Hà Thần

Chương 1: Đội vớt xác năm sông

Cập nhật: 15/10/2026 11:44

Trước Sau
Chương 1: Đội vớt xác năm sông

Thành Thiên Tân, chín khúc sông, đôi cầu nổi, ba đường lớn; ngoài cửa Nam gọi Hải Quang Tự, phía cửa Bắc kêu Bắc Đại quan; cửa nam có quân đồn trú, lầu gác, pháo đài ở trung tâm; ba lỗ châu mai, bốn khẩu pháo, tàu điện biển vàng ra quan hải. Bài vè dân gian mộc mạc ấy từ bao đời nay đã khái quát trọn vẹn phong cảnh trù phú và địa thế sông nước đặc thù của thành Thiên Tân thuở trước. Vào những năm tháng Dân quốc tao loạn đầy biến động, người đời thường truyền tụng câu nói rằng phía Nam có bến Thượng Hải hoa lệ ngút ngàn, còn phía Bắc có thành Thiên Tân sầm uất uy nghi, chính là hai chốn đô hội phồn hoa đô hội bậc nhất thiên hạ. Những câu chuyện truyền kỳ về nhân vật được mệnh danh là Hà Thần phần lớn đều bắt nguồn và diễn ra trên mảnh đất bến bờ sông nước kỳ dị này. Trước khi bước vào câu chuyện, người kể chuyện xin được giãi bày đôi lời tâm huyết cùng quý vị thính giả gần xa, chuyện xưa tích cũ đã trải qua lớp bụi thời gian mờ mịt, những điều được nghe lại từ lớp người già cũng chỉ là lời thuật lại bên ấm trà chén rượu, người nghe tin thì xem như một phen thấu suốt thế sự nhân tình, mà không tin cũng chẳng sao, cứ xem như một khúc bình thư giải khuây sau những giờ lao động nhọc nhằn, tuyệt đối không cần câu nệ truy cứu ngọn nguồn làm chi cho thêm phiền lòng.

Những bậc cao niên sinh sống lâu năm mỗi khi hoài niệm về mảnh đất chôn nhau cắt rốn này thì thường quen miệng dùng ba chữ Thiên Tân Vệ để gọi tên. Vậy thì chữ Vệ trong danh xưng Thiên Tân Vệ rốt cuộc mang hàm nghĩa sâu xa thế nào? Nhớ năm xưa vào thời nhà Minh, khi Yến vương Chu Lệ cất quân thảo phạt phương Bắc rồi bước lên ngai vàng đế nghiệp lấy niên hiệu là Minh Thành Tổ, bên cạnh ngài luôn có lực lượng thân binh dũng mãnh thiện chiến gọi là Thiên Tân thiết vệ. Đơn vị này cũng tương tự như Cẩm Y Vệ lừng danh thời bấy giờ, đều là những đội quân tinh nhuệ đồn trú tại các vị trí xung yếu để bảo vệ ranh giới kinh đô. Hoàng đế Đại Minh khi ấy đã dẫn theo con em ruột thịt từ quê nhà An Huy đến đóng giữ mảnh đất hiểm trở này nhằm gác cổng mặt biển che chắn cho kinh thành, bởi thế nên nơi đây mới được ban cho cái tên Thiên Tân Vệ. Đến những năm tháng cuối cùng của triều đại Mãn Thanh mục nát, Thiên Tân đã biến thành vùng đất tô giới nhượng địa cho chín nước phương Tây chia nhau chiếm đóng, tạo nên cảnh tượng phố xá phồn vinh tấp nập chưa từng có trong lịch sử. Nơi đây tụ hội đủ mọi hạng người từ khắp bốn phương trời đổ về, quân tử có mà lưu manh cũng vô số, rồng rắn lẫn lộn, vàng thau khó phân, kéo theo vô vàn những sự việc kỳ quái ly kỳ liên tiếp xảy ra chốn phố phường sông nước.

Nếu xét về mặt phong thủy và địa lý tự nhiên, thành Thiên Tân có thế đất vô cùng độc đáo khi phía bắc tựa vào dãy núi Yên Sơn hùng vĩ, phía đông giáp biển Bột Hải mênh mông sóng cuộn, phía trên có hồ Bạch Dương tiếp dẫn nguồn nước dồi dào, còn phía dưới là vịnh Bột Hải đón nhận dòng chảy. Nơi đây chính là điểm quy tụ giao thoa của muôn khúc sông ngòi chằng chịt, nhưng trên thực tế chủ yếu chịu sự chi phối của năm nhánh sông lớn cuồn cuộn chảy qua địa bàn, dân gian vẫn thường gọi chung là năm sông. Năm con sông ấy lần lượt mang tên sông Bắc Tam, sông Vĩnh Định, sông Đại Thanh, sông Tử Nha và sông đào Chương Vệ Nam, tỏa rộng khắp bình nguyên Hoa Bắc tựa như nan của một chiếc quạt khổng lồ, rồi cùng tụ hội về dòng Hải Hà trũng hẹp trước khi đổ ra biển lớn. Địa thế vùng đất này là tây bắc cao ráo còn đông nam lại trũng thấp, nước từ các rặng núi cao nguyên mang theo lượng phù sa cát bùn khổng lồ đổ dồn về lòng sông Hải Hà, khiến đáy sông bồi đắp nâng cao qua từng năm tháng. Mỗi khi mùa mưa bão mùa hạ tràn về, nước lũ thượng nguồn đổ xuống cuồn cuộn như thác đổ, khiến dòng sông dâng cao đột ngột, dòng chảy trở nên hung hãn khó lường. Chính vì đặc điểm sông sâu nước độc và địa hình hiểm trở ấy mà hàng năm trên khắp các khúc sông của Thiên Tân luôn có không biết bao nhiêu người sẩy chân rơi xuống nước chết đuối thương tâm.

Nhắc đến dòng sông Hải Hà chảy qua lòng thành phố Thiên Tân, người ta không thể không nhắc đến hệ thống cống rãnh, mương máng và lạch ngòi chằng chịt tỏa ra khắp nơi như mạng nhện khổng lồ. Thuở trước, khi hệ thống đê điều kiên cố của thời đại mới chưa được kiến thiết, lòng sông Hải Hà thường xuyên biến đổi dòng chảy sau mỗi trận đại hồng thủy kinh thiên động địa. Nước lũ từ thượng du đổ về cuốn theo bùn đất phù sa màu mỡ nhưng cũng đồng thời mang theo vô số thân cây cổ thụ gãy đổ, xác súc vật chết trôi và rác rưởi ngập ngụa, khiến cho lòng sông xuất hiện vô số cồn cát ngầm và những xoáy nước tử thần vô cùng nguy hiểm. Người dân chài lưới quanh năm sinh sống trên mặt nước có câu khẩu quyết truyền đời rằng trên sông sợ nhất sóng lừng, dưới sông sợ nhất nước xoáy ngầm; thuyền bè qua lại chỉ cần sơ ý trượt bánh lái lọt vào họng xoáy là lập tức bị lực hút ngàn cân kéo tuột xuống đáy bùn sâu, người và thuyền đều tan biến không còn dấu tích. Chính vì lẽ đó, những người phu tuần sông trong đội ngũ mò xác không chỉ cần có sức vóc cường tráng để chèo thuyền vượt sóng dữ, mà còn phải ghi nhớ nằm lòng từng con nước triều lên triều xuống, từng vị trí của các mỏm đá ngầm và hố xoáy sâu để tự bảo vệ tính mạng mình trong từng chuyến đi vớt xác đầy hiểm nguy.

Trong nếp sinh hoạt thường nhật của thị dân Thiên Tân Vệ thời bấy giờ, dòng sông Hải Hà vừa là nguồn sống nuôi dưỡng bao thế hệ, vừa là tấm gương phản chiếu bức tranh muôn màu của xã hội cũ đầy rẫy bất công và cơ cực. Buổi sáng sớm khi sương mù còn lãng đãng bao phủ mặt nước mông mênh, trên các bến sông đã vang rộn tiếng hò reo của hàng ngàn phu phen bốc vác, tiếng kẽo kẹt của những mái chèo nan đưa khách sang sông và tiếng rao hàng lảnh lót của những gánh hàng rong bán điểm tâm điểm tâm sáng. Người lao động nghèo khó sau những giờ vật lộn nhọc nhằn với sóng gió thường tụ tập bên những gánh hàng nhỏ ven đường làm một bát súp đầu dê nóng hổi nhiều ớt cay nồng hoặc vài chiếc bánh bao bột ngô độn rau cải để lót dạ qua ngày. Hơi nóng thơm lừng từ chén súp dê hòa cùng hơi ẩm của sông nước xua tan đi cái lạnh lẽo của sương sớm, tiếp thêm sinh lực cho những người phu nghèo tiếp tục bươn chải giữa dòng đời xô bồ. Quách Đắc Hữu và người sư đệ Đinh Mão cũng chẳng phải ngoại lệ, sau mỗi chuyến lặn nước vớt xác mệt nhoài kiệt sức, hai anh em lại rủ nhau ghé vào một quán cóc quen thuộc bên mép sông, nhâm nhi đôi ba chén rượu cay xè để trừ khử hàn khí bám vào xương tủy.

Người chết đuối trên sông Hải Hà nhiều vô số kể, muôn hình vạn trạng chẳng ai giống ai. Có những người vì sơ ý bất cẩn khi bơi lội tắm mát vào những ngày hè oi ả mà bị rong rêu quấn chặt chân hoặc thụt vào hố bùn sâu không ngoi lên được. Lại có những người nghèo khổ bế tắc trong cảnh bần hàn đói rách, nợ nần chồng chất hay gặp cảnh ngộ oan ức không lối thoát đành gieo mình xuống dòng nước lạnh trôi xuôi để kết thúc một kiếp đoạn trường. Đau xót và ghê rợn hơn cả là những xác chết không rõ tung tích lai lịch từ thượng nguồn xa xôi trôi dạt về, dân gian thường gọi bằng cái tên rợn người là Hà phiêu tử, tức là người trôi sông. Trong số những xác chết trôi sông ấy, không ít nạn nhân là do những kẻ thủ ác tàn bạo giết người cướp của nơi đường vắng rồi quẳng xác xuống dòng nước sâu nhằm mục đích hủy thi diệt tích để trốn tránh lưới pháp luật. Những oan hồn chết uổng, chết tức tưởi dưới đáy sông sâu nhiều đến mức không sao đếm xuể, âm khí tích tụ ngày một đậm đặc, tạo nên những câu chuyện ma da quỷ nước hoang đường làm kinh hồn bạt vía người qua lại.

Trước khi vương triều nhà Thanh hoàn toàn sụp đổ, để giữ gìn vệ sinh nguồn nước sinh hoạt cho cư dân nội thành và cứu vớt những sinh linh xấu số trôi dạt, quan phủ địa phương đã cho thành lập một đội ngũ chuyên nghiệp chuyên làm công việc mò xác dưới sông. Đội ngũ này chịu trách nhiệm lặn sâu xuống những khúc nước xoáy nguy hiểm để vớt những xác chết trôi sông đưa lên bờ mai táng. Đến thời kỳ Dân quốc sau này, đội vớt xác được sáp nhập vào hệ thống cảnh sát địa phương, nhận tên gọi chính thức là Đội cảnh sát trên năm sông, hay còn gọi là Đội tuần sông Ngũ Hà. Dưới con mắt của người dân thời bấy giờ, đồn cảnh sát cũng uy nghiêm và đáng sợ chẳng khác nào nha môn thời phong kiến, thế nhưng bản thân Đội cảnh sát trên năm sông lại mang tính chất tự phát từ trong lòng quần chúng lao động nghèo khổ. Những người tham gia vào đội ngũ này tuyệt đại đa số đều là những kiện tướng bơi lội trứ danh đất Thiên Tân, sinh ra bên mép nước, lớn lên cùng sóng gió, thân hình vạm vỡ dẻo dai và thông thuộc từng con nước, ngọn sóng, hõm bùn dưới đáy sâu.

Xác chết ngâm nước lâu ngày thường bị trương phình biến dạng, da thịt rữa nát bốc mùi hôi thối nồng nặc đến nghẹt thở, trôi dạt lềnh bềnh trên mặt nước gây ô nhiễm nặng nề cho nguồn nước sinh hoạt của toàn thành phố, người yếu bóng vía chỉ cần nhìn thoáng qua cũng đủ kinh hoàng bạt vía suốt nhiều ngày đêm. Bởi vậy, dân chúng trong thành ai có tiền thì tự nguyện bỏ tiền quyên góp, ai không có tiền thì góp công góp sức, chung tay mời những người đàn ông khỏe mạnh, thạo nghề bơi lặn đứng ra đảm đương công việc vớt xác trôi sông. Thế nhưng, nếu chỉ dựa vào mỗi ngón nghề bơi lội tài ba cùng sức khỏe hơn người thôi thì hoàn toàn chưa đủ để làm công việc khổ sai này. Người vớt xác bắt buộc phải sở hữu một lá gan lớn tày trời, tâm tính vững vàng không sợ hãi trước cảnh tượng ma quái ghê rợn, đồng thời phải am tường sâu sắc những quy tắc kiêng kỵ dân gian và phương pháp trấn tà khu quỷ của người xưa truyền lại, bằng không thì chẳng một ai có thể trụ vững được với nghề nghiệp rùng mình này quá vài ba tháng.

Người sư đệ Đinh Mão tuy tuổi đời còn khá trẻ nhưng tính tình lại sớm già dặn và tháo vát hơn người, từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ bơ vơ không nơi nương tựa, được vị sư phụ cả trong đội tuần sông cưu mang nuôi nấng và truyền dạy nghề sông nước. Đinh Mão xem Quách Đắc Hữu như người anh ruột thịt trong nhà, một lòng một dạ kính trọng và phò tá sư huynh trong mọi công việc nguy nan trắc trở. Bản tính Đinh Mão lanh lợi hoạt bát, mồm miệng đỡ chân tay, lại có tài quan sát tinh tường từng chi tiết nhỏ nhặt nhất trên hiện trường sông nước. Mỗi lần theo chân Quách sư phụ đi vớt xác hay phụ giúp việc tang lễ ở các gia đình quyền quý, Đinh Mão luôn là người nhanh chân chạy trước dọn đường, sắp xếp đồ nghề chu đáo và nắm bắt mọi tin tức phong thanh từ đầu đường cuối ngõ để báo lại cho sư huynh. Tình cảm huynh đệ keo sơn gắn bó giữa hai người phu tuần sông nghèo khó ấy đã được tôi luyện qua biết bao phen cùng sinh cùng tử giữa làn nước lạnh buốt của dòng sông Hải Hà, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho Quách Đắc Hữu trên con đường hành hiệp trừ tà đầy chông gai bão táp.

Nói về thuật xem tàn thuốc đoán oan tình của Đội tuần sông Ngũ Hà, người đời sau này khi nghe kể lại thường lầm tưởng đó chỉ là những lời thêu dệt hoang đường của đám người mê tín dị đoan thời phong kiến lạc hậu. Thế nhưng, nếu đi sâu vào phân tích ngọn ngành theo kinh nghiệm thực tiễn của người xưa, ngón nghề độc đáo này thực chất là sự kết hợp tài tình giữa trực giác nhạy bén, kinh nghiệm quan sát tử thi lâu năm và sự thấu hiểu quy luật tự nhiên của dòng nước. Thi thể của một người chết do ngạt nước thông thường khi chìm dưới sông sâu sẽ hít vào một lượng lớn nước bùn và bọt khí, khiến lồng ngực và khí quản bị ứ đọng dịch nhầy đặc thù; khi vớt lên cạn, thân nhiệt và độ ẩm trên bề mặt da thịt thoát ra theo một quy luật nhất định. Trái lại, nếu nạn nhân bị sát hại bằng đao kiếm, búa tạ hay siết cổ trước khi quẳng xuống nước, trong phổi không hề có nước bùn, tuần hoàn máu đã ngừng trệ từ trước khiến cho nhiệt độ và sự bốc hơi trên da hoàn toàn khác biệt. Người phu tuần sông lão luyện khi châm điếu thuốc lá mộc ngồi kề bên xác chết, chính là lợi dụng hướng bay của khói thuốc và sự ngưng tụ của tàn tro trên da thịt ẩm ướt để phát hiện sự chênh lệch luồng khí và nhiệt lượng ấy, từ đó đưa ra phán đoán chuẩn xác về nguyên nhân cái chết mà khoa học pháp y thô sơ thời bấy giờ chưa thể giải thích tường tận.

Theo phong tục tập quán lâu đời của người dân bản địa, những người chết đuối dưới sông được coi là chết bất đắc kỳ tử, thuộc về dạng chết yểu chứ không phải thuận theo lẽ tự nhiên tuổi già mà quy tiên. Linh hồn của những kẻ chết chìm thường mang nặng oán khí, bị trói buộc nơi dòng nước lạnh lẽo không thể siêu sinh, ngày ngày chịu đựng nỗi thống khổ giày vò và luôn tìm cách lôi kéo người sống xuống thế mạng để bản thân có cơ hội đi đầu thai chuyển kiếp. Bởi quan niệm mê tín ăn sâu vào tiềm thức ấy, phàm là xác chết trôi vớt từ dưới sông lên đều tuyệt đối không được phép chôn cất ngay lập tức xuống đất bùn. Người ta phải dùng chiếu rách bó kín thi thể, buộc chặt hai đầu bằng dây thừng rồi khiêng về đặt tại nghĩa trang riêng của đội tuần sông trong vài ngày để chờ thân nhân đến nhận diện tung tích. Trách nhiệm túc trực trông coi những xác chết thối rữa này suốt đêm thâu cho đến lúc đưa đi hỏa thiêu hoặc mang ra nghĩa địa an táng từ đầu chí cuối đều dồn hết lên vai những người phu tuần sông nghèo khó.

Nghĩa trang mà đội tuần sông Ngũ Hà sử dụng nằm ngay phía sau ngôi miếu Hà Long cổ kính ở bên ngoài cửa Tây thành phố, một nơi hoang vắng tiêu điều ít dấu chân người qua lại. Ngôi miếu này thờ phụng bức tượng đất nung tráng lệ của Quảng Tế Long Vương gia, vị thần sông nước được dân gian tôn xưng là ông Long Ngũ, chuyên cai quản nguồn nước các con sông lớn. Tại chốn thâm u quạnh quẽ ấy, người phu tuần sông vừa phải chịu đựng mùi xú uế tanh tưởi xộc thẳng vào mũi, vừa phải đối mặt với những hiện tượng dị thường kỳ ảo giữa đêm thanh vắng. Người xưa kể lại rằng ngôi miếu này được dựng trên miệng một cái giếng cổ sập, nơi Long Ngũ Gia từng dùng dây thừng thần khóa chặt yêu quái Hạn Ma cứu vớt bá tánh khỏi cơn đại hạn trăm năm. Nếu trong người không có sẵn một bầu nhiệt huyết trượng nghĩa, không có tâm niệm làm việc thiện tích đức cho đời sau và không thông hiểu những phép tắc trấn an vong hồn, thì dù có trả bao nhiêu tiền bạc bổng lộc cũng chẳng ai dám một mình ngồi cạnh những cỗ thi hài đẫm nước giữa đêm khuya thanh vắng như thế.

Bên cạnh ngón nghề xem tàn thuốc đoán oan, trong dân gian Thiên Tân Vệ từ thời nhà Thanh còn lưu truyền một truyền thuyết thần bí về mười hai bảo vật trấn sông do quan phủ đúc từ sắt nguyên chất để chế ngự thủy quái. Người xưa tin rằng loài giao long và thủy quái dưới lòng sông sâu vốn mang bản tính âm hàn thuộc mộc, cực kỳ khiếp sợ uy lực cương mãnh của kim loại sắt đúc dưới ngọn lửa thiêng của lò rèn. Bởi thế, vào những năm xảy ra nạn hồng thủy dữ dội, triều đình đã hạ lệnh cho các bậc danh sư đúc nên chín con trâu sắt, hai con hổ sắt và một con gà sắt khổng lồ, đem chôn sâu dưới những mắt sông xung yếu hoặc thả xuống những khúc sông ngầm hiểm trở để trấn áp thủy tai. Những bảo vật trấn sông ấy qua bao biến thiên dâu bể của lịch sử đã dần dần chìm sâu dưới lớp phù sa dày cộp của dòng Hải Hà, trở thành những câu chuyện truyền kỳ nửa thực nửa hư trong ký ức của lớp người già. Quách Đắc Hữu thuở thiếu thời từng nghe vị sư phụ cả nhắc đến những linh vật trấn thủy ấy với lòng tôn kính khôn cùng, nhưng chưa từng dám nghĩ rằng có một ngày chính bàn tay mình sẽ chạm vào một trong những bảo vật ngàn cân ấy dưới đáy nước ngã ba sông sâu thẳm.

Trước khi cơn bão tố định mệnh của vụ án ngã ba sông chính thức bùng nổ, cuộc sống của Quách Đắc Hữu tại gian miếu Hà Long ngoài cửa Tây vẫn trôi qua trong sự bình lặng đạm bạc của một người phu tuần sông an phận thủ thường. Mỗi buổi chiều tà khi ánh hoàng hôn đỏ quạch buông xuống mặt sông Hải Hà mờ mịt khói sương, ông lại trở về gian tiền điện nhỏ bé, thắp lên ngọn đèn dầu lạc leo lét để tiếp tục công việc dán giấy làm vàng mã. Những con ngựa giấy trắng muốt dũng mãnh, những chiếc xe ngựa chở đầy tiền vàng và những ngôi nhà lầu bằng giấy hoa văn tinh xảo dưới bàn tay khéo léo của ông dần dần thành hình, tựa như mang theo linh hồn và tâm nguyện của người sống gửi gắm cho cõi âm ti sâu thẳm. Bên cạnh bàn làm việc, bức tượng búp bê đất nung anh cả vẫn lặng lẽ mỉm cười nhìn người em trai cần mẫn, như một điểm tựa vô hình chở che cho người đàn ông nghèo khó vượt qua muôn vàn nỗi cô đơn và ám ảnh ghê rợn của nghề vớt xác trôi sông suốt bao năm tháng cuộc đời.

Khi nhắc đến những câu chuyện truyền kỳ về Đội cảnh sát trên năm sông của thành Thiên Tân, người đời từ già đến trẻ không ai là không biết đến danh hiệu lẫy lừng của một nhân vật có thật mang màu sắc huyền thoại. Đó chính là người đàn ông mang họ Quách tên đầy đủ là Quách Đắc Hữu, người con thứ hai trong một gia đình lao động nghèo khó nên thường được bạn bè láng giềng gọi bằng cái tên thân mật là Quách Nhị Gia. Quách Đắc Hữu sinh ra và lớn lên ngay bên bờ dòng sông Hải Hà cuồn cuộn sóng gió, từ thuở ấu thơ đã theo cha mẹ lênh đênh trên những chiếc thuyền nan mưu sinh qua ngày, lấy nước sông làm bạn, lấy sóng gió làm cơm. Thủy tính của Quách Nhị Gia đạt đến trình độ xuất thần nhập hóa hiếm thấy trên đời, thân hình ngâm dưới nước sâu hàng giờ liền mà không hề hụt hơi, hai mắt mở to nhìn thấu đáy bùn đen kịt, lặn ngụp uyển chuyển tựa như loài rái cá bơi lội giữa dòng nước xiết.

Có những năm mùa đông giá rét cắt da cắt thịt, gió bấc gầm thét từ phương Bắc tràn về khiến toàn bộ mặt sông Hải Hà đóng thành một lớp băng dày cộp cứng như đá tảng, thuyền bè đi lại đều phải ngừng trệ. Thế nhưng, chỉ cần nghe báo có người không may sẩy chân trượt ngã qua kẽ nứt của băng rơi xuống đáy nước sâu, Quách Đắc Hữu vẫn sẵn sàng cầm xà beng sắt đục một lỗ băng rộng chừng vài thước, rồi cởi trần nhảy thẳng xuống làn nước buốt giá thấu tận tâm can để mò tìm nạn nhân. Kinh nghiệm sông nước của ông phong phú lạ thường, chỉ cần đứng trên bờ nhìn sắc nước chảy, ngửi mùi gió thoảng qua mặt sông hay xem xét hướng gió đổi chiều là ông đã có thể đoán biết chính xác xác chết trôi đang dạt về khúc quanh nào, vướng vào bãi cọc nào hay chìm sâu dưới đáy hố bùn nào. Suốt mấy chục năm gắn bó với nghề vớt xác trên năm sông, Quách Đắc Hữu đã cứu sống hàng trăm người thoát khỏi lưỡi hái tử thần của thủy quái, đồng thời tự tay vớt lên bờ vô số thi hài trôi dạt, giúp cho biết bao gia đình tìm lại được nắm xương tàn của người thân xấu số.

Mặc dù sở hữu bản lĩnh kinh người và kinh nghiệm sông nước dồi dào đến bậc thầy, thế nhưng trong cuộc sống đời thường, Quách Đắc Hữu chỉ là một viên chức nhỏ nhoi của Đội cảnh sát năm sông, ngày ngày nhận lấy những đồng lương còm cõi không đủ nuôi thân. Cuộc sống của những người phu tuần sông thời bấy giờ vô cùng bấp bênh và thiếu thốn, xã hội hỗn loạn khiến đồng tiền mất giá từng ngày, bổng lộc phát ra chẳng thấm tháp vào đâu so với nỗi cực nhọc và hiểm nguy phải đối mặt. Để kiếm thêm miếng cơm manh áo trang trải cuộc sống và giúp đỡ những mảnh đời cơ nhỡ quanh mình, Quách sư phụ đã theo học nghề làm đồ vàng mã từ vị sư phụ cả trong đội tuần sông năm xưa. Tay nghề dán giấy phết hồ của ông khéo léo và tinh xảo đến mức kỳ lạ, những hình nhân bằng giấy, những con ngựa giấy hay nhà cửa bằng giấy do ông tự tay cắt dán trông sống động y như thật, ánh mắt có thần, đường nét tỉ mỉ, khiến ai nhìn thấy cũng phải trầm trồ thán phục.

Sau khi vị sư phụ già qua đời, Quách sư phụ một mình nương thân trong ngôi miếu Hà Long đổ nát ngoài cửa Tây. Gian tiền điện phía trước được ông ngăn ra làm nơi dán đồ vàng mã kiếm sống qua ngày, còn gian hậu điện u ám phía sau chính là nơi quàn xác của những người chết đuối vô danh. Bản tính ông vốn nhân hậu, khảng khái, trọng nghĩa khinh tài, mỗi khi trong xóm ngõ có gia đình nghèo túng gặp tang ma hiếu hỉ, ông đều sẵn lòng chạy vầy giúp đỡ làm hàng mã, rải tiền âm phủ dẫn đường mà chẳng hề đòi hỏi một đồng tiền công. Trong gian phòng nhỏ đơn sơ của ông tại miếu Hà Long, trên bàn ăn bao giờ cũng đặt thêm một đôi đũa và một chiếc bát nhỏ dành riêng cho một vị anh cả kỳ lạ. Đó không phải là một con người bằng xương bằng thịt, mà là một con búp bê đất nung nhỏ bé được cha mẹ ông rước từ bàn thờ Thiên Hậu Nương Nương về nuôi như con cả trong nhà từ trước khi sinh ra ông. Quách Đắc Hữu từ nhỏ đã coi con búp bê đất nung ấy như người anh ruột thịt của mình, đi đâu về cũng cất tiếng chào hỏi, có món gì ngon cũng mời anh cả dùng trước, tâm sự mọi nỗi vui buồn trắc trở trong cuộc đời lao động nghèo khó.

Trong suốt những năm tháng làm bạn với xác chết trôi sông và đối mặt với muôn vàn cảnh tượng kỳ dị, Quách Đắc Hữu đã từng chứng kiến và tham gia phá giải không biết bao nhiêu vụ án hóc búa, ly kỳ mà người bình thường chỉ nghe kể lại thôi cũng đủ dựng tóc gáy. Đội tuần sông Ngũ Hà qua bao đời tích lũy đã đúc kết được những ngón nghề độc nhất vô nhị để nhận biết chân tướng cái chết của người trôi sông. Trong số những tuyệt kỹ gia truyền bí mật ấy, đáng nể nhất chính là thuật nhìn tàn thuốc đoán định oan tình. Mỗi khi trục vớt được một thi thể phù nề từ dưới đáy sâu lên bờ cỏ, người đội trưởng tuần sông chỉ cần ngồi xổm bên cạnh thi thể, châm một điếu thuốc lá mộc rồi lặng lẽ rít từng hơi dài. Người ngoài nhìn vào cứ ngỡ ông phu tuần sông đang hút thuốc giải tỏa cơn mệt nhọc hôi thối, nhưng kỳ thực ông đang chăm chú quan sát làn khói thuốc bay lượn và cách thức tàn tro rơi rụng trên thân thể người chết.

Khói thuốc bay thẳng hay tản mát, tàn tro bám chặt hay trôi tuột theo gió đều phản ánh mức độ âm khí và oán hận tích tụ trong lồng ngực người đã khuất. Nếu là người không may sẩy chân ngạt nước đột tử, hơi thở thuận theo tự nhiên thì tàn tro rơi xuống sẽ tản mác bay đi; còn nếu là nạn nhân bị kẻ gian sát hại oan ức rồi ném xác phi tang, oán khí ngút trời sẽ níu giữ làn khói và tàn tro bám chặt lấy da thịt không chịu rời ra. Nhờ vào ngón nghề thần diệu kết hợp với cặp mắt sắc sảo tường tận từng vết thương tụ máu chìm sâu dưới da thịt ngâm nước, Quách Đắc Hữu đã nhiều lần hỗ trợ cơ quan điều tra vạch trần những vụ án mạng giết người giấu xác tinh vi, minh oan cho những linh hồn bất hạnh chìm sâu dưới đáy bùn lầy. Người dân thành Thiên Tân vốn có thói quen yêu thích những câu chuyện nghĩa hiệp truyền kỳ, thấy Quách sư phụ phá án như thần, cứu người như nước, liền đua nhau truyền tai nhau, tặng cho ông cái danh xưng cao quý đầy vẻ tôn kính là Hà Thần.

Cái tên Hà Thần Quách Đắc Hữu nhanh chóng lan truyền khắp các hang cùng ngõ hẻm của thành Thiên Tân Vệ, từ những bến tàu tấp nập thuyền bè, những khu chợ sầm uất đầu đường cuối ngõ cho đến các trang báo chí và đài phát thanh địa phương. Người ta nhắc đến ông với sự sùng kính vô bờ bến, coi ông như một vị thần hộ mệnh sông nước hiển linh giữa cõi trần gian đầy giông bão. Thế nhưng, trái ngược hoàn toàn với sự hân hoan tự hào của những kẻ háo danh thông thường, mỗi lần nghe thấy ai đó gọi mình bằng hai tiếng Hà Thần, toàn thân Quách Đắc Hữu lại bất giác toát mồ hôi lạnh ngắt, trong lòng dấy lên một nỗi bất an kinh hoàng khó tả. Ông nhớ lại như in buổi chiều tà năm ấy, khi người thầy cả dẫn dắt đội tuần sông lâm bệnh nặng nằm trên giường bệnh trước lúc trút hơi thở cuối cùng.

Người thầy cả thuở ấy đã nắm chặt lấy đôi bàn tay thô ráp của Quách Đắc Hữu, đôi mắt già nua đùng đục nhìn xoáy vào tâm can học trò, run rẩy cất lên lời trăn trối nghiêm khắc đến lạnh người. Thầy bảo rằng con người sinh ra nơi cõi trần gian, ăn ngũ cốc hoa màu, thân xác bằng xương bằng thịt, dù có bơi lặn giỏi giang hay có chút tài vặt hơn người thì chung quy vẫn chỉ là một kẻ phàm phu tục tử mang phận số mỏng manh. Danh xưng Thần và Thánh từ ngàn xưa chỉ dành cho những bậc đại đức đại tài, có công cứu nhân độ thế hoặc bảo vệ sơn hà xã tắc, phúc phận sâu dày ngút ngàn mới gánh vác nổi. Người phàm mang mệnh nghèo khổ mà nhận lấy danh hiệu Hà Thần của trời đất sông núi thì phúc đức bao đời cũng sẽ bị bào mòn cạn kiệt, phạm vào điều đại kỵ phong thủy của thần linh, chẳng những tự làm giảm thọ bản thân mà sớm muộn gì cũng chuốc lấy kiếp nạn đẫm máu sát thân, chết không có chỗ chôn thây. Lời dặn dò gan ruột ấy của ân sư cả đời Quách Đắc Hữu chưa từng dám quên nửa lời, mỗi lần gặp gỡ người quen ông đều xua tay lia lịa khuyên can mọi người chớ gọi mình như thế, nhưng miệng lưỡi thế gian truyền tụng như sóng cuộn, sức một người làm sao ngăn nổi búa rìu dư luận.

Mùa hè năm ấy, khí trời thành Thiên Tân bỗng nhiên trở nên oi bức đến ngột ngạt bất thường, cả bầu trời xám xịt bao phủ bởi những đám mây đen nặng trĩu hơi nước nhưng tuyệt nhiên không có lấy một giọt mưa rơi xuống làm mát lòng người. Mặt trời như nung như nấu trút hơi nóng hầm hập xuống từng con phố lát đá xám, khiến cho con người ta thở không ra hơi, toàn thân nhớp nhúa mồ hôi khó chịu vô cùng. Giữa cảnh thời tiết khắc nghiệt như lò lửa ấy, dân chúng đổ xô ra các bờ sông để hóng mát và tắm rửa, khiến cho các khúc sông càng thêm nhộn nhịp nhưng cũng tiềm ẩn muôn vàn mối hiểm nguy rình rập. Đúng vào thời điểm nóng nực ấy, tại khúc sông nước sâu dưới chân đập cầu ngã ba sông phụ cận bắt đầu rộ lên những lời đồn đại rùng rợn khiến lòng người hoang mang khiếp đảm.

Đập cầu ngã ba sông vốn là nơi giao thoa của dòng nước chảy xiết và hiểm trở bậc nhất thành phố, bên cạnh đập nước là cây cầu lớn bằng đá được xây dựng từ cuối thời Mãn Thanh cho xe ngựa và người qua lại tấp nập. Thế nhưng, khi đêm buông xuống, khúc sông này lại biến thành một vùng nước đen ngòm thăm thẳm như miệng vực không đáy. Nhiều người đi đường đêm khuya đã thề thốt rằng họ từng nhìn thấy một đôi mắt quái dị to như hai ngọn đèn bão đỏ rực lấp lánh dưới làn nước sâu chân cầu, thoắt ẩn thoắt hiện tựa như một con thủy quái khổng lồ đang rình rập con mồi. Lại có lời đồn đại nhắc lại vụ mất tích bí ẩn của một cô gái trẻ tuổi gieo mình tự vẫn dưới chân đập cầu từ mấy năm về trước mà đội tuần sông lặn lội tìm kiếm mãi vẫn chưa thấy xác. Người ta bảo rằng hồn ma cô gái ấy đã hóa thành ma da ngậm hờn dưới đáy sông, kết hợp cùng loài thủy quái lông lá để kéo người thế thân, khiến cho những người thạo bơi lặn nhất cũng chẳng dám bén mảng bơi qua khúc sông tử thần này lúc đêm hôm khuya khoắt.

Thế nhưng, giữa chốn giang hồ sông nước Thiên Tân Vệ, nơi nào có hiểm nguy thì nơi đó lại có những kẻ liều mạng bất chấp tính mạng để mưu cầu tư lợi. Ở phía tây thành phố có một gã thủy tặc chuyên nghề trộm cắp tên gọi là Ngư Tứ Nhi. Gã này vốn không họ không tên, bản lĩnh bơi lặn chẳng được bao nhiêu nhưng lòng tham thì lại lớn vô cùng, tính tình ngang tàng hung bạo và chẳng biết kiêng sợ quỷ thần là gì. Ngư Tứ Nhi có một ngón nghề độc địa chuyên dụng để đánh bắt cá trộm trên sông, dân gian gọi là dệt lưới tuyệt hậu. Tấm lưới này đan bằng những mắt lưới nhỏ li ti cá con cũng không lọt qua được, lại được cắm cọc trúc giăng kín giữa lòng sông sâu tạo thành một mê hồn trận tầng tầng lớp lớp, cá tôm bơi vào là vĩnh viễn không có đường thoát thân.

Đêm hôm ấy, bầu trời tối tăm mù mịt không trăng không sao, gió sông thổi lồng lộng mang theo hơi ẩm nồng nặc báo hiệu một trận dông bão kinh hoàng sắp sửa ập xuống thành phố. Ngư Tứ Nhi mang theo tấm lưới tuyệt hậu cùng chiếc đèn bão cũ kỹ rón rén mò ra bờ sông dưới chân đập cầu ngã ba sông, âm thầm thả lưới xuống đáy nước sâu thăm thẳm mà chẳng hề hay biết rằng bàn tay tham lam của gã sắp sửa khuấy động một bí mật kinh thiên động địa đã bị vùi lấp suốt nhiều năm dưới đáy bùn sâu. Chuỗi kỳ án kinh hoàng mang tên Thủy quái dưới cầu chính thức mở màn từ đây, kéo theo bước chân của Hà Thần Quách Đắc Hữu bước vào vòng xoáy định mệnh đẫm máu của chốn sông nước cõi nhân gian. Một xác chết trẻ thơ phủ rong rêu ngỡ khỉ nước, một cỗ thi thể phụ nữ mang thai bị trói gông vào khối hổ sắt trấn thủy ngàn cân, và những mưu mô hiểm độc của tà giáo Ma Cổ Đạo chuẩn bị từng bước hiện nguyên hình dưới ánh sáng công lý và lòng dũng cảm phi thường của người phu tuần sông đất Vệ.
Trước Sau

Bình Luận Độc Giả

0 bình luận

Vui lòng đăng nhập để chia sẻ cảm nghĩ và tham gia thảo luận cùng cộng đồng độc giả.

Chưa có bình luận nào cho bộ truyện này.

Hãy là người đầu tiên để lại cảm nghĩ của bạn!

Truyện Cùng Thể Loại Đề Xuất
Nụ Hôn Của Phù Châu Tiên Hiệp HOT 7

Nụ Hôn Của Phù Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Vạn Cổ Đan Đế Tiên Hiệp HOT 38

Vạn Cổ Đan Đế

Vô Thượng Cửu Thiên 15 ch.
Phong Thần Châu Tiên Hiệp HOT 18

Phong Thần Châu

Vô Thượng Cửu Thiên 9 ch.
Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta Tiên Hiệp 6

Tiên Đan Cho Ngươi Độc Dược Phần Ta

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.
Xuyên Thành Phản Diện: Tác Giả Đoạt Hết Cơ Duyên Tiên Hiệp 4

Xuyên Thành Phản Diện: Tác Giả Đoạt Hết Cơ Duyên

Vô Thượng Cửu Thiên 3 ch.
Hồn Hoang Xác Ảo Khoa Huyễn 4

Hồn Hoang Xác Ảo

Vô Thượng Cửu Thiên 2 ch.