa vụt tắt phụt trong chớp mắt.

Ngay khoảnh khắc ngọn đèn vụt tắt, một tiếng thét xé ruột xé gan của bà Hạnh bất ngờ xé toạc màn đêm u tối. Tiếng thét mang theo nỗi kinh hoàng tột độ của một kẻ vừa nhìn thấy thứ gì đó vượt ngoài sức tưởng tượng của nhân gian, nhưng tiếng thét chưa kịp kéo dài đã bị bóp nghẹt lại một cách đột ngột, như thể có một bàn tay nhớp nháp lạnh ngắt bóp chặt lấy thanh quản bà ta. Tiếp theo đó là những âm thanh ùng ục nghẹn ngào trong cổ họng, tiếng xương thịt va đập rầm rầm vào vách ván, cùng những tiếng kêu la thất thanh ngắt quãng của ông Năm Thẹo và thằng Cường trong nhà. Những tiếng gào rú tuyệt vọng, tiếng móng vuốt cào xé rách toạc da thịt vang lên chừng vài hơi thở rồi chìm nghỉm vào một khoảng im lặng chết chóc đến rợn người. Bên ngoài, tiếng chó tru bỗng chốc im bặt như có hiệu lệnh ngầm, chỉ còn lại tiếng gió biển gầm gào ngoài bờ sóng và tiếng cành cây phi lao quất vào mái nhà nghe sàn sạt.

Tôi nằm im bất động trong bóng tối đặc quánh, nín thở đến mức lồng ngực căng tức đau nhói, mồ hôi lạnh vã ra như tắm làm ướt đẫm cả manh áo vải mỏng dính vào da thịt. Nỗi kinh hãi tột cùng khiến tôi không dám cựa quậy dù chỉ một đầu ngón tay, hai mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng không vô định trước mặt. Tôi cảm giác thời gian lúc này trôi qua chậm chạp một cách tàn nhẫn, từng giây từng phút dài tựa như cả một kiếp người chìm trong bóng tối ngục tù. Bất chợt, một cơn mưa dông đầu mùa ào ạt trút xuống từ bầu trời đen kịt, sấm chớp rạch ngang nền trời rọi sáng bệ cửa sổ phòng tôi một cách ma quái. Những tia chớp chói lòa lóe lên liên hồi, in hình những nhánh cây dừa ngoằn ngoèo lên vách ván trông chẳng khác nào những cánh tay quỷ đang giơ ra cào cấu.

Lúc tối do quá hoảng loạn khi ở nhà một mình, tôi đã sơ ý quên cài then cánh cửa sổ bên hông giường; giờ đây gió mưa gầm rít thốc thẳng vào nhà, làm tấm rèm vải thô bay phần phật, đập mạnh vào mặt tôi đau điếng. Nước mưa lạnh ngắt tạt qua song cửa làm ướt sũng nửa tấm nệm dày trải chiếu cói, nhưng nỗi sợ hãi tột cùng khiến tôi không dám thò chân ra khỏi mép giường để khép then cài cửa. Trong đầu tôi cứ luôn ám ảnh bởi ý nghĩ rằng ngay dưới gầm giường tăm tối kia đang có một cánh tay trắng bệch lạnh ngắt thò lên lôi tuột tôi xuống đất, hoặc ngoài khung cửa sổ kia đang có một khuôn mặt người chết trôi trừng mắt nhìn vào. Nghĩ đi nghĩ lại thế nào, tôi đành cắn răng chịu ướt, xích sâu người vào góc tường gỗ mục, ngồi bó gối chịu trận suốt đêm dài dằng dặc, hai tay ôm chặt lấy đầu cho đến khi quá kiệt sức mà thiếp đi trong mê man lúc nào chẳng hay.

Mãi đến khi ánh sáng nhờ nhờ của buổi sớm mai bắt đầu len lỏi qua những kẽ hở của vách nứa, xua tan bớt màn sương lạnh giá của đêm trừ tịch, tôi mới dám hé mắt bước xuống giường. Cơn mưa dông đã tạnh hẳn từ lúc nào, chỉ còn lại những giọt nước đọng trên mái lá dừa rơi tí tách xuống nền đất ẩm ướt, và tiếng gió biển thổi xào xạc qua những ngọn phi lao bên rào giậu. Toàn thân tôi đau nhức ê ẩm, hai chân bủn rủn bước lại cài then cửa sổ, rồi tiến ra phía trước rút chốt mở cửa chính để hít thở chút không khí ban mai trong lành. Vừa đặt tay lên thanh then gỗ, những tiếng đập cửa dồn dập vang lên rầm rầm khiến tôi giật thót tim, suýt nữa ngã nhào xuống đất. Tiếng đập cửa gấp gáp đến mức làm rung rinh cả khung ván gỗ mục nát, kèm theo đó là một giọng nói quen thuộc cất lên bên ngoài: "Mây ơi, mở cửa mau lên, tao nè, thằng Biển nè!".

Nghe đúng giọng của thằng anh họ, tôi mới hoàn hồn, vội vàng rút then cài hé mở cánh cửa gỗ cũ kỹ. Thằng Biển, con của dì Hai tôi, năm nay cũng vừa tròn mười lăm tuổi, đứng sừng sững trước bậc cửa với vẻ mặt hoảng loạn chưa từng thấy. Mặt mày nó tái mét không còn một giọt máu, đôi môi thâm sì run rẩy, hai mắt mở to nhớn nhác nhìn quanh quất ra sau lưng như thể đang bị một bầy quỷ dữ đuổi bắt ráo riết. Vừa lách được thân hình gầy nhom vào trong nhà, thằng Biển liền dùng cả hai tay kéo sập cánh cửa lại, cài then cẩn thận rồi kéo tôi lùi sâu vào góc nhà, ghé sát vào tai tôi thì thào với giọng run rẩy: "Đêm qua mày có nghe tiếng chó tru cả đêm quanh xóm không hả Mây?".

Tôi gật đầu lia lịa, đáp lại bằng giọng thì thào không kém phần sợ hãi: "Có chứ, tao trùm chăn kín mít suốt từ nửa đêm, sợ đến mức không dám thở mạnh nữa là. Mà có chuyện gì thế mày, sao sáng sớm tinh mơ đã chạy sang đập cửa ầm ầm như ma đuổi vậy?". Thằng Biển nuốt nước bọt cái ực, bàn tay lạnh ngắt của nó nắm chặt lấy cổ tay tôi siết mạnh đến mức làm tôi đau điếng: "Chết rồi... Chết sạch hết rồi mày ơi! Nhà bà Hạnh đêm qua mở cửa ra chửi đổng lũ chó đó, sáng nay người ta phát hiện cả nhà bả chết ngắc hết rồi! Chết ghê rợn lắm, cả ba mạng người nằm la liệt giữa vũng máu, nghe mấy người lớn bảo thi thể bị cào xé tan nát, chỉ còn trơ trọi xương trắng với máu me be bét khắp nhà!".

Lời nói của thằng Biển như một tia sét đánh ngang tai, khiến cả người tôi rụng rời, lạnh toát từ đỉnh đầu xuống tận gót chân. Tôi bàng hoàng níu lấy vai nó, run rẩy hỏi dồn: "Ai phát hiện ra đầu tiên hả mày? Có thật là chết hết cả nhà không?". Thằng Biển gật đầu lia lịa, giọng run lẩy bẩy: "Thật một trăm phần trăm! Sáng sớm nay ông Tư thịt heo đi giao thịt qua ngõ, thấy cửa nhà mở toang hoác mà máu chảy tràn ra tận rãnh nước trước sân. Ông Tư bước vào xem thì hoảng quá vứt cả giỏ thịt chạy thục mạng đi báo trưởng thôn. Mấy ông bô lão chạy sang xem đều phải nôn thốc nôn tháo, bảo trên vách ván đầy những vết cào sâu hoắm của móng vuốt thú dữ, mà người thì bị xé toạc ra từng mảnh!".

Chưa kịp để tôi định thần, thằng anh họ tôi lại bồi thêm một tin tức còn quái đản và ghê rợn hơn gấp bội phần: "Chưa hết đâu mày ơi, má tao vừa đi chợ sớm về kể lại, sáng nay mấy ông đi biển ra bãi cát phát hiện toàn bộ các ụ đất chôn xác mấy con chó chết trôi ngoài bìa rừng dương đều bị ai đó đào bới tung tóe hết trơn rồi! Đất cát văng tung tóe khắp nơi, mà kỳ lạ nhất là không thấy một cái xác chó nào bên dưới huyệt mộ cả, tụi nó biến mất không để lại một dấu vết nào luôn! Má tao ngồi bệt xuống đất khóc ròng, bả bảo làng mình phen này phạm phải đại kỵ của biển cả rồi, sắp có tai ương diệt môn ập xuống đầu dân đảo!".

Cổ họng tôi nghẹn đắng, hai môi mấp máy lắp bắp hỏi: "Thế... Thế giờ dân làng tính làm sao hử mày?". Thằng Biển lắc đầu quầy quậy, giọng nói nghẹn ngào pha lẫn bất lực: "Tao thấy ngoài đình làng các bô lão đang hối hả mổ heo, mổ gà vịt để dâng lên cúng tế đền thờ cá Ông, cầu xin Ông hiển linh phong tỏa bờ cõi, che chở cho dân chài qua cơn kiếp nạn này đó. Cả làng đang náo loạn hết cả lên, không ai dám ra khơi đánh cá nữa đâu!". Đúng lúc ấy, từ phía ngõ nhà bà Hạnh bỗng cất lên những tiếng gào khóc thảm thiết của họ hàng thân thích và tiếng kêu la xao xác của chòm xóm xung quanh. Không kìm được nỗi tò mò xen lẫn kinh hãi, tôi cùng thằng Biển vội vã chạy thục mạng sang xem tình hình, nép mình bên khung cửa sổ xập xệ của căn nhà lá để nhìn vào bên trong.

Khung cảnh bên trong căn nhà lúc này thật hỗn loạn và tang thương đến cùng cực. Trên chiếc phản gỗ dầu bóng loáng đặt giữa gian nhà chính, một thi thể được quấn vải liệm trắng toát từ đầu đến chân nằm ngay đơ, lạnh lẽo. Mùi nhang trầm quyện với mùi tanh nồng của biển bốc lên ngột ngạt làm sống mũi tôi cay xè. Mấy người phụ nữ trong họ đang nhốn nháo lục tung rương hòm, đồ đạc văng tung tóe khắp nền đất nện, miệng không ngừng than khóc: "Trời đất ơi, chiếc áo cưới đâu mất rồi! Rõ ràng hôm nọ bả còn cất dưới đáy rương gỗ mà sao giờ tìm nát cả nhà không thấy đâu hết trơn!". Tiếng than vãn hòa cùng những lời thì thầm to nhỏ đầy hoang mang của dân làng đứng vây quanh cửa sổ khiến không khí càng thêm nặng nề, quỷ dị.

Ở làng chài này, có một tập tục truyền đời vô cùng khắt khe và mang tính cấm kỵ tuyệt đối dành cho phận đàn bà con gái. Phụ nữ sau khi xuất giá, chiếc áo cưới đã mặc trong ngày hôn lễ trọng đại bắt buộc phải được giặt sạch bằng nước mưa thanh khiết, xếp gọn gàng rồi cất kỹ dưới đáy rương gỗ gia truyền, giữ gìn cẩn thận cho đến tận hơi thở cuối cùng. Khi nhắm mắt xuôi tay rời bỏ cõi tạm, người phụ nữ bắt buộc phải được mặc chính chiếc áo cưới ấy xuống mồ để linh hồn được tổ tiên nhận mặt, được bảo vệ khỏi sự quấy nhiễu của loài tà ma dưới đáy biển sâu. Nếu một người đàn bà chết đi mà chiếc áo cưới bị đánh mất hay hư hỏng, người đó sẽ bị coi là kẻ tội đồ mang uế khí, thi thể tuyệt đối không được phép chôn cất trên mảnh đất của đảo mà phải bị lột trần truồng, đem ném xuống biển sâu cho sóng cuốn trôi vào miệng cá mập, linh hồn vĩnh viễn không bao giờ được siêu sinh tịnh độ.

Bà cụ Năm, mẹ chồng của bà Hạnh, năm nay đã ngoài bảy mươi tuổi, ngồi thụp bên bậc cửa gạt nước mắt giàn giụa mà kể lại trong tiếng nấc: "Cái áo cưới bằng lụa đỏ thêu hoa sen ngày nó về làm dâu nhà này hai mươi năm trước, nó quý như vàng như ngọc, khóa chặt dưới đáy rương hương, chìa khóa lúc nào cũng đeo lủng lẳng bên hông. Sao tự nhiên sáng nay mở rương ra chỉ thấy ổ khóa bị bẻ gãy vụn, áo cưới biến mất không tăm hơi mà tiền vàng bạc nén thì còn nguyên xi thế này cơ chứ!". Các bậc bô lão trong làng đứng ngoài sân bàn tán gay gắt, lắc đầu bảo nhau rằng nếu trước giờ khâm liệm buổi chiều mà không tìm ra chiếc áo cưới, thì dù thương xót đến mấy gia đình cũng bắt buộc phải tuân theo cấm luật nghiêm ngặt của làng: lột bỏ vải liệm, đưa xác trần truồng ra mỏm đá Đầu Rồng ném xuống vực biển sâu cho cá Ông định đoạt số phận, kẻo hồn ma không áo sẽ biến thành quỷ dữ quấy phá cả xóm chài.

Dân làng đứng chen chúc bên ngoài bắt đầu bàn tán xôn xao, từng lời thì thầm rỉ rả vang lên rợn người: "Xưa nay làng mình có bao giờ xảy ra chuyện mất áo cưới đâu trời... Sao tự nhiên lại trùng hợp đến rợn người thế này chứ... Ai mà thèm lấy trộm cái áo cũ rích của người chết để làm chi...". Đột nhiên, khi mọi người đang mải mê tranh cãi, một luồng gió chướng từ ngoài biển khơi bỗng thốc mạnh vào khe cửa chính. Cánh cửa gỗ bị gió đập mạnh vào tường phát ra tiếng ầm ầm chói tai, làm lung lay cả chiếc bản lề sắt hoen gỉ. Cơn gió mang theo hơi lạnh buốt giá quét qua gian nhà, thổi tung tấm vải liệm màu trắng đang phủ trên thân thể người đàn bà xấu số rơi xuống đất.

Khoảnh khắc tấm vải liệm bay đi, một cảnh tượng kinh hoàng đập thẳng vào mắt tôi khiến tim tôi như ngừng đập hoàn toàn. Thi thể bà Hạnh nằm dài trên tấm phản gỗ, bên dưới chỉ mặc một chiếc quần lụa đen rộng thùng thình, phần thân trên để lộ da thịt tái xanh nhờn nhợt và nhăn nheo như xác người chết ngâm nước lâu ngày. Đầu của bà ta hơi ngoẹo sang một bên theo một góc độ kỳ dị, xương cổ dường như đã bị bẻ gãy từ trước. Điều khủng khiếp nhất là đôi mắt của bà ta không hề nhắm lại; hai nhãn cầu lồi hẳn ra ngoài hốc mắt, trừng trừng thô lố như mắt của một con cá thòi lòi bị phơi nắng trên bãi bùn. Và từ góc độ nơi tôi và thằng Biển đang đứng lấp ló bên song cửa sổ, đôi mắt cá chết lạnh lẽo, vô hồn ấy dường như đang xoay chuyển một cách tinh vi, găm thẳng ánh nhìn chết chóc vào chính gương mặt tôi.

Một người đàn ông trong họ vội vã lao tới, nhặt tấm vải liệm lên rồi kéo căng phủ kín lại thân thể bà Hạnh, lấy bốn viên gạch thẻ nặng trịch chèn chặt vào bốn góc tấm phản để tránh gió biển thổi bay một lần nữa. Cảnh tượng kinh hoàng kia chỉ diễn ra trong vài cái chớp mắt nhưng đã găm sâu vào tâm trí tôi một nỗi ám ảnh tột cùng. Tôi quay sang thằng Biển, vừa thở dốc vừa lườm nó một cái: "Mày bảo thi thể bị cắn xé trơ trọi xương trắng cơ mà? Rõ ràng da thịt người ta vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có điều tái xanh tái mét thôi, mày toàn đồn thổi bậy bạ làm tao sợ chết khiếp!". Thằng Biển gãi đầu cười trừ, mặt vẫn chưa hết bàng hoàng: "Thì tao cũng chỉ nghe mấy người đi chợ kháo nhau vậy thôi chứ có được tận mắt thấy đâu... Nhưng mà công nhận đôi mắt bả nhìn ghê rợn thật đấy, cứ như bả còn sống mà đang rình rập ai vậy!".

Đúng lúc ấy, bà ngoại tôi từ ngoài ngõ bước vào, dáng người còng còng lách qua đám đông đang xì xào bàn tán. Nhìn thấy hai chị em tôi đang đứng lấp ló xem đám ma, gương mặt phúc hậu của Ngoại bỗng nghiêm lại; bà bước tới nắm lấy cổ tay hai đứa, kéo xềnh xệch về nhà. Vừa đi, Ngoại vừa cằn nhằn: "Hai đứa bay con nít con nôi, chỗ người ta chết chóc tà khí nặng nề mà cứ bu vào hóng hớt, không sợ ma quỷ nó bắt mất hồn vía hay sao!". Về đến căn nhà vắng của gia đình tôi, Ngoại dọn ra mâm cơm đạm bạc với bát canh rau tập tàng và đĩa cá cơm kho tiêu. Ngồi bên mâm cơm, nỗi ám ảnh về đôi mắt cá lồi của bà Hạnh vẫn không ngừng quay cuồng trong tâm trí tôi, khiến miếng cơm nghẹn ứ nơi cổ họng.

Không kìm được nỗi băn khoăn, tôi ngẩng đầu nhìn Ngoại, lí nhí hỏi: "Ngoại ơi, lúc nãy gió thổi bay tấm vải liệm, con nhìn thấy đôi mắt bà Hạnh cứ trừng trừng nhìn thẳng vào mặt con ghê rợn lắm... Con cảm giác như bả vẫn đang nhìn con xuyên qua lớp vải trắng đó vậy Ngoại à". Ngoại tôi vẫn chậm rãi gắp cá vào bát cho tôi, gương mặt vô cùng bình thản như mặt nước hồ phẳng lặng, khẽ thở dài bảo: "Con nít hay tưởng tượng linh tinh, chắc tại gió biển thổi bụi bay vào mắt làm mày bị hoa mắt đó thôi, đừng nghĩ ngợi bậy bạ nữa". Tôi dùng đầu đũa di qua di lại trong chén cơm còn dang dở, chần chừ một lát rồi lại nhỏ giọng gặng hỏi tiếp: "Thế bây giờ nhà người ta không tìm thấy chiếc áo cưới gia truyền thì thi thể bà Hạnh bắt buộc phải bị đem ném xuống biển thật hả Ngoại? Con thấy tội nghiệp cho bả quá, chẳng lẽ không còn cách nào khác để chôn cất tử tế hay sao...".

Ngoại tôi đặt đôi đũa xuống mép mâm, ánh mắt nhìn xa xăm ra phía rặng phi lao ngoài bờ cát, nơi tiếng sóng biển đang gầm gào từng đợt: "Đó là cấm luật truyền đời của tổ tiên làng chài này rồi con à. Hòn đảo mang hình cỗ quan tài này từ hơn hai trăm năm trước khi tiền nhân đến khai hoang lập ấp, đáy biển sâu đã tích tụ ngàn vạn oán khí của những người chết chìm qua các thời kỳ giông bão. Tiền nhân lập ra luật tục áo cưới để dùng dương khí thanh khiết của hôn lễ trần gian mà khóa chặt tà ma dưới đáy mộ. Kẻ nào làm mất đi tấm áo che chở linh hồn thì không xứng đáng được nằm lại trong lòng đất mẹ của đảo, vì chôn xuống sẽ làm ô uế mạch đất, khiến cấm trận bị phá vỡ".

Nghe Ngoại giải thích cặn kẽ, một câu hỏi kỳ lạ bỗng nảy ra trong đầu tôi, tôi ngước nhìn Ngoại với đôi mắt đầy âu lo: "Nếu như người ta đem ném xác bà Hạnh xuống biển sâu, thì cá Ông ở ngoài khơi có giam giữ linh hồn của bả lại dưới đáy vực tối tăm không hả Ngoại? Để linh hồn bả không thể trôi dạt về đất liền mà quấy nhiễu, làm hại đến dân làng mình nữa...". Ngoại tôi khẽ giật mình trước câu hỏi của tôi, bà nhìn tôi một thoáng rồi gõ nhẹ đầu đũa vào mu bàn tay tôi, nghiêm giọng quở trách: "Lo ăn cho hết chén cơm đi, chuyện sống chết của cõi âm là việc của người lớn và các đấng bề trên, trẻ con không được tò mò thắc mắc nhiều điều gở miệng! Chiều nay ăn xong thì ở yên trong nhà, khóa chặt cửa nẻo, chớ có đi lung tung nghe chưa!".

Ăn xong bữa cơm trưa, Ngoại dặn dò tôi thêm vài câu rồi phải quay về bên nhà lo việc cúng quảy cùng các bà cụ trong xóm. Căn nhà gỗ lại một lần nữa rơi vào cảnh vắng lặng, cô tịch chỉ còn lại một mình tôi thui thủi giữa bốn bề gió lộng. Cảm giác bất an từ đêm qua xen lẫn hình ảnh đôi mắt lồi trắng dã của người chết khiến tôi không thể nào ngồi yên một chỗ. Tôi đi đi lại lại trong gian nhà trên, lòng dạ bồn chồn như có lửa đốt. Nhớ lời người già dạy cách trừ tà sơ sài của dân gian, tôi xuống bếp lấy một bát muối hột to, cẩn thận rắc thành một vệt dài men theo các ngạch cửa ra vào và bệ cửa sổ, rồi lấy những thanh then gỗ lim dày cài thật chặt chốt cửa chính. Tôi thậm chí còn kéo thêm một chiếc ghế đẩu bằng gỗ mít nặng trịch chèn ngang cánh cửa phòng ngủ để tự tạo cho mình một cảm giác an toàn mong manh.

Buổi chiều hôm ấy, không khí trong làng chài ngột ngạt và u ám đến nghẹt thở. Mặt trời dần khuất sau những rặng mây xám xịt nơi đường chân trời, rọi xuống mặt biển những vệt ráng chiều đỏ bầm như máu loãng. Khác hẳn với những buổi chiều nhộn nhịp thường nhật khi thuyền bè tấp nập cập bến, hôm nay cả bến bãi vắng ngắt không một bóng người qua lại. Tiếng chuông đồng từ ngôi đền thờ cá Ông thỉnh thoảng lại ngân lên từng hồi trầm đục, hòa cùng tiếng tụng kinh cầu an của các bô lão và mùi khói trầm hương ngùn ngụt bay theo làn gió chướng tanh nồng. Người dân trong xóm chài dường như ai nấy đều linh cảm được tai ương sắp giáng xuống, nên nhà nào nhà nấy đều vội vã đóng chặt then cài từ khi trời mới chập choạng tối, không một ánh đèn le lói nào hắt ra ngoài đường cát. Cả ngôi làng im lìm như một bãi tha ma khổng lồ đang nín thở chờ đợi một cơn bão dữ quét qua.

Khi màn đêm đen kịt hoàn toàn nuốt trọn không gian, tôi vội vã làm vệ sinh cá nhân qua loa rồi chui tọt vào phòng ngủ. Để xua tan nỗi sợ hãi đang bóp nghẹt lồng ngực, tôi quyết định để nguyên ngọn đèn dầu sáng trưng trên chiếc bàn con cạnh đầu giường, đồng thời cẩn thận cầm theo một cây đèn pin vỏ sắt cũ kỹ đặt ngay dưới gối nằm. Tôi tự nhủ thà tốn dầu đèn chứ tuyệt đối không thể để căn phòng rơi vào bóng tối mịt mùng; lỡ chẳng may ngọn đèn dầu bị gió thổi tắt hay cúp điện bất thình lình, không có ánh sáng chiếu rọi thì có lẽ trái tim non nớt của tôi sẽ ngừng đập vì hoảng loạn mất. Nằm dài trên chiếc nệm tre quen thuộc, tôi kéo chăn trùm kín nửa người, hai mắt thao láo nhìn lên trần nhà bằng cói mục. Tiếng sóng biển ngoài xa vỗ vào vách đá ầm ầm như tiếng gầm của một con thủy quái khổng lồ đang đói mồi. Tôi cố gắng nhắm nghiền mắt lại, thầm đọc tên cha mẹ và niệm Phật trong tâm trí, rồi vì quá mệt mỏi sau một ngày căng thẳng tột độ, tôi dần thiếp đi vào một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị.

Trong giấc mơ chập chờn ấy, tôi thấy mình đang đứng trơ trọi giữa một bãi biển đen ngòm không có bờ bến. Xung quanh tôi, hàng ngàn bộ xương trắng trôi nổi bập bềnh trên ngọn sóng dữ, và từ dưới đáy biển sâu thăm thẳm, một cỗ quan tài bằng đá khổng lồ mang hình dáng kỳ dị đang từ từ trồi lên khỏi mặt nước. Trên nắp cỗ quan tài đá, một người phụ nữ mặc chiếc áo cưới đỏ rực như máu đang đứng quay lưng lại phía tôi, mái tóc đen dài rủ rượi chấm gót chân đẫm ướt nước mặn. Khi tôi cất tiếng gọi run rẩy yếu ớt, người phụ nữ ấy từ từ quay đầu lại, và khuôn mặt của bà ta chính là gương mặt tái nhợt của bà Hạnh với đôi mắt cá lồi trắng dã không có tròng đen, đang há chiếc miệng thâm sì rỉ máu đen ra mà cười khằng khặc từng tiếng ghê rợn vang vọng khắp tầng không.

Tôi giật mình thét lên một tiếng nhưng âm thanh nghẹn ứ nơi cổ họng, mở bừng hai mắt tỉnh giấc giữa cơn ác mộng kinh hoàng. Định thần lại, tôi nhận ra mình vẫn đang nằm trong căn phòng ngủ quen thuộc, nhưng một chuỗi âm thanh ghê rợn bên ngoài lập tức kéo tôi trở về với thực tại nghiệt ngã. Tiếng chó tru lại một lần nữa rộ lên khắp làng, nhưng lần này âm thanh dữ dội, ai oán và thảm thiết hơn đêm hôm trước gấp mười lần. Hàng chục, hàng trăm tiếng tru rền rĩ như vang lên từ dưới lòng đất sâu, hòa quyện với tiếng gió rít gào tạo nên một cơn ác mộng kinh hoàng đánh thức toàn bộ giác quan của tôi. Tôi hoảng hốt nhìn sang bên cạnh, giật mình nhận ra ngọn đèn dầu trên bàn con không biết đã bị gió thổi tắt lịm từ lúc nào, chỉ còn lại một sợi khói đen mỏng bốc lên khét lẹt. Toàn bộ căn phòng chìm trong một màu đen đặc quánh như mực tàu, không một tia sáng nào từ bên ngoài có thể lọt qua những khe liếp đã được bịt kín.

Nỗi sợ hãi tột cùng khiến tôi lập tức co rúm người lại, kéo hai đầu gối sát vào ngực, lưng tựa chặt vào thành giường gỗ mục nát sau lưng. Nhưng vừa tựa lưng vào đầu giường, một cảm giác kỳ lạ và ghê tởm bỗng truyền qua lớp áo vải mỏng manh của tôi. Một thứ gì đó ươn ướt, nhớp nháp và lạnh buốt như băng tan đang từ từ ngấm qua lưng áo, dính chặt vào da thịt tôi một cách ghê rợn. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ mái nhà bị dột nước sau trận mưa dông ban sáng, nhưng khi tôi ngửa cổ nhìn lên trần cói phía trên đầu, bóng tối mịt mùng chẳng cho thấy một khe hở nào, và trần nhà hoàn toàn khô ráo không hề có tiếng nước nhỏ giọt. Quái lạ hơn cả là lúc này ngoài trời tĩnh lặng lạ thường, không hề có một hạt mưa nào rơi xuống.

Trong không gian chật hẹp của phòng ngủ, một mùi hương kỳ dị bắt đầu bốc lên ngùn ngụt, lấn át hoàn toàn mùi khói dầu đèn vừa tắt. Đó là mùi tanh nồng nặc, mặn chát của bùn rêu đáy biển, hòa lẫn với mùi tanh tưởi của cá chết phơi nắng lâu ngày và một thứ mùi xú uế thối rữa của da thịt người đang phân hủy. Mùi xú uế đậm đặc đến mức xộc thẳng vào cuống họng làm tôi buồn nôn dữ dội, lồng ngực thắt lại không sao thở nổi. Linh cảm mách bảo cho tôi biết có một điều gì đó vô cùng khủng khiếp đang hiện diện ngay bên cạnh mình. Trong cơn hoảng loạn tột độ, tay phải tôi run rẩy thò xuống dưới gối nằm, lần tìm công tắc của cây đèn pin sắt cũ kỹ. Ngón tay tôi run bần bật bấm mạnh vào nút gạt kim loại, một luồng ánh sáng vàng vọt, yếu ớt lóe lên rọi thủng màn đêm đặc quánh.

Tôi run rẩy xoay nhẹ người sang mép giường bên phải, chầm chậm đưa vệt sáng của cây đèn pin quét qua mặt nệm. Dưới ánh sáng vàng vọt, những vệt nước biển đen ngòm in hình bàn chân trần nhớp nháp bùn đất kéo dài từ ngưỡng cửa phòng ngủ lên tận thành giường. Khoảnh khắc ánh đèn pin chạm đến góc giường, toàn bộ máu trong cơ thể tôi như đông cứng lại thành băng, cổ họng tôi nghẹn ứ không thể thốt ra nổi một tiếng kêu cứu. Nằm ngay sát cạnh tôi, trên cùng một tấm nệm trải chiếu cói, là một thân hình người phụ nữ nằm ngay đơ, cứng ngắc trong tư thế giống hệt như thi thể tôi đã chứng kiến hồi sáng trên tấm phản gỗ nhà hàng xóm. Đó chính là bà Hạnh! Toàn thân bà ta ướt sũng nước biển mặn chát, rong rêu đen ngòm quấn chằng chịt quanh những ngón tay khẳng khiu như cành củi khô, chiếc quần lụa đen rách bươm bám đầy bùn đất đáy biển, da thịt trên cơ thể đã bắt đầu trương phềnh, rữa nát và bốc lên từng đợt hơi lạnh thấu xương.

Chưa kịp để tôi định thần hay kịp lùi người trốn chạy, một sự việc rùng rợn đến tột đỉnh của cơn ác mộng đã xảy ra ngay trước mắt tôi. Cái xác chết thối rữa và lạnh ngắt của bà Hạnh bỗng nhiên giật giật từng cơn, phát ra những tiếng xương khớp gãy rắc rắc khô khốc rợn người, rồi từ từ ngồi bật dậy ngay sát cạnh tôi. Chiếc đầu méo mó của bà ta ngoẹo hẳn sang một bên theo một góc nghiêng quái đản, mái tóc ướt sũng bết chặt vào trán, khuôn mặt tái xanh nhờn nhợt sáp lại gần đến mức gần như chạm nhẹ vào gò má đang run lẩy bẩy của tôi. Trong khoảng cách chỉ vài phân gang tấc giữa hai khuôn mặt, tôi có thể cảm nhận rõ ràng từng luồng khí lạnh ngắt và mùi hôi thối nồng nặc phả ra từ cái miệng thâm sì đang hé mở của người chết. Nước bùn đen ngòm từ khóe mép bà ta rỉ ra từng giọt, và cái miệng méo mó ấy bỗng mấp máy phát ra những âm thanh rên rỉ u uất nghẹn ngào: "Áo... Chiếc áo cưới của tao đâu... Mau trả áo cưới cho tao...". Và đôi mắt cá lồi trắng dã, thô lố không có con ngươi của cái xác thối rữa kia đang mở to trừng trừng, găm chặt ánh nhìn chết chóc không đáy vào thẳng con ngươi của tôi giữa bóng đêm mịt mùng không lối thoát.

Cơn ác mộng kinh hoàng của hòn đảo biệt lập chỉ vừa mới bắt đầu; bóng tối u uất của biển cả và những lời nguyền cấm kỵ nghìn năm dưới đáy mộ sâu dường như đã thức giấc, cuốn lấy số phận mong manh của một cô bé mười lăm tuổi vào vòng xoáy nghiệt ngã của quỷ môn quan. Mọi sự sống xung quanh dường như ngưng đọng trong giây phút nghẹt thở ấy, để lại một nỗi tuyệt vọng tột cùng không tiếng đáp từ giữa chốn trần gian đầy rẫy những oan hồn đòi mạng.

Gió ngoài biển lại rít lên từng hồi cuồng loạn, đập mạnh vào vách ván như muốn giật sập cả căn nhà gỗ nhỏ nhoi giữa trùng khơi, nhưng không một ai có thể nghe thấy tiếng kêu gào câm lặng đang giằng xé linh hồn tôi trong đêm đen trừ tịch. Dưới đáy sâu của biển cả, cỗ quan tài vô hình dường như đang từ từ hé mở nắp, chờ đợi kẻ xấu số tiếp theo bước vào lãnh địa vĩnh hằng của những bộ xương khô trắng xóa. Chiếc áo cưới chôn theo xuống mồ đã biến mất, và cái giá phải trả cho sự thất lạc của tín vật hộ mệnh thiêng liêng ấy chính là một chuỗi thảm kịch đẫm máu mà không một sinh linh nào trên hòn đảo quan tài này có thể chạy trốn. Giờ đây, chỉ còn lại tôi đơn độc đối mặt với sự trỗi dậy ghê rợn của một xác chết không áo cưới, trong hơi thở tanh nồng ngập tràn bóng ma của đại dương u tối.
Trước Sau

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Nụ Hôn Của Phù Châu Tiên Hiệp HOT 7

Nụ Hôn Của Phù Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Lần Thứ Hai Tra Nam Sống Lại Ngôn Tình HOT 9

Lần Thứ Hai Tra Nam Sống Lại

Vô Thượng Cửu Thiên 3 ch.
Vĩnh Hằng Quốc Độ Tiên Hiệp 3

Vĩnh Hằng Quốc Độ

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Lệnh Truy Nã Vong Hồn Đô Thị 4

Lệnh Truy Nã Vong Hồn

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Hà Thần Huyền Huyễn 2

Hà Thần

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta Tiên Hiệp 6

Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.